Phát huy vai trò của Thủ đô Hà Nội trong thích ứng với biến đổi khí hậu và xây dựng môi trường sống bền vững: Tầm nhìn chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới
Thủ đô Hà Nội - với vai trò là “trái tim” của cả nước cần tiên phong trong thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Phát triển Hà Nội trở thành một đô thị xanh - thông minh - đáng sống không chỉ là yêu cầu nội tại, mà còn là biểu tượng của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đẩy mạnh thích ứng với biến đổi khí hậu và xây dựng môi trường sống bền vững ở Thủ đô Hà Nội là hành động thiết thực góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII và hướng tới Đại hội XIV của Đảng.

Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và sự gia tăng các thách thức phi truyền thống, biến đổi khí hậu đã và đang trở thành một trong những nguy cơ lớn nhất đối với an ninh môi trường, an ninh con người và sự phát triển bền vững của nhân loại. Các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhiệt độ gia tăng, mực nước biển dâng, thiên tai bất thường,... ngày càng diễn ra với cường độ và tần suất cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế - xã hội toàn cầu.
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu, đặc biệt ở khu vực đồng bằng, đô thị lớn và các vùng ven biển. Trong đó, Thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, đô thị đặc biệt với tốc độ đô thị hóa nhanh, dân số đông và kết cấu hạ tầng còn nhiều bất cập đang đối mặt với nhiều áp lực môi trường đan xen: ô nhiễm không khí kéo dài, suy thoái chất lượng nước mặt và nước ngầm, ngập úng cục bộ gia tăng, rác thải đô thị quá tải và hệ sinh thái tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng. Đây không chỉ là những vấn đề môi trường đơn lẻ, mà là thách thức mang tính cấu trúc và chiến lược đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
Nhận thức rõ tính chất cấp bách và lâu dài của vấn đề này, Đảng ta đã xác định bảo vệ môi trường là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững, cùng với phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03-6-2013, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và là một trong những nội dung quan trọng của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc”(1). Nghị quyết cũng chỉ rõ yêu cầu: “Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường; không đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”(2).
Tiếp tục khẳng định tầm quan trọng chiến lược của vấn đề này, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Chủ động thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; quản lý bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường; phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế carbon thấp”(3). Đồng thời, nhấn mạnh mục tiêu tổng quát trong phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là: “Phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái”(4).
Từ những định hướng chiến lược đó, Thủ đô Hà Nội - với vị thế, vai trò và trách nhiệm đặc biệt cần phát huy vai trò tiên phong trong việc xây dựng mô hình đô thị thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường sống một cách toàn diện, chủ động và bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu thực tiễn cấp bách, mà còn là một phần cốt lõi của khát vọng vươn lên của Thủ đô trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Những kết quả bước đầu đáng ghi nhận
Những năm qua, Thủ đô Hà Nội đã thể hiện rõ quyết tâm chính trị và sự nỗ lực cao trong việc triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, chương trình và hành động cụ thể nhằm nâng cao chất lượng môi trường sống, tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây không chỉ là yêu cầu cấp bách của tiến trình phát triển, mà còn là định hướng chiến lược trong xây dựng Thủ đô xanh, văn hiến, văn minh, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết chuyên đề của Trung ương về phát triển đô thị, môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu.
Một trong những bước đi quan trọng thể hiện tư duy phát triển mới là việc Hà Nội hoàn thiện Quy hoạch Thủ đô thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là bản quy hoạch tích hợp đầu tiên, không chỉ định hình không gian phát triển đô thị theo hướng hiệu quả, đồng bộ và bền vững, mà còn lồng ghép sâu sắc các yếu tố môi trường, quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Các mục tiêu phát triển được gắn với định hướng sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên đất, nước, không khí; phát triển hạ tầng đô thị xanh; giảm phát thải và hạn chế tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu. Điều này cụ thể hóa định hướng trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về việc: “Phát triển đô thị theo hướng thông minh, xanh, sinh thái, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu”(5).
Cùng với tầm nhìn quy hoạch, thành phố Hà Nội đã chú trọng chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và đô thị thông minh. Thành phố đã đưa vào vận hành các tuyến xe buýt điện VinBus, triển khai mô hình xe đạp công cộng tại khu vực nội đô, qua đó từng bước thiết lập mạng lưới giao thông sạch, hướng tới mục tiêu không phát thải. Đồng thời, thành phố Hà Nội cũng đẩy nhanh lộ trình chuyển đổi năng lượng sạch, sử dụng năng lượng mặt trời trong chiếu sáng công cộng, khuyến khích hộ gia đình, trường học, doanh nghiệp lắp đặt điện mặt trời mái nhà, giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.
Trong lĩnh vực môi trường đô thị, nhiều kết quả tích cực đã được ghi nhận. Hàng triệu cây xanh đô thị được trồng mới, phủ xanh các tuyến đường, công viên và khu dân cư, góp phần tạo dựng “lá phổi xanh” điều tiết vi khí hậu đô thị. Trên 50 hồ điều hòa đã được cải tạo, nạo vét, tăng cường năng lực thóat nước trong mùa mưa và điều hòa tiểu khí hậu khu vực. Đồng thời, nhiều công viên mới được quy hoạch, nâng tỷ lệ đất cây xanh công cộng trên đầu người, tiệm cận tiêu chuẩn 7 - 8 m²/người theo hướng đô thị hiện đại.
Đặc biệt, thành phố Hà Nội là một trong những địa phương tiên phong cả nước trong việc thí điểm các mô hình đô thị sinh thái, kết hợp với hợp tác quốc tế sâu rộng trong công tác bảo vệ môi trường. Thành phố Hà Nội đã phối hợp với các tổ chức quốc tế như JICA (Nhật Bản), KOICA (Hàn Quốc), UNDP và Ngân hàng Thế giới (WB) để triển khai các dự án giám sát chất lượng không khí, cải thiện hạ tầng xử lý nước thải, chất thải rắn và nâng cao năng lực cán bộ môi trường cấp cơ sở. Thành phố Hà Nội cũng ứng dụng công nghệ quan trắc môi trường tự động, dữ liệu lớn (Big Data) và các phần mềm cảnh báo sớm chất lượng không khí, từng bước số hóa hệ thống quản lý môi trường đô thị theo hướng minh bạch, hiệu quả và kịp thời.
Những kết quả trên phản ánh quyết tâm cao và sự chỉ đạo sát sao của Đảng bộ, chính quyền thành phố trong việc hiện thực hóa tầm nhìn xây dựng Thủ đô phát triển xanh, bền vững, hiện đại và thích ứng linh hoạt với biến đổi khí hậu, đóng góp vào thực hiện mục tiêu “phát triển nhanh và bền vững đất nước” như Đảng đã đề ra. Đồng thời, đó cũng là biểu hiện sinh động của tinh thần chủ động, trách nhiệm, sáng tạo của nhân dân Thủ đô trong hành trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Một số tồn tại, thách thức
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, Thủ đô Hà Nội vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn trong nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường sống bền vững. Những tồn tại này không chỉ đến từ các yếu tố khách quan như tốc độ đô thị hóa nhanh, mật độ dân số cao, mà còn bắt nguồn từ các hạn chế nội tại trong công tác quản lý, quy hoạch phát triển và nhận thức của cộng đồng.
Trước hết, ô nhiễm không khí đang là vấn đề nổi cộm và có xu hướng gia tăng. Hà Nội thường xuyên nằm trong nhóm các đô thị có chất lượng không khí kém nhất cả nước. Vào mùa Đông - Xuân, chỉ số chất lượng không khí (AQI) tại nhiều khu vực nội thành vượt ngưỡng an toàn theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Các nguồn phát thải chính gồm khí thải từ phương tiện giao thông cá nhân, hoạt động xây dựng, sản xuất công nghiệp tại khu vực ven đô, và đáng chú ý là tình trạng đốt rơm rạ sau mùa vụ vẫn còn phổ biến. Trong khi đó, mạng lưới quan trắc không khí chưa được đầu tư đồng bộ, đặc biệt là thiếu các trạm cố định tại cấp phường, xã, gây khó khăn trong việc cảnh báo sớm và phản ứng kịp thời.
Thứ hai, tình trạng úng ngập cục bộ sau các trận mưa lớn vẫn xảy ra tại nhiều quận nội thành và khu vực mở rộng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt, đi lại và sản xuất của người dân. Nguyên nhân chính là do hệ thống thóat nước đô thị còn bất cập, nhiều tuyến cống ngầm xuống cấp, không đáp ứng được lưu lượng nước khi mưa lớn xảy ra, trong khi diện tích bê tông hóa ngày càng tăng, làm giảm khả năng thấm và thóat nước tự nhiên. Công tác duy tu, nạo vét hệ thống thóat nước còn thiếu đồng bộ và chưa thường xuyên.
Thứ ba, ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận người dân và doanh nghiệp vẫn còn hạn chế. Thói quen xả rác tùy tiện, sử dụng túi ni-lông và đồ nhựa dùng một lần vẫn khá phổ biến. Tại các làng nghề, cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, việc xử lý chất thải chưa được thực hiện đúng quy định, gây ô nhiễm nguồn nước và không khí. Trong khi đó, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm môi trường còn chưa nghiêm, thiếu tính răn đe và chưa khuyến khích được hành vi bảo vệ môi trường bền vững trong cộng đồng.
Thứ tư, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng đang tạo áp lực lớn lên hạ tầng kỹ thuật và không gian sinh thái đô thị. Sự phát triển ồ ạt các khu đô thị mới, các dự án bất động sản thiếu gắn kết với hạ tầng giao thông, không gian xanh và dịch vụ công cộng đang làm gia tăng nguy cơ “đô thị hóa không đi đôi với hiện đại hóa”. Dân số cơ học tăng mạnh dẫn đến quá tải hạ tầng y tế, giáo dục, xử lý chất thải và năng lượng, làm suy giảm chất lượng sống tại nhiều khu vực đô thị.
Bên cạnh đó, việc triển khai các chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu còn gặp khó khăn do thiếu nguồn lực tài chính, hạn chế trong năng lực tổ chức thực hiện và sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các cấp, các ngành. Chưa có đủ cơ chế, chính sách đột phá để thu hút đầu tư xã hội hóa, phát huy vai trò của doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường.
Những thách thức nêu trên không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của người dân Thủ đô mà còn đặt ra vấn đề lớn đối với quá trình xây dựng hình ảnh một Thủ đô hiện đại, văn minh, xanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII và Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050, Hà Nội cần xác định rõ vai trò tiên phong và có các giải pháp đồng bộ, đột phá để nâng cao năng lực thích ứng, giảm nhẹ rủi ro khí hậu, bảo vệ môi trường sống trong lành cho nhân dân.
Một số định hướng và giải pháp chiến lược
Một là, đổi mới tư duy phát triển Thủ đô gắn với thích ứng biến đổi khí hậu.
Trong bối cảnh toàn cầu đang bước vào thời kỳ phát triển mới với những thách thức chưa từng có do biến đổi khí hậu, tư duy phát triển Thủ đô Hà Nội cần được đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đặt trong mối liên hệ hữu cơ giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Phát triển Thủ đô không thể tiếp tục dựa trên mô hình đô thị hóa thuần túy, khai thác tài nguyên theo chiều rộng và tập trung quá mức vào tăng trưởng kinh tế mà xem nhẹ yếu tố sinh thái và khả năng chống chịu.
Trước hết, cần chuyển dịch từ mô hình “phát triển đô thị truyền thống” sang “phát triển đô thị sinh thái - thông minh - chống chịu”, theo hướng hài hòa giữa tăng trưởng và bảo tồn. Điều này đòi hỏi quy hoạch đô thị phải đặt yếu tố môi trường và thích ứng khí hậu làm trục xuyên suốt, từ thiết kế không gian xanh, sử dụng vật liệu bền vững, tối ưu hóa nguồn năng lượng tái tạo cho đến xây dựng cơ sở hạ tầng linh hoạt, thích nghi với các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng. Đồng thời, cần tăng cường tích hợp chính sách khí hậu vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội. Đây là yêu cầu bắt buộc để bảo đảm rằng mọi định hướng phát triển đều có tính đến yếu tố rủi ro khí hậu, phát thải carbon và bảo vệ hệ sinh thái đô thị. Việc tích hợp này cần thể hiện rõ trong quy hoạch Thủ đô thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, cũng như trong các đề án, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực như giao thông, năng lượng, y tế, giáo dục, xây dựng… Hơn thế nữa, đổi mới tư duy phát triển đô thị trong điều kiện biến đổi khí hậu cũng chính là khẳng định vai trò tiên phong của Thủ đô - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước trong thực hiện các cam kết quốc gia về phát triển bền vững, giảm phát thải khí nhà kính và thực thi Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030.
Việc thúc đẩy mô hình đô thị thích ứng khí hậu không chỉ bảo vệ môi trường sống cho hơn 8 triệu người dân thành phố Hà Nội hôm nay, mà còn tạo nền tảng vững chắc cho một tương lai phát triển cân bằng, bền vững, thể hiện tầm nhìn dài hạn và trách nhiệm liên thế hệ của chính quyền và nhân dân Thủ đô trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Hai là, phát triển hạ tầng xanh và không gian công cộng bền vững.
Trong bối cảnh thành phố Hà Nội đang đối mặt với nhiều thách thức do biến đổi khí hậu và áp lực đô thị hóa, phát triển hạ tầng xanh và không gian công cộng bền vững là một định hướng chiến lược then chốt, góp phần cải thiện chất lượng môi trường sống, nâng cao sức chống chịu của đô thị và thúc đẩy phát triển bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu cấp thiết của một Thủ đô văn minh, hiện đại mà còn là biểu hiện sinh động cho tầm nhìn phát triển “Hà Nội xanh, thông minh, hiện đại” trong kỷ nguyên mới. Theo đó, ưu tiên mở rộng và bảo vệ hệ thống sông, hồ, công viên và cây xanh đô thị - những yếu tố đóng vai trò điều tiết vi khí hậu, cải thiện chất lượng không khí và tạo dựng không gian sống lành mạnh cho người dân. Thành phố Hà Nội hiện có khoảng 130 hồ lớn nhỏ trong khu vực nội đô và nhiều hệ thống sông tự nhiên như sông Tô Lịch, sông Nhuệ, sông Kim Ngưu… Tuy nhiên, nhiều dòng sông, hồ đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, bị lấn chiếm hoặc thu hẹp bởi các công trình xây dựng. Việc phục hồi hệ sinh thái nước, nạo vét, xử lý ô nhiễm và quản lý bền vững các không gian thủy hệ cần được triển khai đồng bộ, lồng ghép trong quy hoạch đô thị và kế hoạch sử dụng đất.
Đẩy mạnh các mô hình “kiến trúc xanh”, “tòa nhà tiết kiệm năng lượng”, tăng cường sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường trong xây dựng đô thị. Các công trình công cộng, trường học, bệnh viện, trung tâm thương mại cần được khuyến khích áp dụng tiêu chuẩn công trình xanh, tối ưu hóa chiếu sáng tự nhiên, thông gió tự nhiên và ứng dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng. Điều này vừa góp phần giảm phát thải khí nhà kính, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và tăng tính bền vững cho đô thị Hà Nội.
Chú trọng thiết kế và phát triển các không gian công cộng mở, như quảng trường, phố đi bộ, không gian sáng tạo, hành lang đi bộ ven sông để không chỉ phục vụ mục tiêu môi trường mà còn góp phần xây dựng lối sống đô thị văn minh, gắn kết cộng đồng và nâng cao chất lượng sống của người dân Thủ đô. Việc mở rộng không gian công cộng không chỉ là câu chuyện hạ tầng, mà còn liên quan đến văn hóa ứng xử, thói quen sinh hoạt và sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư trong việc bảo vệ môi trường.
Phát triển hạ tầng xanh và không gian công cộng bền vững chính là cách để Hà Nội thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, xây dựng một đô thị có khả năng chống chịu, phát triển hài hòa giữa con người và thiên nhiên hiện thực hóa tầm nhìn về một Thủ đô trong lành, sinh thái, hiện đại, giàu bản sắc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Ba là, thúc đẩy giáo dục, truyền thông và nâng cao nhận thức cộng đồng.
Thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu không chỉ là vấn đề kỹ thuật - công nghệ hay quy hoạch - đầu tư, mà còn là một quá trình thay đổi nhận thức, hành vi và lối sống của toàn xã hội. Do đó, thành phố Hà Nội cần đặt trọng tâm vào công tác giáo dục và truyền thông nhằm nâng cao hiểu biết, khơi dậy trách nhiệm và thúc đẩy sự tham gia chủ động của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo đó, triển khai mạnh mẽ các chương trình giáo dục môi trường, lồng ghép nội dung về biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, tiêu dùng xanh vào chương trình học ở các cấp, đặc biệt trong hệ thống giáo dục phổ thông và đại học. Nhà trường không chỉ là nơi truyền đạt kiến thức, mà còn cần trở thành trung tâm lan tỏa ý thức và hành vi bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ - những công dân của thời kỳ đô thị hóa và số hóa.
Tăng cường các chiến dịch truyền thông cộng đồng tại khu dân cư, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp,… với hình thức đa dạng, sinh động, sử dụng hiệu quả các phương tiện truyền thông truyền thống kết hợp nền tảng số, mạng xã hội. Nội dung truyền thông cần tập trung vào các chủ đề thiết thực như tiết kiệm năng lượng, phân loại và tái chế rác thải, sử dụng nguồn nước hợp lý, phòng chống ô nhiễm không khí… nhằm tạo ra thay đổi hành vi bền vững trong sinh hoạt và tiêu dùng. Hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và truyền thông cho các nhóm cộng đồng, chuyển từ nhận thức sang hành động cụ thể, thiết thực và lan tỏa bền vững.
Như vậy, thúc đẩy giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng chính là nền tảng xã hội vững chắc để thành phố Hà Nội thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, xây dựng văn hóa sinh thái đô thị và hình thành lối sống xanh - nhân văn - trách nhiệm trong kỷ nguyên mới. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan, mà còn là một phần tất yếu trong khát vọng phát triển Thủ đô xanh - thông minh - hiện đại, gắn kết hài hòa giữa thiên nhiên và con người.
Bốn là, phát huy vai trò công nghệ và chuyển đổi số trong bảo vệ môi trường.
Trong kỷ nguyên số, việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào công tác quản lý môi trường không chỉ là xu thế tất yếu, mà còn là điều kiện mang tính đột phá giúp các đô thị lớn như thành phố Hà Nội nâng cao hiệu quả giám sát, dự báo và ứng phó với các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu. Phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đô thị thông minh,... đều đặt ra yêu cầu cấp thiết về chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi hoạt động bảo vệ môi trường đô thị.
Thành phố Hà Nội cần tập trung đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ tiên tiến như Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây trong quản lý và giám sát môi trường. Việc triển khai các trạm quan trắc thông minh, hệ thống cảm biến tự động thu thập và phân tích dữ liệu thời gian thực về chất lượng không khí, nước, tiếng ồn, rác thải,... sẽ giúp cơ quan quản lý sớm nhận diện các điểm nóng môi trường, từ đó đưa ra các cảnh báo và giải pháp ứng phó kịp thời.
Phát triển nền tảng cơ sở dữ liệu môi trường Thủ đô, liên thông và tích hợp với hệ thống dữ liệu quốc gia về tài nguyên - môi trường. Hệ thống này không chỉ phục vụ quản lý nhà nước mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học, doanh nghiệp, tổ chức xã hội tiếp cận, khai thác và sử dụng hiệu quả cho các mục tiêu quy hoạch đô thị bền vững, phát triển công nghiệp xanh, giáo dục môi trường và khởi nghiệp sáng tạo. Khuyến khích phát triển các giải pháp công nghệ số do chính người dân, doanh nghiệp, viện nghiên cứu trong nước sáng tạo và triển khai. Các ứng dụng di động cho phép người dân phản ánh tình trạng ô nhiễm, theo dõi chất lượng môi trường theo thời gian thực, hoặc các nền tảng kết nối cộng đồng tình nguyện viên môi trường sẽ tạo nên một hệ sinh thái giám sát và bảo vệ môi trường toàn diện, đồng bộ và minh bạch.
Như vậy, chuyển đổi số và công nghệ không chỉ là công cụ, mà còn là lực đẩy quan trọng trong quá trình hiện đại hóa công tác quản lý môi trường đô thị. Việc phát huy tối đa tiềm năng công nghệ sẽ giúp thành phố Hà Nội vừa tăng cường khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu, vừa tạo dựng hình ảnh một đô thị sinh thái - thông minh - bền vững trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Năm là, thúc đẩy hợp tác vùng và quốc tế.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động sâu rộng và không phân biệt ranh giới hành chính, việc thành phố Hà Nội chủ động mở rộng hợp tác vùng và quốc tế trở thành yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao năng lực ứng phó tổng thể, phát triển bền vững và lan tỏa mô hình đô thị xanh, thông minh trong kỷ nguyên mới.
Với vai trò là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ của cả nước, thành phố Hà Nội cần tiên phong thúc đẩy liên kết vùng, nhất là với các tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Thủ đô. Đây là khu vực đang chịu áp lực lớn từ tốc độ đô thị hóa nhanh, ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Việc xây dựng các cơ chế phối hợp liên tỉnh, chia sẻ dữ liệu môi trường, quy hoạch sử dụng tài nguyên chung, hợp tác trong xử lý rác thải, phát triển năng lượng tái tạo,... sẽ góp phần nâng cao năng lực thích ứng tổng thể của tiểu vùng, tạo ra mạng lưới liên kết sinh thái và đô thị bền vững hơn.
Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế, đối tác phát triển, các thành phố tiên tiến trên thế giới để học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận các nguồn lực và công nghệ hiện đại phục vụ mục tiêu phát triển xanh. Trong đó, việc huy động các nguồn tài chính xanh, Quỹ Khí hậu toàn cầu (GCF), nguồn hỗ trợ kỹ thuật từ Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới (WB), ADB hay các chương trình hợp tác song phương với Nhật Bản, Hàn Quốc, EU,… có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thành phố Hà Nội đầu tư vào hạ tầng chống chịu khí hậu, công nghệ xử lý chất thải tiên tiến, đô thị thông minh và hệ thống cảnh báo sớm thiên tai.
Tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế về biến đổi khí hậu, môi trường đô thị, liên minh các thành phố chống biến đổi khí hậu,… nhằm chia sẻ sáng kiến, đóng góp tiếng nói có trách nhiệm của Việt Nam, từ đó nâng cao uy tín và vị thế Thủ đô trên trường quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Thúc đẩy hợp tác vùng và quốc tế không chỉ là giải pháp mở rộng nguồn lực và tri thức, mà còn là minh chứng cho tư duy phát triển chủ động, hội nhập và thích ứng linh hoạt của Thủ đô trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Đây cũng chính là động lực quan trọng giúp Thủ đô Hà Nội hiện thực hóa tầm nhìn trở thành thành phố xanh - thông minh - bền vững trong kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc./.
(1), (2) Xem: Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03-6-2013, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-24-nqtw-ngay-0362013-hoi-nghi-lan-thu-7-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-chu-dong-ung-pho-voi-578
(3), (4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, t. I, tr. 112
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 165
