Kinh tế và Hội nhập

Phát huy hiệu ứng lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Nguyễn Thường Lạng - PGS, TS, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân 08/07/2026 07:33

Theo đánh giá của Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8-6-2026, của Bộ Chính trị, “Về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, mức độ liên kết và hiệu ứng lan tỏa của khu vực này với toàn bộ nền kinh tế còn hạn chế, cần tiếp tục được nâng cao.

fdi-6.jpg
Tính đến năm 2025, quy mô vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện đạt khoảng 250 tỷ USD, khu vực này đóng góp 22% vốn đầu tư toàn xã hội, trên 70% kim ngạch xuất khẩu của cả nước_Ảnh: minh họa/TTXVN

Tiềm năng lan tỏa lớn

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hình thành tại Việt Nam từ khi Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực năm 1988. Tính đến năm 2025 - sau gần 40 năm, quy mô vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện đạt khoảng 250 tỷ USD.

Khu vực này đóng góp 22% vốn đầu tư toàn xã hội, trên 70% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, góp phần tạo việc làm, mở rộng thị trường và cải thiện vị thế quốc gia.

Với tiềm lực vốn lớn, công nghệ cao, chuỗi cung ứng hiệu quả, mô hình kinh doanh hiện đại, năng lực cạnh tranh cao và khả năng sinh lợi của đồng vốn, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có khả năng liên kết, thu hút nguồn lực, phát huy hiệu ứng lan tỏa ở cả đầu vào và đầu ra.

Thông thường, đầu tư của công ty xuyên quốc gia - chủ thể chính của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - sở hữu nhiều lợi thế có tiềm năng lan tỏa lớn đối với cả quốc gia đầu tư và quốc gia tiếp nhận.

Theo Báo cáo đầu tư toàn cầu năm 2025 (UNCTAD), tổng vốn FDI toàn cầu năm 2024 giảm nhẹ so với năm 2023, từ 1.673 tỷ USD xuống 1.493 tỷ USD. Trong giai đoạn 2020 - 2024, quy mô bình quân năm khoảng 1.500 tỷ USD - gấp 1,5 lần thời điểm thấp nhất trong đại dịch COVID-19, chủ yếu do công ty xuyên quốc gia thực hiện. Điều này cho thấy quy mô di chuyển vốn rất lớn, tác động lan tỏa quan trọng đến nước đầu tư và nước tiếp nhận.

Về lan tỏa đầu vào, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài huy động nhanh nguồn vốn quy mô lớn, tiếp cận nhanh đất đai và thu hút lao động chi phí thấp, kể cả cán bộ quản lý, kỹ thuật, điều hành trình độ cao; xây dựng chuỗi cung ứng nguyên nhiên liệu, năng lượng, linh kiện, chi tiết, phụ tùng và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ khác ổn định, đầy đủ, chất lượng cao, giá cả cạnh tranh; khai thác dịch vụ logistics, viễn thông và các dịch vụ kinh doanh khác.

Các biện pháp khuyến khích của nước sở tại như miễn, giảm thuế, phí, tiền thuê đất, ưu đãi từ cam kết trong các hiệp định thương mại tự do cũng được tận dụng ở mức cao.

Về lan tỏa đầu ra, khu vực này xây dựng mạng lưới đối tác tin cậy, thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước quy mô lớn, gồm hệ thống bán buôn, bán lẻ và đối tác tiếp nhận công nghệ chuyển giao.

Việc lan tỏa tác động làm tăng kinh nghiệm cạnh tranh, phát triển sâu thị trường, thương mại hóa kịp thời kết quả nghiên cứu và phát triển (R&D).

Tác động lan tỏa mở rộng không ngừng gắn với yêu cầu bảo vệ lợi ích nhà đầu tư, hài hòa lợi ích với đối tác trong nước, tuân thủ tiêu chuẩn lựa chọn lĩnh vực lan tỏa, sàng lọc đối tác tin cậy để kết nối phù hợp với chiến lược đầu tư và duy trì năng lực chống chịu trước biến động bất lợi của thị trường, cạnh tranh, cũng như giảm rủi ro do thay đổi chính sách và xu hướng dịch chuyển vốn toàn cầu.

Hiệu ứng tại Việt Nam

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trở thành một thành phần quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, khẳng định thành công quan trọng của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Sự phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế này cả về quy mô, sức cạnh tranh, tiềm lực tài chính, công nghệ, mô hình kinh doanh hiện đại cho thấy Việt Nam đã tiếp nhận được những tác động tích cực của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, thực tế tiếp cận này của doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam còn hạn chế ở một số mặt sau:

Một là, hoạt động chuyển giao công nghệ cao từ đối tác nước ngoài vào doanh nghiệp trong nước còn khiêm tốn. Trong khoảng 40 năm thu hút vốn nước ngoài, số bằng sáng chế và công nghệ được chuyển giao vào trong nước không đáng kể.

Trong khi đó, Trung Quốc đã có kinh nghiệm trong việc yêu cầu nhà đầu tư chuyển giao công nghệ trong vòng 5 năm đầu tư tại quốc gia. Doanh nghiệp nội địa Trung Quốc nhanh chóng tiếp nhận và thương mại hóa công nghệ chuyển giao này.

Hai là, đầu tư cho công tác R&D trong GDP còn thấp, chỉ 0,41% GDP nên khó tạo được nền tảng R&D đủ mạnh để kết nối với nhà đầu tư nước ngoài, cũng như khó thương mại hóa những kết quả nghiên cứu có khả năng tạo đột phá.

Tỷ lệ đầu tư này cho thấy quyết tâm giải mã, làm chủ công nghệ của đối tác Việt Nam còn hạn chế, khó tạo được sản phẩm hay dịch vụ chất lượng cao, tinh xảo, hiện đại, đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng cao cấp, chặt chẽ, với những yêu cầu khắt khe của đối tác nước ngoài.

Vì thế, Việt Nam chủ yếu đảm nhận các khâu công việc đơn giản, có giá trị gia tăng thấp; công nghiệp hỗ trợ còn năng lực hạn chế, thậm chí rơi vào “bẫy gia công đơn giản”.

Ba là, sự chuẩn bị của đội ngũ doanh nghiệp trong nước trong việc chủ động, tích cực và toàn diện tiếp nhận và phát huy tác động lan tỏa cả đầu vào và đầu ra chưa thật đầy đủ và thực chất. Các doanh nghiệp thiếu sự liên kết chặt chẽ, đầu tư dàn trải do thiếu định hướng từ xác lập mô hình tăng trưởng phù hợp.

Đến giai đoạn 2024 - 2026, với sự xuất hiện của một loạt nghị quyết quan trọng về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Nghị quyết số 57-NQ/TW), phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68-NQ/TW), phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW), phát triển khởi nghiệp sáng tạo (Nghị quyết số 86-NQ/TW), đã tạo chỗ dựa vững chắc về thể chế và đặt đúng trọng tâm phát triển lực lượng doanh nghiệp làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ kết nối để tiếp nhận tác động này.

fdi-7.jpg
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trở thành một thành phần quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, khẳng định thành công quan trọng của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (trong ảnh: Một góc Thành phố Hồ Chí Minh)_Ảnh: TL

Phát huy hiệu ứng lan tỏa trong giai đoạn mới

Trong giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn 2045, vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng lên. Trong giai đoạn 1988 - 2006, vốn thực hiện bình quân năm 2,4 tỷ USD. Trong giai đoạn 2007 - 2020, khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), số vốn thu hút tăng lên 13,8 tỷ USD.

Giai đoạn 2021 - 2025, với việc thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20-8-2019, của Bộ Chính trị, về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030; các cam kết trong Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) cùng với các hiệp định thương mại tự do khác, số vốn tăng lên 23,7 tỷ USD.

Theo Nghị quyết số 10, giai đoạn 2026 - 2030, quy mô vốn tăng lên 30 - 40 tỷ USD và theo đà phát triển đất nước, giai đoạn 2031 - 2045 phấn đấu đạt 40 - 50 tỷ USD.

Bảng 1: Vốn nước ngoài thực hiện giai đoạn 1988 - 2045

(Đơn vị: tỷ USD)

Giai đoạnVốn thực hiện bình quân năm
1988 - 20062,4
2007 - 202013,8
2021 - 202523,7
2026 - 203030 - 40
2031 - 204540 - 50

Nguồn: Cục Thống kê Nghị quyết số 10-NQ/TW

Trong điều kiện quy mô vốn tăng lên gấp nhiều lần sau mỗi chu kỳ thu hút 10 năm và đây là đặc điểm của giai đoạn phát triển mới của đất nước, việc phát huy hiệu ứng lan tỏa của khu vực này là cần thiết đối với toàn bộ nền kinh tế, từ cơ chế, chính sách đến từng doanh nghiệp trong từng ngành công nghiệp.

Theo đó, cần triển khai các giải pháp đồng bộ và Nghị quyết số 10-NQ/TW là bước tiến quan trọng về thể chế để thực hiện mục tiêu này.

Một là, nâng cao nhận thức về tác động lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với doanh nghiệp và nền kinh tế; thúc đẩy quá trình học hỏi, giải mã bí quyết công nghệ, mô hình quản trị, mô hình kinh doanh của đối tác quốc tế; đa dạng hóa các kênh kết nối để doanh nghiệp trong nước tiếp cận công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ cao, qua đó hạn chế nguy cơ tụt hậu trong chuỗi giá trị.

Hai là, tăng cường phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong phát huy tác động lan tỏa. Nhà nước kiến tạo hệ sinh thái phát triển, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn và các mục tiêu cụ thể, như bảo đảm tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp then chốt đạt 45% - 50%, thu hút vốn từ các tập đoàn trong danh mục Fortune 500, khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ và mô hình quản lý.

Doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực để trở thành đối tác tin cậy, đáp ứng tiêu chuẩn, kỷ luật, năng suất và yêu cầu tuân thủ trong kết nối lâu dài với khu vực đầu tư nước ngoài.

Ba là, chủ động xây dựng đề án riêng về phát huy và khai thác tác động lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, coi đây là phương thức tăng cường học hỏi, giải mã bí quyết công nghệ, mô hình kinh doanh và phát triển mạng lưới liên kết với các đối tác quan trọng.

Như vậy, tác động lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một đặc trưng khách quan gắn với quá trình di chuyển vốn đầu tư quốc tế cần được tiếp nhận đầy đủ, toàn diện và có chọn lọc.

Nước tiếp nhận cần có chiến lược, chính sách và biện pháp hữu hiệu để phát huy tác động này ở cả cấp độ hoàn thiện cơ chế, chính sách, công cụ, biện pháp lẫn cấp độ doanh nghiệp trong từng ngành cụ thể, với chiến lược kết nối sâu, dựa trên cải thiện năng lực tiếp cận và tiếp nhận đầy đủ, thực chất, sáng tạo mọi tác động lan tỏa trong từng ngành, địa phương và phù hợp với đối tác quốc tế./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Phát huy hiệu ứng lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO