Chính trị - Thời sự

Phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư nước ngoài cùng nội lực đất nước kiến tạo năng lực phát triển mới

Thu Thanh 30/06/2026 10:44

Sáng 30-6, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8-6-2026, của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

lanh-dao.jpg
Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham dự Hội nghị tại điểm cầu Trung ương_ Ảnh: VGP

Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối từ điểm cầu chính tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội tới các điểm cầu của các ban, bộ, ngành, địa phương trong cả nước.

Việc tổ chức hội nghị toàn quốc sau khi Nghị quyết được ban hành thể hiện yêu cầu cấp thiết trong thống nhất nhận thức, hành động và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đối với lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược trong tiến trình phát triển đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và chỉ đạo hội nghị. Cùng dự hội nghị có các Ủy viên Bộ Chính trị: Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.

Tham dự Hội nghị tại điểm cầu Trung ương và điểm cầu tại các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương; lãnh đạo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, một số tập đoàn, doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tập đoàn, doanh nghiệp của nhà nước, tư nhân; các đồng chí Bí thư, Phó Bí thư, Ủy viên Ban Thường vụ, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ các tỉnh ủy, thành ủy; lãnh đạo các ban, sở, ngành, tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh; các ủy viên ban chấp hành đảng bộ cấp xã, ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp xã, lãnh đạo các phòng, ban, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp cấp xã.

Toàn cảnh HN
Toàn cảnh Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8-6-2026, của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài_Ảnh: VGP

Hội nghị được kết nối với gần 35.000 điểm cầu ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, cơ quan, đơn vị, quân khu, quân chủng, quân đoàn trên toàn quốc với gần 2,1 triệu đại biểu tham dự Hội nghị tại các điểm cầu.

Tại hội nghị, các đại biểu đã xem phim “40 năm thu hút đầu tư nước ngoài” và nghe đồng chí Phạm Gia Túc - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ - truyền đạt Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8-6-2026, của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục biến động, cạnh tranh thu hút đầu tư chất lượng cao ngày càng gay gắt, chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc sâu rộng, Nghị quyết số 10-NQ/TW được xác định là định hướng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn FDI trong giai đoạn mới.

Nghị quyết khẳng định, sau gần 40 năm đổi mới và mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã không ngừng phát triển, trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia.

Khu vực này không chỉ bổ sung nguồn lực đầu tư cho phát triển, mà còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu, từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Thông qua dòng vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã tiếp nhận thêm công nghệ, phương thức quản trị tiên tiến, kinh nghiệm tổ chức sản xuất hiện đại, đồng thời tạo thêm nhiều việc làm, đóng góp vào đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao năng lực hội nhập của nền kinh tế.

Sự hiện diện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong nhiều lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, xuất khẩu, công nghiệp chế biến, chế tạo đã góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tuy nhiên, Nghị quyết cũng thẳng thắn chỉ rõ, chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng vốn đầu tư nước ngoài chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển mới.

Tỷ lệ dự án thâm dụng lao động, tài nguyên, đất đai, năng lượng, gia công, lắp ráp còn cao; tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng hình thành tại Việt Nam còn thấp; liên kết giữa khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ; chuyển giao công nghệ còn hạn chế. Ở một số địa phương vẫn còn tình trạng cạnh tranh thu hút đầu tư thiên về số lượng.

Trước thực tế đó, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh tư duy phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: từ chủ yếu thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, giá trị gia tăng, khả năng tham gia chuỗi cung ứng và mức độ liên kết với khu vực kinh tế trong nước làm tiêu chí chủ yếu.

Theo Nghị quyết, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác theo quy định của pháp luật.

Khu vực này không chỉ là nguồn bổ sung vốn trung và dài hạn, mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực và mở rộng thị trường.

Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược và sức cạnh tranh của nền kinh tế; mở rộng mạng lưới thị trường; tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu; đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững; giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

phamgiatuc-17827850250741503729211.jpg
Đồng chí Phạm Gia Túc - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ - truyền đạt Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8-6-2026, của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài_Ảnh: VGP

Một điểm nhấn quan trọng của Nghị quyết là yêu cầu phát triển đồng bộ, thống nhất hệ sinh thái đầu tư nước ngoài, gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, hạ tầng logistics, dữ liệu và năng lượng.

Nghị quyết khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài hình thành trụ sở khu vực, trung tâm điều hành, trung tâm nghiên cứu, thiết kế, dịch vụ của khu vực tại Việt Nam.

Cùng với đó, Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài; bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định, nhất quán, chi phí tuân thủ thấp, có khả năng dự báo cao và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Đây là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin của nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư công nghệ cao và các tập đoàn đa quốc gia.

Nghị quyết xác định mục tiêu tổng quát là đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh trong thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển.

Việc quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài phải góp phần nâng cao năng lực sản xuất, tạo liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia; tạo động lực quan trọng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045.

Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu phấn đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.

Giai đoạn 2026 - 2030, phấn đấu thu hút vốn đầu tư nước ngoài đăng ký khoảng 200 - 300 tỷ USD, tương đương 40 - 50 tỷ USD mỗi năm; vốn thực hiện khoảng 150 - 200 tỷ USD, tương đương 30 - 40 tỷ USD mỗi năm.

Nghị quyết cũng đặt mục tiêu 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam tăng 30%.

Đồng thời, Việt Nam phấn đấu thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư trung tâm nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành và trung tâm dịch vụ dùng chung.

Đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được định hướng phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo, điều hành khu vực có sức cạnh tranh cao ở châu Á, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; thị trường vốn phát triển hiện đại, minh bạch, an toàn, tiệm cận thông lệ quốc tế.

Phấn đấu đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 30% GDP của đất nước, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Để thực hiện mục tiêu trên, Nghị quyết đề ra nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trước hết là đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại, điều hành theo kết quả; khắc phục tình trạng cạnh tranh thu hút đầu tư chạy theo số lượng; kiên quyết không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội và an ninh kinh tế để lấy tăng trưởng đơn thuần.

Cùng với đó là hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; bảo đảm hệ thống pháp luật công khai, minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo cao.

Cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cần đổi mới theo hướng gắn với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư về công nghệ, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực Việt Nam, phát triển nhà cung ứng trong nước, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hiệu quả sử dụng đất, tài nguyên, năng lượng.

Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của các ngành, lĩnh vực ưu tiên, các cụm liên kết ngành, khu công nghiệp, khu công nghệ cao và dự án chiến lược; đẩy mạnh liên kết giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật, dữ liệu, tự động hóa, quản trị sản xuất, logistics, tài chính và những ngành mới có nhu cầu cao được xác định là trọng tâm đào tạo, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động.

Về lĩnh vực ưu tiên, Nghị quyết xác định tập trung thu hút đầu tư vào công nghiệp điện tử, chip bán dẫn và thiết bị số; trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật, chuỗi khối; công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến, công nghiệp xanh; logistics hiện đại, dịch vụ chuỗi cung ứng, dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo và các dịch vụ giá trị gia tăng cao.

Đặc biệt, Nghị quyết yêu cầu thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số, chuyển giao công nghệ, tăng tính lan tỏa và liên kết với khu vực kinh tế trong nước.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích, yêu cầu cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo người lao động Việt Nam, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.

Bên cạnh thu hút đầu tư có chọn lọc, Nghị quyết đặt ra nhiệm vụ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Phân cấp, phân quyền phải đi đôi với tăng cường điều phối quốc gia, liên kết vùng, thanh tra, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.

Các dự án, giao dịch liên quan đến lĩnh vực, địa bàn, doanh nghiệp, công trình, hạ tầng trọng yếu hoặc nhạy cảm cần được rà soát, phối hợp thẩm định và quản trị rủi ro phù hợp.

Nghị quyết yêu cầu xây dựng và vận hành Cổng một cửa đầu tư quốc gia theo hướng số hóa toàn trình, liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương; thực hiện nguyên tắc khai một lần, dùng nhiều lần.

Đồng thời, cần tổ chức thực hiện Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo người Việt Nam, phát triển nhà cung ứng, đóng góp ngân sách nhà nước, bảo vệ môi trường, tuân thủ pháp luật và an ninh kinh tế làm tiêu chí chủ yếu.

Để Nghị quyết đi vào cuộc sống, Bộ Chính trị phân công rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện. Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, hoàn thiện pháp luật về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường giám sát việc thực hiện.

Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Chương trình hành động triển khai Nghị quyết; ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật cần thiết; xác định nhóm ngành, lĩnh vực cốt lõi ưu tiên thu hút trong từng giai đoạn.

Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, đảng ủy các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan liên quan có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hành động với nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình phù hợp; phân công cụ thể trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị thực hiện.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan tham mưu tổ chức quán triệt, tăng cường tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị quyết.

doanh-nghiep-fdi.jpg
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham dự Hội nghị_Ảnh: VGP

Phát biểu tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW là rất rõ: phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và vị thế quốc gia.

Tổng Bí Thư Tô Lâm đề nghị toàn hệ thống chính trị quán triệt sâu sắc, tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ và hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đã được Nghị quyết đề ra; coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo động lực mới cho phát triển nhanh, bền vững, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW là bước khởi đầu quan trọng để đưa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết vào thực tiễn.

Tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết là chuyển từ “thu hút được vốn” sang “chọn được dòng vốn chất lượng cao”; từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ theo kết quả; từ cạnh tranh địa phương sang điều phối chiến lược quốc gia; từ gia công, lắp ráp sang công nghệ lõi, đổi mới sáng tạo và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Việc triển khai hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ góp phần tạo lập động lực mới cho tăng trưởng nhanh, bền vững; nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực tự chủ chiến lược và vị thế quốc gia; đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư nước ngoài cùng nội lực đất nước kiến tạo năng lực phát triển mới
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO