Phát triển cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số tỉnh Hà Giang

Phạm Văn Phong 29/11/2024 00:00

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo trẻ là những “hạt giống đỏ” của Đảng và đất nước đã được tuyển lựa kỹ càng qua các khâu, các bước chặt chẽ trong quy trình công tác cán bộ. Thực tiễn cho thấy, Đảng luôn có những bước chuẩn bị từ sớm; bảo đảm sự thống nhất, xuyên suốt ngay từ chủ trương trong mỗi giai đoạn.

Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân gặp mặt Đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số tiêu biểu tỉnh Hà Giang tại Phủ Chủ tịch, ngày 17-10-2024_Ảnh: baohagiang.vn

Vai trò của cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ và công tác cán bộ. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc phát hiện, lựa chọn cán bộ là khâu đầu tiên và rất quan trọng. Đó là “khâu chọn giống” như là người làm vườn chọn giống cây, “nếu giống tốt ắt cây sẽ tốt”. 

Người chỉ dạy, việc lựa chọn cán bộ phải dựa theo các tiêu chí: những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh; những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng... Khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo. Khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc không sợ khó khăn; những người luôn luôn giữ đúng kỷ luật.

Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam, để chuẩn bị mọi điều kiện cho việc thành lập Đảng, nhất là những yêu cầu về công tác cán bộ, lãnh đạo của Đảng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đặt trọn niềm tin vào lớp thanh niên yêu nước, giàu ý chí cách mạng. 

Trong giai đoạn 1925 - 1927, nhiều thanh niên từ những tổ chức cách mạng được Nguyễn Ái Quốc tập hợp trong một tổ chức, mở lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (Trung Quốc); đào tạo, trang bị về lý luận, phương pháp cách mạng để họ trở thành những cán bộ cách mạng. Được giác ngộ lý tưởng cách mạng, lớp thanh niên yêu nước ấy tiếp tục được Nguyễn Ái Quốc đưa về nước, rèn giũa qua thực tiễn các phong trào của giai cấp công nhân và nhân dân ta. Trong đó có nhiều cán bộ trẻ xuất chúng, tiêu biểu như các đồng chí Trần Phú, Lê Hồng Phong, Ngô Gia Tự... 

Thực tế đó cho thấy, ngay từ khi Đảng ta được thành lập, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo Đảng đã được trao cho những cán bộ trẻ, đó là yêu cầu khách quan từ thực tiễn cách mạng. Nhiều đồng chí được tin tưởng giao trọng trách đảm đương cương vị lãnh đạo cấp cao của Đảng khi tuổi đời còn rất trẻ. Ví như các đồng chí: Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư khi mới 26 tuổi; đồng chí Võ Nguyên Giáp là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ở tuổi 35 và được phong hàm Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ở tuổi 37...

Đó là những cán bộ với tài năng xuất chúng, tuy trẻ về tuổi đời nhưng dày dạn kinh nghiệm, thực tiễn cách mạng, sôi nổi tham gia các hoạt động và lãnh đạo nhiều phong trào yêu nước của quần chúng nhân dân. 

Dù tuổi đời còn rất trẻ, nhưng họ đã tận hiến hết mình phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Những minh chứng sinh động trên khẳng định rõ nét vai trò của cán bộ trẻ trong sự nghiệp cách mạng. Đây cũng chính là những “hạt giống đỏ” được Đảng, Bác Hồ giáo dục từ thực tiễn cách mạng và thông qua thực tiễn cách mạng. 

Trải qua gần 95 năm từ khi được thành lập, Đảng ta luôn nhất quán chủ trương trọng dụng cán bộ trẻ. Đặc biệt, trước mỗi kỳ đại hội, chủ trương ấy được Trung ương hết sức coi trọng, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy các cấp chuẩn bị sâu kỹ; lựa chọn cẩn trọng và sàng lọc kỹ lưỡng để giới thiệu, quy hoạch cán bộ trẻ có đủ phẩm chất, năng lực vào cấp ủy nhiệm kỳ mới, đảm bảo luôn có sự kế thừa, kế tiếp, đổi mới và phát triển trong công tác cán bộ. 

Tiếp nối, phát huy truyền thống trọng dụng cán bộ trẻ, Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặt ra một trong những yêu cầu là: “chú trọng phát hiện, giới thiệu tham gia cấp ủy những nhân tố mới có đức, có tài, có uy tín, có triển vọng thông qua hoạt động thực tiễn, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số...”.

Quán triệt nghiêm túc Chỉ thị số 35, công tác chuẩn bị nhân sự cấp ủy khóa mới, nhất là nhân sự bầu bí thư, phó bí thư được cấp ủy các cấp đặc biệt coi trọng và chỉ đạo chặt chẽ. Ban thường vụ cấp ủy các cấp đã chủ động rà soát, bổ sung quy hoạch cấp ủy nhiệm kỳ 2020 - 2025 và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Mục tiêu hướng đến là “trẻ hóa cấp ủy”, nâng cao chất lượng và phù hợp với nhu cầu sắp xếp, tinh giản bộ máy biên chế. 

Sau khi kết thúc đại hội đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2020 - 2025, qua thống kê cho thấy, ở các đảng bộ trực thuộc Trung ương, bí thư cấp ủy và cấp ủy viên từng bước được trẻ hóa. Theo đó, cấp ủy viên có độ tuổi 40 -50 tuổi chiếm 48,9% (nhiệm kỳ 2015 - 2020 là 34,4%). Đặc biệt, bí thư cấp ủy tỉnh có nhiều đổi mới so với nhiệm kỳ trước, trong đó 28 đồng chí bí thư tỉnh ủy từ dưới 50 tuổi trở xuống, tăng 15 đồng chí (tăng 115%) so với nhiệm kỳ trước.

Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác cán bộ nữ. Sau khi miền Bắc được giải phóng, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 153-NQ/TW, ngày 10-1-1967, về “Công tác cán bộ nữ”. 

Nghị quyết khẳng định: “sự nghiệp giải phóng phụ nữ là trách nhiệm chung của toàn Đảng, của Nhà nước, của xã hội, song lực lượng phụ nữ trong đó đội ngũ xung kích là lực lượng cán bộ nữ ở tất cả các lĩnh vực phải phát huy vai trò chủ động của mình; phong trào phụ nữ càng phát triển thì đội ngũ cán bộ phụ nữ càng có điều kiện để phát triển mạnh mẽ, và ngược lại, sự phát triển của đội ngũ cán bộ nữ sẽ có tác động lớn đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ... Các cấp, các ngành cần nhận rõ vị trí và vai trò vô cùng trọng yếu của lực lượng phụ nữ, nhận rõ trách nhiệm lớn lao của phụ nữ trên các lĩnh vực công tác cũng như nhận rõ vị trí và vai trò của đội ngũ cán bộ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng nói chung, trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ nói riêng”. 

Điều này cho thấy, các chủ trương, đường lối của Đảng ta rất chú trọng đến công tác phát triển cán bộ nữ, góp phần hướng đến xã hội bình đẳng nam nữ.

Từ năm 1980, Việt Nam đã tham gia ký kết Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (Công ước CEDAW). Việt Nam phê chuẩn và thực hiện các điều khoản của Công ước CEDAW, như định kỳ đệ trình các báo cáo quốc gia về những kết quả thực hiện CEDAW, trong đó có quy định về sự tham gia về chính trị và dân sự của phụ nữ (Điều 1); tham gia các tổ chức chính phủ, hiệp hội phi chính phủ, liên quan đến đời sống công cộng, chính trị của đất nước (Điều 7); Nhà nước bảo đảm các cơ hội phụ nữ đại diện cho chính phủ trên các diễn đàn quốc tế, tham gia công việc ở các tổ chức quốc tế (Điều 8). 

Đặc biệt, Công ước này khuyến cáo các nhà nước cần thiết áp dụng những biện pháp đặc biệt, tạm thời, nhằm cải thiện vị thế, vai trò tham gia của phụ nữ trong xã hội, khắc phục sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ ở các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình (Điều 4). Việc tham gia ký kết này nhằm bảo đảm quyền con người của phụ nữ, trẻ em gái, đặc biệt là những điều khoản, mục tiêu về phụ nữ tham chính. 

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã tích cực hành động thực hiện chủ trương bình đẳng giới, kiên quyết chống lại sự kỳ thị và phân biệt giới.

Bước sang thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định đúng vị trí, vai trò nòng cốt của đội ngũ cán bộ nữ nhằm phát huy sức mạnh của họ. Ngày 16-5-1994, Đảng ta ban hành Chỉ thị số 37-CT/TW, “Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” và một số chủ trương, chính sách khác có liên quan đến công tác cán bộ nữ nhằm đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới. 

Chỉ thị số 37-CT/TW cũng xác định tiếp tục quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ bằng giải pháp xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động nữ nói chung, cán bộ nữ nói riêng.

Cán bộ người dân tộc thiểu số góp phần xây dựng và trực tiếp tổ chức cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; khi cán bộ người dân tộc thiểu số là người lãnh đạo, quản lý, ý kiến của họ có sức thuyết phục, hành động của họ có thể lôi cuốn, lan tỏa rộng trong cộng đồng. 

Tuy nhiên, hiện vẫn còn có một số cán bộ vùng dân tộc thiểu số tác phong làm việc, ý thức tự rèn luyện bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ còn thấp, rất cần phải quan tâm bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ này.

Thứ nhất, cán bộ người dân tộc thiểu số góp phần xây dựng và trực tiếp tổ chức cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở vùng dân tộc thiểu số.

Thứ hai, cán bộ người dân tộc thiểu số có ảnh hưởng tích cực đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Cán bộ người dân tộc thiểu số là người lãnh đạo, quản lý, ý kiến của họ có sức thuyết phục, hành động của họ có thể lôi cuốn, lan tỏa rộng. Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ có uy tín là người dân tộc thiểu số là khai thác lợi thế vô cùng lớn từ khía cạnh văn hóa, tập quán của vùng dân tộc thiểu số.

Thứ ba, cán bộ người dân tộc thiểu số tạo nên sự cân bằng, hài hòa về chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, tăng cường mối quan hệ, tạo dựng niềm tin của nhân dân vùng dân tộc thiểu số đối với Đảng và Nhà nước.

Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xã Thắng Mố Chẩn Thị Mẩy (phải) trao đổi với các chi hội trưởng về công tác phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới trên địa bàn_Ảnh: baohagiang.vn
Giải pháp phát triển cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số tỉnh Hà Giang

Một là, thiết lập một nền tảng đúng đắn trên những cơ sở pháp lý và những quy phạm chuẩn mực mang tính khách quan.

Những quy định mang tính pháp lý và những chuẩn mực đạo đức, văn hóa cần được thể chế hóa chính thức và có thiết chế bắt buộc thực hiện. Từ đó, xây dựng các khung năng lực theo nhóm cán bộ vùng dân tộc thiểu số có tính bắt buộc phải thực hiện như một thói quen tốt đẹp và cần được thể chế hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật.

Đặc biệt, việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ vùng dân tộc thiểu số cần được thể chế hóa thành văn bản pháp luật, mang tính bắt buộc các cán bộ, công chức, viên chức vùng dân tộc thiểu số ở mỗi cương vị khác nhau phải học và rèn luyện năng lực.

Đối với một cán bộ, công chức lãnh đạo vùng dân tộc thiểu số trước khi bổ nhiệm cần phải có các quy định được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật về đào tạo cơ bản về các kỹ năng lãnh đạo, quản lý vùng dân tộc thiểu số. Ví dụ như: các kỹ năng tư duy đổi mới sáng tạo, tư duy chiến lược, kỹ năng hoạch định kinh tế - xã hội có tính đặc thù của vùng dân tộc thiểu số; kỹ năng tạo động lực cho cán bộ và đồng bào vùng dân tộc thiểu số, kỹ năng thuyết trình, thuyết phục, kỹ năng điều hành cuộc họp, thuyết trình,... là những kỹ năng đang rất yếu và thiếu ở một số cán bộ, công chức lãnh đạo vùng dân tộc thiểu số hiện nay.

Hai là, cần xây dựng một cơ chế lắng nghe bằng mạng lưới thông tin thông suốt, tính minh bạch trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành, thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức vùng dân tộc thiểu số.

Xây dựng hệ thống truyền thông do các cơ quan từ cấp xã, cấp huyện đến cấp tỉnh của vùng dân tộc thiểu số thực hiện, đồng bào vùng dân tộc thiểu số có quyền được tiếp nhận thông tin và có sự phản hồi. Duy trì những dạng truyền thống, như: báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình, băng rôn, biểu ngữ... Phát triển những dạng truyền thông mới, như: trực tuyến, mạng, báo điện tử, phát thanh trực tiếp...

Ba là, các địa phương cần chú trọng hơn nữa công tác quy hoạch nguồn cán bộ nữ làm công tác lãnh đạo, quản lý. Tỷ lệ cán bộ nữ tham chính vẫn vừa thiếu về số lượng, vừa hạn chế về vị trí đảm nhận. Trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị và sự trải nghiệm của phụ nữ qua thực tiễn hoạt động chính trị còn hạn chế so với nhóm nam giới. 

Bởi vậy, cần xác định, việc tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý là trách nhiệm và công việc quan trọng, thường xuyên của Đảng và Nhà nước, các ban, bộ, ngành, các địa phương, nhất là ở cấp cơ sở để tránh sự thiếu hụt về số lượng cán bộ nữ. 

Đồng thời, quan tâm phát triển đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ trong tổng thể chiến lược công tác cán bộ của Đảng. Công tác phụ nữ phải sát hợp với từng đối tượng, vùng, miền, phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ vào sự phát triển của đất nước; đồng thời, phải chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt nhất vai trò người công dân, người lao động, người vợ, người mẹ,...

Bốn là, cần nâng cao chất lượng hoạt động của các cấp hội liên hiệp phụ nữ trong giai đoạn hiện nayCác cấp hội cần chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong việc lựa chọn nội dung hoạt động; bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, nhiệm vụ của địa phương, lựa chọn hoạt động thực sự phù hợp với điều kiện tổ chức hội và của hội viên, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, nâng cao trình độ, tham gia ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động chính trị - xã hội...

Năm là, luôn nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ trẻ; công tác phát hiện, quy hoạch, tạo nguồn các nhân tố trẻ triển vọng, có phẩm chất, trình độ, kiến thức là việc cần làm sớm và thường xuyên; cùng với đó nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, tạo động lực, điều kiện thuận lợi để cán bộ trẻ phát huy năng lực, sở trường, động lực cống hiến,... gắn với trách nhiệm của cấp ủy đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị. 

Qua đó, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp gắn với việc đảm bảo sự chuyển tiếp, liên tục, vững vàng giữa các thế hệ. Mọi phẩm chất, tài năng của cán bộ phải được phát hiện sớm và được bồi dưỡng công phu. Đây là trách nhiệm chính trị của các cấp uỷ, tổ chức đảng; của người đứng đầu các cơ quan và người làm công tác tổ chức.

Sáu là, phát triển tư duy sáng tạo và khả năng quan sát cũng là một cách làm tốt. Tuổi trẻ phải đi liền với khả năng đưa ra ý tưởng mới, giải quyết các vấn đề phát sinh trong công tác và cuộc sống. 

Điều này đòi hỏi tinh thần đam mê, nhiệt huyết và tự hào với công việc của mình để tạo động lực cho bản thân và đồng nghiệp của các cán bộ trẻ. Bên cạnh đó là việc xây dựng mối quan hệ đồng nghiệp và học tập từ các cán bộ kinh nghiệm. 

Cán bộ trẻ cần biết tận dụng kinh nghiệm, kiến thức từ các đồng nghiệp, cán bộ đi trước có kinh nghiệm để phát triển bản thân, như chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ trẻ không được kiêu ngạo, phải khiêm tốn học hỏi các đồng chí già có kinh nghiệm”./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Phát triển cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số tỉnh Hà Giang
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO