Phát triển khoa học, công nghệ trở thành động lực nội sinh của mô hình phát triển Quảng Ninh trong giai đoạn mới

ThS. Trần Thị Thu Trang 18/12/2025 17:02

Trong bối cảnh toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và công nghệ số, khoa học, công nghệ (KHCN) không còn là lĩnh vực phụ trợ mà đã trở thành động lực nội sinh cốt lõi của tăng trưởng kinh tế hiện đại. Sự thay đổi này không chỉ diễn ra ở cấp độ quốc gia mà còn thể hiện rõ nét ở cấp độ địa phương nơi các tỉnh, thành phố đang từng bước cấu trúc lại mô hình phát triển, chuyển từ khai thác tài nguyên sang khai thác tri thức, từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu. Trong tiến trình đó, KHCN đóng vai trò như một “hệ điều hành” mới cho nền kinh tế địa phương, tạo ra năng lực cạnh tranh bền vững, khả năng thích ứng cao và không gian phát triển mở rộng.

Vai trò của khoa học, công nghệ trong cấu trúc lại kinh tế địa phương tạo động lực phát triển bền vững

Trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh do Paul Romer khởi xướng, tri thức và đổi mới sáng tạo được xem là yếu tố cốt lõi quyết định tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế. Khác với các mô hình tăng trưởng cổ điển vốn dựa vào vốn và lao động như những yếu tố bên ngoài, Romer nhấn mạnh rằng chính sự tích lũy tri thức, năng lực sáng tạo và khả năng ứng dụng công nghệ mới là nguồn lực nội tại tạo ra hiệu quả vượt trội, gia tăng năng suất và duy trì tăng trưởng bền vững. Tri thức không bị khấu hao như vốn vật chất và khi được lan tỏa, nó tạo ra hiệu ứng cộng hưởng trong toàn bộ hệ thống kinh tế.

Từ góc nhìn lý luận kinh tế phát triển, động lực nội sinh được hiểu là những yếu tố bên trong nền kinh tế, bao gồm thể chế, con người, tri thức, công nghệ và văn hóa có khả năng tự tạo ra giá trị, duy trì sự phát triển độc lập và giảm thiểu phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài. Đây là nền tảng để một quốc gia hay địa phương có thể phát triển bền vững, chủ động thích ứng với biến động toàn cầu và duy trì bản sắc riêng trong quá trình hội nhập. Động lực nội sinh không chỉ là điều kiện cần mà còn là điều kiện đủ để bảo đảm sự ổn định và khả năng tự cường của một nền kinh tế.

Trong khi đó, động lực ngoại sinh, như đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), viện trợ quốc tế, hay khai thác tài nguyên thiên nhiên thường mang tính ngắn hạn, dễ gây phụ thuộc và tiềm ẩn rủi ro về môi trường, thể chế và chủ quyền phát triển. FDI có thể mang lại vốn, công nghệ và thị trường, nhưng nếu không có năng lực nội tại để hấp thụ và làm chủ, nền kinh tế sẽ rơi vào trạng thái “gia công hóa”, thiếu khả năng sáng tạo và dễ bị tổn thương khi dòng vốn đảo chiều. Viện trợ quốc tế dù có ý nghĩa hỗ trợ, nhưng không thể thay thế cho năng lực tự chủ. Khai thác tài nguyên, nếu không gắn với công nghệ hiện đại và quản trị hiệu quả sẽ dẫn đến cạn kiệt nguồn lực, ô nhiễm môi trường và xung đột xã hội.

Chính vì vậy, việc chuyển dịch từ mô hình phát triển dựa vào động lực ngoại sinh sang mô hình phát triển dựa trên động lực nội sinh là xu thế tất yếu, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển xanh. Trong quá trình đó, KHCN đóng vai trò quan trọng giúp cấu trúc lại phương thức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, cải thiện hiệu quả quản lý và tạo ra lợi thế cạnh tranh mới cho vùng, địa phương và quốc gia.

Thứ nhất, KHCN giúp thay đổi căn bản phương thức sản xuất.

Từ mô hình khai khoáng, thâm dụng lao động và tài nguyên, nền kinh tế có thể chuyển sang mô hình sản xuất dựa trên công nghệ cao, tự động hóa, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, mà còn giảm thiểu tác động môi trường, tăng giá trị gia tăng và mở rộng không gian phát triển. Ví dụ, ngành than vốn là ngành truyền thống của tỉnh Quảng Ninh đang từng bước ứng dụng công nghệ khai thác hiện đại, giảm phát thải, tăng độ an toàn và hiệu quả kinh tế.

Thứ hai, KHCN nâng cao năng suất lao động và hiệu quả quản trị.

Thông qua số hóa quy trình, tự động hóa vận hành, phân tích dữ liệu và ra quyết định dựa trên trí tuệ nhân tạo, các địa phương có thể tối ưu hóa nguồn lực, giảm chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Chính quyền điện tử, đô thị thông minh, du lịch số, logistics số…, là những minh chứng rõ nét cho việc KHCN đang tái định hình cách thức quản lý và vận hành nền kinh tế địa phương.

Thứ ba, KHCN tạo ra lợi thế cạnh tranh mới cho vùng và quốc gia.

Trong nền kinh tế tri thức, lợi thế không còn nằm ở tài nguyên thiên nhiên hay chi phí lao động thấp mà nằm ở năng lực sáng tạo, khả năng làm chủ công nghệ và tốc độ đổi mới. Những địa phương có hệ sinh thái KHCN phát triển bao gồm hạ tầng số, trung tâm đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, nhân lực chất lượng cao và thể chế hỗ trợ sẽ có khả năng thu hút đầu tư chất lượng, phát triển ngành công nghiệp mới và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định KHCN không chỉ là công cụ hỗ trợ phát triển mà là động lực nội sinh cốt lõi giúp cấu trúc lại mô hình phát triển địa phương theo hướng bền vững, tự chủ và hội nhập. Việc xác lập KHCN như một trụ cột chiến lược cần được thể hiện rõ trong quy hoạch, chính sách và hành động cụ thể từ đầu tư hạ tầng, phát triển nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp đến đổi mới thể chế quản trị. Đây là con đường tất yếu để các địa phương như tỉnh Quảng Ninh chuyển mình mạnh mẽ, vượt qua giới hạn truyền thống và vươn lên trở thành trung tâm phát triển mới trong kỷ nguyên số.

Tiềm năng khoa học, công nghệ trong mô hình phát triển tỉnh Quảng Ninh

Tỉnh Quảng Ninh là một trong những địa phương đi đầu cả nước trong việc xác lập KHCN và chuyển đổi số như một trụ cột chiến lược trong mô hình phát triển kinh tế - xã hội. Từ một tỉnh công nghiệp khai thác tài nguyên, Quảng Ninh từng bước cấu trúc lại mô hình tăng trưởng theo hướng tri thức hóa, số hóa và đổi mới sáng tạo. Tiềm năng KHCN của tỉnh không chỉ thể hiện ở tầm nhìn chính sách, mà còn được cụ thể hóa bằng hạ tầng số, thể chế quản trị hiện đại, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và năng lực triển khai thực tế.

Hạ tầng số và chính quyền điện tử: Nền tảng cho phát triển bền vững

Ngay từ năm 2022, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU về chuyển đổi số toàn diện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Nghị quyết xác lập 20 mục tiêu cụ thể và 40 nhiệm vụ trọng tâm, trong đó KHCN và chuyển đổi số được xem là động lực tạo đột phá phát triển[1].

Tính đến giữa năm 2025, Quảng Ninh đã hoàn thành 16/20 mục tiêu đề ra, đạt tỷ lệ 80%, và giữ vững vị trí thứ 3/63 tỉnh, thành phố về chỉ số chuyển đổi số toàn quốc. Đặc biệt, tỉnh đứng đầu cả nước về cung cấp dịch vụ công trực tuyến và chính quyền điện tử. 100% hộ gia đình được phủ sóng Internet băng rộng, toàn bộ hồ sơ công việc được số hóa, cho phép cán bộ công chức xử lý và trao đổi thông tin mọi lúc, mọi nơi[2].

Hạ tầng số không chỉ phục vụ quản lý hành chính, mà còn là nền tảng để phát triển các lĩnh vực kinh tế số, du lịch thông minh, logistics số và đô thị thông minh. Việc kết nối dữ liệu giữa các sở, ngành và hệ thống quốc gia giúp nâng cao hiệu quả điều hành, giảm chi phí xã hội và tăng tính minh bạch.

Cấu trúc lại ngành than gắn với công nghệ hiện đại

Là địa phương có trữ lượng than lớn nhất cả nước, tỉnh Quảng Ninh từng phụ thuộc nặng nề vào khai thác tài nguyên. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tỉnh đã chủ động cấu trúc lại ngành than theo hướng hiện đại hóa, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả khai thác.

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng vào các công nghệ khai thác hầm lò hiện đại, hệ thống giám sát tự động, xử lý khí thải và quản lý môi trường. Theo báo cáo của TKV, năng suất lao động trong khai thác than hầm lò đã tăng 15% trong giai đoạn 2020 - 2024, trong khi lượng phát thải bụi và khí độc giảm hơn 30%.

Việc ứng dụng công nghệ không chỉ giúp ngành than duy trì sản lượng ổn định, mà còn giảm thiểu tác động môi trường, nâng cao hình ảnh ngành công nghiệp truyền thống và tạo điều kiện cho phát triển bền vững.

Đột phá trong du lịch thông minh, logistics và đô thị số

Quảng Ninh là địa phương có tiềm năng du lịch lớn với di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, hệ thống đảo, rừng và văn hóa đặc sắc. Việc ứng dụng công nghệ số vào quản lý và quảng bá du lịch đã tạo ra bước đột phá trong cách tiếp cận thị trường.

Tỉnh đã triển khai hệ thống bản đồ số du lịch, cổng thông tin du lịch thông minh, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích hành vi du khách và quản lý điểm đến. Theo Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh, lượng khách quốc tế đến tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2025 tăng 18% so với cùng kỳ, trong đó hơn 60% sử dụng các nền tảng số để tra cứu và đặt dịch vụ.

Trong lĩnh vực logistics, tỉnh Quảng Ninh đang hình thành các trung tâm logistics thông minh tại khu vực Cái Lân, Đông Mai, Sông Khoai…, với hệ thống kho bãi tự động, quản lý vận tải bằng dữ liệu lớn và tích hợp với cảng biển, sân bay. Đây là nền tảng để tỉnh tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

 Đô thị thông minh cũng là một điểm sáng của tỉnh. Thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả và thị xã Quảng Yên đã triển khai hệ thống giám sát giao thông, chiếu sáng thông minh, quản lý rác thải bằng cảm biến và ứng dụng công nghệ số trong quy hoạch đô thị. Những mô hình này không chỉ nâng cao chất lượng sống, mà còn tạo ra hình ảnh hiện đại, thân thiện và đáng sống cho các đô thị ven biển.

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và công nghiệp công nghệ cao

Tỉnh Quảng Ninh đang từng bước xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cấp vùng, với các trung tâm nghiên cứu, khu công nghiệp công nghệ cao và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp KHCN. Các khu công nghiệp, như Sông Khoai, Đông Mai, Việt Hưng,… được quy hoạch để thu hút các ngành công nghệ cao, như điện tử, tự động hóa, vật liệu mới và năng lượng sạch.

Tỉnh cũng triển khai các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, kết nối doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học để thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Theo Sở KHCN tỉnh Quảng Ninh, đến năm 2025, tỉnh có hơn 120 doanh nghiệp KHCN, tăng gấp đôi so với năm 2020.

Việc hình thành hệ sinh thái KHCN không chỉ tạo ra môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, mà còn giúp tỉnh thu hút nhân lực chất lượng cao, tăng năng lực cạnh tranh và tạo ra giá trị gia tăng từ tri thức.

Định hướng và giải pháp

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ khai thác tài nguyên sang phát triển dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và công nghệ số, việc xác lập KHCN như một động lực nội sinh không chỉ là yêu cầu tất yếu, mà còn là chiến lược phát triển dài hạn mang tính nền tảng. Tỉnh Quảng Ninh với tiềm năng và thực tiễn triển khai mạnh mẽ, cần tiếp tục cụ thể hóa định hướng này thông qua các giải pháp đồng bộ, khả thi và có tính lan tỏa cao.

Định hướng chiến lược

Một là, xác định KHCN là nền tảng xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045. Định hướng này cần được thể hiện rõ trong các văn kiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch tỉnh và các chương trình hành động cụ thể. KHCN không chỉ là một lĩnh vực chuyên môn, mà phải được tích hợp vào mọi ngành, mọi cấp, từ công nghiệp, dịch vụ đến quản lý nhà nước. 

Tỉnh Quảng Ninh cần xây dựng “Chiến lược phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Ninh đến 2030, tầm nhìn 2045” như một văn kiện nền tảng, xác định rõ mục tiêu, trụ cột, lĩnh vực ưu tiên và cơ chế triển khai. Chiến lược này cần gắn với các mục tiêu quốc gia, như Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, chuyển đổi số, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

Hai là, chuyển từ “khai thác tài nguyên” sang “khai thác tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo”. Đây là bước chuyển đổi mô hình phát triển mang tính căn bản. Tỉnh cần xác lập rõ nguyên tắc: tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn, tri thức là vô hạn; khai thác tài nguyên tạo giá trị ngắn hạn, khai thác tri thức tạo giá trị dài hạn. Việc này đòi hỏi thay đổi tư duy quản lý, cơ cấu đầu tư và cách tiếp cận chính sách. 

Quảng Ninh cần ưu tiên đầu tư vào các ngành công nghệ cao, công nghiệp sạch, dịch vụ số, logistics thông minh, du lịch thông minh…, thay vì tiếp tục mở rộng khai thác tài nguyên. Đồng thời, cần có cơ chế chuyển đổi ngành nghề, hỗ trợ doanh nghiệp truyền thống nâng cấp công nghệ và tái cấu trúc mô hình kinh doanh.

Giải pháp trọng tâm

Một là, phát triển hạ tầng và hệ sinh thái KHCN. Hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu mở, kết nối chính quyền - doanh nghiệp - người dân. Tỉnh Quảng Ninh cần tiếp tục đầu tư vào hạ tầng số, đặc biệt là mạng băng rộng tốc độ cao, trung tâm dữ liệu, nền tảng điện toán đám mây và hệ thống bảo mật. Việc xây dựng kho dữ liệu mở dùng chung giữa các sở, ngành sẽ giúp tăng hiệu quả quản lý, hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu và thúc đẩy sáng tạo. 

Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, tỉnh Quảng Ninh hiện đứng đầu cả nước về tỷ lệ cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, đạt 100% vào năm 2024. Đây là nền tảng để mở rộng sang các lĩnh vực kinh tế số và quản trị thông minh.

Trong việc xây dựng khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo cấp vùng, tỉnh cần quy hoạch và đầu tư xây dựng ít nhất một khu công nghệ cao đạt chuẩn quốc gia, có khả năng thu hút các doanh nghiệp công nghệ lớn, viện nghiên cứu và trường đại học. Khu công nghiệp Sông Khoai và Đông Mai có thể được nâng cấp theo hướng này, với cơ chế ưu đãi đặc biệt về đất đai, thuế và hạ tầng. Đồng thời, cần thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Ninh, kết nối với mạng lưới đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), có chức năng ươm tạo startup, hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.

Hai là, thúc đẩy doanh nghiệp KHCN và đổi mới sáng tạo. Khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, hỗ trợ startup sáng tạo. Tỉnh cần ban hành chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ với các chính sách ưu đãi về tài chính, thuế, tiếp cận tín dụng và tư vấn kỹ thuật. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được hỗ trợ tiếp cận công nghệ mới, chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị. Đồng thời, cần xây dựng Quỹ hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp tỉnh với cơ chế đồng tài trợ, bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ kỹ thuật. Theo thống kê của Sở KHCN tỉnh Quảng Ninh, đến năm 2025, tỉnh có hơn 120 doanh nghiệp KHCN, tăng gấp đôi so với năm 2020. Đây là lực lượng nòng cốt cần được tiếp tục nuôi dưỡng.

Gắn kết doanh nghiệp với viện, trường để thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tỉnh cần xây dựng cơ chế hợp tác ba bên: nhà nước - doanh nghiệp - viện trường, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm, viện trường cung cấp tri thức và nhà nước hỗ trợ thể chế. Việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu cần được thúc đẩy thông qua các hội chợ công nghệ, sàn giao dịch công nghệ và cơ chế chia sẻ lợi ích.

Ba là, phát triển nguồn nhân lực KHCN. Đào tạo nhân lực chất lượng cao, gắn đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp. Tỉnh Quảng Ninh cần xây dựng chương trình đào tạo nhân lực KHCN theo hướng thực hành, gắn với nhu cầu thị trường và doanh nghiệp. Các trường đại học, cao đẳng trong tỉnh cần được nâng cấp chương trình đào tạo, tăng cường hợp tác quốc tế và đầu tư vào cơ sở vật chất. Tỉnh cũng cần triển khai chương trình học bổng, đào tạo theo địa chỉ, liên kết với các trường đại học lớn, như Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia và các viện nghiên cứu chuyên ngành.

Về thu hút chuyên gia, nhân lực quốc tế đến tỉnh Quảng Ninh, việc thu hút nhân lực chất lượng cao cần có cơ chế đãi ngộ đặc biệt, bao gồm nhà ở, môi trường làm việc, cơ hội phát triển nghề nghiệp và chính sách thuế. Tỉnh có thể xây dựng “Chương trình chuyên gia Quảng Ninh” để mời gọi các chuyên gia trong và ngoài nước tham gia vào các dự án KHCN trọng điểm.

Bốn là, thúc đẩy liên kết vùng và quốc tế. Kết nối với tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Tỉnh Quảng Ninh cần chủ động kết nối hạ tầng số, logistics, nghiên cứu và đào tạo với Thủ đô Hà Nội và TP. Hải Phòng để hình thành mạng lưới KHCN cấp vùng. Việc chia sẻ dữ liệu, hợp tác nghiên cứu và liên kết doanh nghiệp sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa và tăng năng lực cạnh tranh vùng. Mở rộng hợp tác quốc tế về nghiên cứu, chuyển giao công nghệ. Tỉnh cần xây dựng quan hệ đối tác với các tổ chức quốc tế, như UNDP, JICA, KOICA và các trường đại học, viện nghiên cứu nước ngoài. Việc tham gia các chương trình nghiên cứu chung, chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực quốc tế sẽ giúp tỉnh Quảng Ninh tiếp cận tri thức mới và nâng cao vị thế.

Năm là, đổi mới thể chế quản trị phát triển. Chính quyền số, quản trị dữ liệu, ra quyết định dựa trên khoa học. Tỉnh Quảng Ninh cần tiếp tục hoàn thiện chính quyền số, xây dựng hệ thống quản trị dựa trên dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và mô hình dự báo. Việc ra quyết định dựa trên bằng chứng khoa học sẽ giúp nâng cao hiệu quả chính sách, giảm thiểu rủi ro và tăng tính minh bạch.

Cơ chế khuyến khích đầu tư R&D, bảo hộ sở hữu trí tuệ, tài chính cho KHCN. Tỉnh cần ban hành cơ chế ưu đãi đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), bao gồm miễn giảm thuế, hỗ trợ tài chính và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Việc xây dựng Quỹ KHCN cấp tỉnh, cơ chế đặt hàng nghiên cứu và hỗ trợ thương mại hóa công nghệ sẽ thúc đẩy sáng tạo và ứng dụng thực tiễn./.



[1]Xem: Sâu sát các nhiệm vụ trong tiến trình chuyển đổi số, ngày 2-10-2024, Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, https://www.quangninh.gov.vn/So/songoaivu/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=1101

[2]Đẩy mạnh tiến trình chuyển đổi số, Báo Quảng Ninh điện tử, ngày 6-5-2025, https://baoquangninh.vn/day-manh-tien-trinh-chuyen-doi-so-3356244.html

    Nổi bật
        Mới nhất
        Phát triển khoa học, công nghệ trở thành động lực nội sinh của mô hình phát triển Quảng Ninh trong giai đoạn mới
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO