Phát huy sức mạnh các nguồn tài nguyên văn hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững tỉnh Quảng Ninh (2018 – 2023)
Văn hóa - nguồn tài nguyên đặc biệt, luôn có vị trí, vai trò quan trọng đối với sự phát triển đất nước nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Các giá trị văn hóa tốt đẹp của nhân dân Quảng Ninh được hình thành trong suốt chiều dài hàng nghìn năm, đây là nền văn hóa có bản sắc riêng và luôn là sức mạnh, nguồn lực bảo đảm cho sự phát triển bền vững của tỉnh. Văn hóa Quảng Ninh là sự kết hợp hài hòa giữa những tinh hoa văn hóa truyền thống được chắt lọc từ nhiều vùng miền trong cả nước và văn hóa hiện đại ra đời trong cuộc sống công nghiệp, kết hợp bởi nhiều yếu tố, như văn hóa biển đảo, văn hóa công nhân mỏ và sự hội tụ, giao thoa giữa nền văn minh sông Hồng với văn hóa vùng Đông Bắc...

Nguồn tài nguyên văn hóa của Quảng Ninh
Tài nguyên hay nguồn lực văn hóa là khái niệm được dùng thay cho các thuật ngữ di sản hay tài sản văn hóa và những cách thức, phương pháp mới khai thác sử dụng nguồn tài nguyên này.
Tài nguyên văn hóa là toàn bộ những sáng tạo của con người từ quá khứ đến hiện tại và hướng tới tương lai nhằm thích ứng với môi trường tự nhiên, xã hội. Không chỉ mang những giá trị vô giá về tinh thần, biểu tượng, giá trị lịch sử, giáo dục, nhân văn, tài nguyên văn hóa còn có thể đem lại những giá trị gia tăng to lớn về môi trường, về kinh tế - xã hội... nếu được nhận diện, quản lý, sử dụng một cách phù hợp[1].
Theo Hiệp hội Nghiên cứu Tài nguyên Văn hóa Nhật Bản “Tài nguyên văn hóa là dữ liệu quan trọng giúp chúng ta hiểu xã hội và văn hóa của xã hội đó ở một thời điểm nào đó, tài nguyên văn hóa bao gồm cả vật thể và phi vật thể không chỉ lưu giữ trong các bảo tàng, như công trình lịch sử, phong cảnh đô thị, trình diễn nghệ thuật cổ truyền, lễ hội...”[2].
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, Quảng Ninh có vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt. Là một vùng đất có nền văn hiến lâu đời, nền văn hóa của Quảng Ninh được hình thành và phát triển cùng với lịch sử dân tộc, đó là cơ sở hình thành nên hệ giá trị và bản sắc riêng của văn hóa Quảng Ninh.
Quảng Ninh ngày nay có trên 6.000 km2diện tích mặt nước biển. Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo, có trên 2.700 hòn đảo lớn, nhỏ, chiếm hơn 2/3 số đảo của cả nước (2.077/2.779), hơn 40.000ha bãi triều và 20.000ha eo vịnh, trải dài theo đường biển hơn 250km. Đặc biệt, Quảng Ninh có Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới; có nhiều bãi biển đẹp như Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng (Vân Đồn), Trà Cổ (Móng Cái) và các vườn quốc gia, khu bảo tồn như Ba Mùn, Bái Tử Long và Cô Tô[3]. Xét về vị trí, địa hình, có thể thấy một thế đứng cao, có chiều sâu, điểm tựa vững cho tầm nhìn hướng ra biển của Quảng Ninh, Quảng Ninh có 132,8km đường biên giới giáp với Trung Quốc ở phía Bắc. Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ; phía Tây giáp các tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Giang và Hải Dương; phía Nam giáp thành phố Hải Phòng[4]. Vị trí địa lý đặc thù đó có ảnh hưởng rất lớn không chỉ đến tiến trình phát triển của Quảng Ninh mà còn tác động đến sự định hình bản sắc con người Quảng Ninh, văn hóa Quảng Ninh trong suốt chiều dài lịch sử.
Theo các dữ liệu khảo cổ, Vịnh Hạ Long là một trong những cái nôi của người Việt cổ với 3 nền văn hóa tiền sử kế tiếp nhau, cách ngày nay từ 18.000 năm đến 3.500 năm, là văn hóa Soi Nhụ, văn hóa Cái Bèo và văn hóa Hạ Long. Thương cảng Vân Đồn ra đời cùng với trang Vân Đồn vào năm 1149 (thời vua Lý Anh Tông). Khi ấy, thuyền buôn của 3 nước Trảo Oa, Lộ Lạc và Xiêm La đã xin cư trú buôn bán và lập trang ở đây để buôn bán. Đây là thương cảng đầu tiên của người Việt ở thời kỳ độc lập tự chủ. Bản sắc văn hóa biển của mảnh đất Quảng Ninh cũng được dần định hình cùng sự phát triển của thương cảng quốc tế Vân Đồn, nhất là khi Vân Đồn trở thành một mắt xích của mạng lưới thương mại của khu vực Đông Nam Á nói riêng, châu Á nói chung.
Đông Triều được xem là khởi nguồn của vương triều nhà Trần. Vùng đất Quảng Ninh đã chứng kiến chiến thắng lịch sử của tướng Trần Khánh Dư trước giặc Nguyên Mông tại Vân Đồn và trên dòng sông Bạch Đằng. Đặc biệt, Một trong những tài nguyên văn hóa độc đáo của Quảng Ninh chính là khu di tích Phật giáo đậm bản sắc Việt Nam - Yên Tử - vùng đất tổ của Phật giáo Việt Nam, nơi vua Trần Nhân Tông tu hành và sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, tông phái thuần Việt với tư tưởng nhập thế, gắn đạo với đời. Suốt thời kỳ phong kiến tiếp theo, dù thăng hay trầm, Quảng Ninh với các tên gọi khác nhau, vẫn luôn được các triều đại coi trọng... Với non thiêng Yên Tử, Quảng Ninh đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa quan trọng nhất, thâm trầm nhất trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc, ở đó Phật giáo có tính nhập thế cao, đạo với đời hòa làm một để tỏa sáng giá trị nhân ái, bác ái yêu thương, bao dung con người.
Quá trình lịch sử ấy còn để lại trên vùng đất này tới hôm nay số lượng di sản văn hóa lớn, phong phú, đa dạng, đặc sắc gồm 637 Di tích Lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh[5], trong đó các di sản văn hóa vật thể là những đình, chùa, đền, miếu, danh lam thắng cảnh, di sản, kỳ quan thiên nhiên thế giới và hơn 2.800 di sản văn hóa phi vật thể là những phong tục, tập quán, trò chơi dân gian, lễ hội của hơn 42 thành phần dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh, tiêu biểu là 6 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đã được xếp hạng, đó là Lễ hội truyền thống đình Trà Cổ (thành phố Móng Cái); Lễ hội truyền thống Đình Quan Lạn (huyện Vân Đồn); Hát nhà tơ (thành phố Móng Cái); Hát Then (huyện Bình Liêu); Lễ hội Tiên Công (thị xã Quảng Yên) và Lễ hội đền Cửa Ông (thành phố Cẩm Phả).
Bên cạnh những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, Quảng Ninh còn có đặc trưng mang bản sắc riêng của “văn hóa công nhân mỏ” được hình thành và phát triển gần 150 năm nay. Trong quá trình lao động, sản xuất hầm lò, nhất là đấu tranh cách mạng chống lại ách áp bức hà khắc của thực dân và tay sai, công nhân mỏ phải đoàn kết, đồng tâm thành một khối thống nhất để cộng hưởng sức mạnh đấu tranh cùng với hai cuộc kháng chiến chống xâm lược và những thành tựu trong xây dựng đất nước đó là tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm”[6].
Văn hóa Quảng Ninh còn là sự kết tinh bản sắc văn hóa dân tộc của 23 dân tộc anh em sinh sống trên mảnh đất này, trong đó có 22 dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống thành cộng đồng ở khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa phía Đông của tỉnh, trong đó các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Hoa chiếm số đông.
Có thể nói, nguồn tài nguyên văn hóa của Quảng Ninh được thể hiện rõ nét ở truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng, phản ánh qua các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể giàu có, phong phú, đa dạng cùng với tinh thần yêu nước, đoàn kết của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh là nguồn lực vô giá để phát huy bản sắc văn hóa của nhân tố con người trong xây dựng và phát triển tỉnh Quảng Ninh với các đặc trưng: Năng động - Sáng tạo - Hào sảng - Lành mạnh - Văn minh - Thân thiện nhằm thực hiện mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV đã đề ra một giá trị mới của tỉnh và là giá trị đứng đầu tiên trong hệ giá trị của tỉnh gồm: Thiên nhiên tươi đẹp - Hành chính minh bạch - Kinh tế phát triển - Văn hóa đặc sắc - Xã hội văn minh - Nhân dân hạnh phúc. Đối với Quảng Ninh, tài nguyên văn hóa chính là giá trị khác biệt, đặc thù, là cơ hội nổi trội không nơi đâu có được, là một tài sản, nguồn lực, động lực phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt của tỉnh.
Tài nguyên văn hóa - nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững tỉnh Quảng Ninh
Để nâng cao chất lượng xây dựng văn hóa và phát triển con người Việt Nam, Đảng khẳng định nội dung quan trọng nhất là phát triển con người và xây dựng môi trường văn hóa. Ngày 9-6-2014, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 9 (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Nghị quyết đã nhấn mạnh: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến Chân - Thiện - Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[7], văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Như vậy cùng với các nguồn lực kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, quốc phòng - an ninh,... nguồn lực văn hóa cũng được tỉnh Quảng Ninh đánh giá đúng vai trò quan trọng, chi phối, ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến sự phát triển của tỉnh.
Văn kiện Đại hội XIII lần đầu tiên đưa nội hàm “bảo vệ môi trường” trở thành một thành tố của mối quan hệ lớn giữa “Tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”, thể hiện sự phát triển bền vững phù hợp với xu thế của thời đại, đồng thời thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (24-11-2021): “Đứng trước những thời cơ và thách thức mới, yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng nước ta là phải tiếp tục xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là “nền tảng tinh thần”, “động lực phát triển”, và “soi đường cho quốc dân đi”; phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng, tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI”[8].
Để phát huy nguồn lực tài nguyên văn hóa nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững theo Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-3-2018, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành nghị quyết chuyên đề riêng là Nghị quyết số 11-NQ/TU Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, với mục tiêu: Gìn giữ và phát huy bền vững bản sắc văn hóa; các giá trị di sản thiên nhiên, văn hóa, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; xây dựng con người Quảng Ninh với các đặc trưng “Năng động - sáng tạo - hào sảng - lành mạnh - văn minh - thân thiện”.
Bằng sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của cấp ủy, chính quyền; cùng với những lợi thế về địa chính trị, những giá trị văn hóa lịch sử và truyền thống của người Quảng Ninh, trong những năm 2018-2023, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Quảng Ninh đã đạt được nhiều kết quả toàn diện, nổi bật cả trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội.
Để đưa văn hóa thật sự trở thành động lực, là nguồn lực chính của sự phát triển du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung, trong những năm 2018-2023, tỉnh và các địa phương đã quan tâm, bền bỉ huy động nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực xã hội hóa với trị giá hàng nghìn tỷ đồng để đầu tư tu bổ, tôn tạo lại. Năm 2019-2022, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, hầu hết các hoạt động văn hóa, lễ hội không được tổ chức, các di tích, thắng cảnh một thời gian dài không mở cửa đón khách. Tận dụng thời gian này, tỉnh và các địa phương đã đẩy mạnh công tác đầu tư tôn tạo các di tích, danh thắng, nhằm tạo nên những điểm nhấn, sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt, đặc trưng cho Quảng Ninh khi hoạt động du lịch sôi động trở lại. Việc làm này không chỉ có ý nghĩa tri ân các di sản do tiền nhân để lại, giúp các công trình bền vững hơn trước mưa nắng thời gian, mà còn khiến các di tích này trở thành điểm đến có sức hấp dẫn, thu hút trung bình 6 triệu lượt khách du lịch hằng năm, tiêu biểu như Yên Tử, Cửa Ông, Cái Bầu, Ba Vàng...
Các di sản lớn của tỉnh như Vịnh Hạ Long, Yên Tử, Bạch Đằng đều đã và đang được định hướng để trở thành những di sản thế giới liên vùng. Trong đó, Di sản thế giới Vịnh Hạ Long được định hướng mở rộng sang khu vực quần đảo Cát Bà (Hải Phòng), vốn là khu vực biển đảo có mối quan hệ mật thiết với Vịnh Hạ Long về giá trị cảnh quan thiên nhiên, môi trường, văn hóa; di sản Yên Tử mở rộng theo không gian văn hóa trong lịch sử bao gồm 4 khu di tích lớn ở Quảng Ninh (Yên Tử, nhà Trần tại Đông Triều), Hải Dương (khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc và chùa Thanh Mai), Bắc Giang (khu di tích Tây Yên Tử). Nhiều di tích tiếp tục được định hướng nâng tầm giá trị, lập hồ sơ đề nghị công nhận di tích quốc gia đặc biệt giai đoạn tới, như khu di tích Thương cảng cổ Vân Đồn, đình Trà Cổ. Đồng thời, nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị các di sản này gắn với phát triển du lịch và giao lưu văn hóa quốc tế. Nối tiếp những bước đi giai đoạn trước, Quảng Ninh còn định hướng trong việc ưu tiên phát triển và hình thành các khu du lịch quốc gia gắn với các di sản lớn, như Vịnh Hạ Long, Vân Đồn (gắn với di sản Thương cảng cổ Vân Đồn), Yên Tử (gắn với khu di tích - danh thắng Yên Tử).
Nhiều lễ hội đã được phục dựng thành công, bài bản, đúng bản sắc truyền thống của dân tộc, như lễ hội văn hóa, thể thao dân tộc Dao, Tày, Sán Chỉ, Sán Dìu... Từ việc duy trì, phục dựng các lễ hội truyền thống, nhiều giá trị văn hóa đã mai một được bảo tồn, sống lại trong đời sống hôm nay, như các trò chơi dân gian, các loại hình văn hóa, văn nghệ truyền thống, các trang phục truyền thống được đồng bào gìn giữ, trân trọng và sử dụng thường xuyên hơn... Với những giá trị văn hóa độc đáo, một số thôn, làng, bản ở khu vực phía Đông đã, đang được xây dựng để trở thành “bảo tàng sống” nhằm bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống đặc sắc, gắn với phát triển du lịch. Di sản văn hóa và du lịch có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Chính nhờ các di tích, danh thắng, di sản văn hóa khi được công nhận cấp tỉnh, quốc gia hay quốc tế đã được quan tâm trùng tu, tôn tạo tốt hơn, trở thành tiền đề quan trọng để du lịch phát triển. Ở chiều ngược lại, du lịch phát triển đã tạo nguồn lực đầu tư trở lại cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị của di sản cũng như mang đến lợi ích kinh tế, xã hội cho cộng đồng. Một số lễ hội mới được xây dựng thành sản phẩm văn hóa thường niên như lễ hội xuân Yên Tử, Camaval, lễ hội hoa Anh đào - Mai vàng Yên Tử, lễ hội hoa sở, lễ hội trà hoa vàng, lễ hội Tiên Công,...
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự hỗ trợ của Trung ương và phát huy bản lĩnh, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần năng động, sáng tạo, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã tích cực phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh” dựa vào ba trụ cột (thiên nhiên, con người, văn hóa), kết hợp với xu thế hòa bình, hợp tác, hội nhập và cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; trên cơ sở đó, tập trung phát triền công nghiệp dịch vụ, công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí dựa trên nên tảng công nghiệp sáng tạo. Nhờ đó, nền kinh tế của tỉnh liên tục tăng trưởng cao, ổn định; tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt mức tăng trưởng 2 con số trong 7 năm liên tiếp (2016 - 2022) trong điều kiện bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh COVID-19: Năm 2020 đạt 10,05%, năm 2021 đạt 10,12%, năm 2022 đạt 10,28%, ước năm 2023 đạt 11%, bình quân giai đoạn 2021 - 2023 tăng 10,4%/năm, lập nên kỳ tích trong công cuộc đổi mới. Quy mô nền kinh tế tăng nhanh, hết năm 2022 đạt gần 270.000 tỷ đồng, ước năm 2023 đạt 312.420 tỷ đông, tăng 1,5 lần so với năm 2020 và luôn nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước; GRDP bình quân đầu người năm 2022 đạt 8.291 USD (gấp đôi bình quân chung của cả nước, cao nhất ở khu vực phía Bắc), ước năm 2023 đạt 9.469 USD, gấp 1,4 lần so với năm 2020[9]. Cùng với phát triển kinh tế, tỉnh Quảng Ninh đã quan tâm giải quyết tốt, hài hòa các vấn đề xã hội, đặc biệt trong phát triển văn hóa, bảo đảm an sinh và công bằng, tiến bộ xã hội; nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Quốc phòng, an ninh, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; hoạt động đối ngoại được đẩy mạnh.
Để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội và trở thành năng lực nội sinh, nguồn tài nguyên thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững cần chú trọng một số vấn đề sau:
Một là, tỉnh cần bám sát và thực hiện hiệu quả những chủ trương, chính sách của Trung ương về phát triển tài nguyên văn hóa, trên cơ sở đó, xác định đúng đắn vị trí, vai trò của văn hóa trong việc trở thành nguồn lực, nguồn tài nguyên để phát triển kinh tế - xã hội. Đảng bộ, chính quyền tỉnh Quảng Ninh kịp thời đề ra những chủ trương, quan điểm nhằm tăng cường khai thác thế mạnh của tài nguyên văn hóa.
Hai là, quán triệt sâu sắc nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc - nguồn tài nguyên văn hóa: Các di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, nghệ nhân, sản phẩm văn hóa... chính là các nguồn lực văn hóa có khả năng tạo nên sức mạnh mềm văn hóa Quảng Ninh.
Ba là, đẩy mạnh xây dựng ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa. Đây là biểu hiện tập trung của mối quan hệ ngày càng sâu sắc giữa kinh tế và văn hóa. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp văn hóa như điện ảnh, quảng cáo, giải trí kỹ thuật số... Đẩy mạnh hiện đại hóa hệ thống báo chí, xuất bản, truyền thanh, truyền hình nhằm quảng bá hình ảnh mảnh đất và con người Quảng Ninh với cả nước và thế giới.
Bốn là, chú trọng đầu tư và phát triển du lịch văn hóa - phát huy sức mạnh mềm văn hóa. Du lịch văn hóa mang lại nguồn thu, giải quyết việc làm, tạo đổi sinh kế, góp phần bảo đảm an sinh xã hội... Cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch để có thể chuyển tải được tối đa hàm lượng văn hóa vào trong các sản phẩm du lịch. Cần đầu tư để đa dạng hóa các loại hình du lịch và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch.
Có thể thấy, trong những năm 2018 - 2023, với định hướng phát triển kinh tế - xã hội gắn với văn hóa, du lịch của tỉnh là một hướng đi đúng, hiệu quả, để các giá trị văn hóa lan tỏa sức sống mạnh mẽ trong đời sống hôm nay; nguồn thu từ du lịch được đầu tư trở lại cho bảo tồn các giá trị văn hóa. Đây là cơ sở để văn hóa tự nuôi sống mình, từng bước giải bài toán khó nhiều năm qua về nguồn kinh phí ngân sách đầu tư cho văn hóa, thổi luồng gió mới vào hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa.
***
Văn hóa là một lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội, có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Sẽ không thể có một sự phát triển nhanh và bền vững nếu không phát huy được nội lực của chính quốc gia đó. Mà nội lực quan trọng nhất của mỗi một quốc gia chính là con người - chủ thể sáng tạo ra bản sắc văn hóa của quốc gia đó. Phát huy tài nguyên văn hóa vừa là yêu cầu, vừa là giải pháp để thực hiện khát vọng xây dựng đất nước nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Nhấn mạnh vai trò của tài nguyên văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta...”. Trong bối cảnh Quảng Ninh đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi phải có một chiến lược tổng thể về phát triển tài nguyên, nguồn lực văn hóa tương xứng./.
[1] Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Đề dẫn Hội thảo khoa học: “Sử dụng hợp lý tài nguyên văn hóa cho phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh”.
[2] Shinji Yamashita 2010, Cultural Heritage in the Age of Globalization: A Perspective from the Anthropology of Cultural Resource, trong Cultural Resource Studies Asian Linkage Building Seminar 2010, Working Papers, Kanazawa University, 2010:7.
[3] Phát triển kinh tế biển đảo - bước tiến đột phá của Quảng Ninh, Cổng thông tin điện tử Quảng Ninh, truy cập ngày 20-3-2023, https://www.quangninh.gov.vn/pinchitiet.aspx?nid=44705.
[4] “Vị trí địa lý tỉnh Quảng Ninh”, Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, https://www.quangninh. gov.vn/Trang/ChiTietBVGioiThieu.aspx?bvid=457.
[5] Gồm 6 di tích xếp hạng cấp quốc gia đặc biệt, 58 di tích cấp quốc gia, 82 di tích cấp tỉnh, 482 di tích kiểm kê, phân loại; có 362 di sản văn hóa phi vật thể trong đó có 6 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; có khoảng 80 địa điểm khảo cổ trong đó nhiều địa điểm khảo cổ là di tích.
[6] Tỉnh ủy Quảng Ninh, Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU, ngày 9-3-2018, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững”, tháng 3-2022.
[7]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI,Văn phòng Trung ương Đảng, tr. 46-47.
[8] Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bài phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (24-11-2021).
[9] Tỉnh ủy Quảng Ninh, Báo cáo số 390-BC/TU Sơ kết thực hiện Nghị quyết Đại hội XV của Đảng bộ tỉnh giữa nhiệm kỳ 2020 - 2025 gắn với thực hiện Nghị quyết XIII của Đảng, ngày 13-7-2023.
