Bên lề sự kiện

Những sai lầm lịch sử trong làm chủ công nghệ lõi

Gia Ngọc 28/04/2026 14:39

Nhu cầu làm chủ công nghệ lõi là chiến lược của nhiều quốc gia từ lâu nay. Nhưng trong lịch sử, không phải lúc nào các cường quốc cũng thành công với chiến lược làm chủ công nghệ lõi của mình.

b14.jpg
Một phòng học lập trình máy tính ở Liên Xô những năm 80 thế kỷ XX_Ảnh: TL

Liên Xô: Sai lầm trong chiến lược sao chép, thiếu hụt chuỗi cung ứng

Liên Xô có nền toán học và vật lý rất mạnh, có giai đoạn công nghệ của họ không chênh lệch là bao so với phương Tây. Đến năm 1965, Liên Xô chuyển hướng từ phát triển thiết kế riêng sang bắt chước công nghệ máy tính phương Tây, đặc biệt là kiến trúc IBM/360. Từ đó về sau, ngành công nghệ thông tin Liên Xô càng phụ thuộc vào sao chép công nghệ Mỹ và tụt lại xa hơn.

Lựa chọn “copy để rút ngắn khoảng cách” trong một ngành thay đổi quá nhanh có lẽ là sai lầm lớn nhất. Trong ngành bán dẫn và máy tính, chỉ cần chậm một thế hệ là đã hụt hơi. Khi Liên Xô sao chép thế hệ cũ xong, thế giới đã sang thế hệ mới.

Lựa chọn này khiến trong một thời gian rất dài, Liên Xô về cơ bản không có đóng góp công nghệ mang tính đột phá, lâu dài, còn chuyển giao công nghệ chủ yếu diễn ra từ xa qua tài liệu thay vì qua các cơ chế hiệu quả như liên doanh hay mạng lưới thị trường.

Sai lầm thứ hai là coi công nghệ lõi chủ yếu là phần cứng, trong khi bỏ qua hệ sinh thái sử dụng. Nghiên cứu của Giáo sư công nghệ nổi tiếng Seymour Goodman chỉ ra Liên Xô dùng máy tính cho ứng dụng dân sự ít hơn nhiều so với phương Tây, gây ảnh hưởng tiêu cực lâu dài tới cách thiết kế và mức hữu dụng của máy tính.

Liên Xô có máy tính, nhưng không tạo ra được hệ sinh thái ứng dụng, dịch vụ, phần mềm và người dùng đủ mạnh để kéo công nghệ đi lên. Việc coi máy tính là những “cỗ máy tính toán khổng lồ”, xem nhẹ ứng dụng xử lý dữ liệu cho kinh tế, xã hội,... khiến Liên Xô bỏ lỡ làn sóng máy tính cá nhân bùng nổ ở phương Tây vào thập niên 80 của thế kỷ XX.

Sai lầm thứ ba, có phần khách quan, là không có chuỗi cung cấp công nghệ chất lượng. Khác với Mỹ có cả một mạng lưới cung cấp toàn cầu, Liên Xô thiếu linh kiện chất lượng cao để làm phần cứng tin cậy, dịch vụ phần cứng và phần mềm yếu hoặc không có, các đơn vị sản xuất thiếu động lực cạnh tranh, còn tổ chức công nghiệp chồng chéo dẫn đến thiếu hụt nghiêm trọng.

Nguồn của Seymour Goodman thậm chí mô tả việc người dùng phải tự lo bảo trì, thư viện phần mềm không được tổ chức và kiểm soát chất lượng.

Brazil: Bảo hộ quá mức dẫn đến tụt hậu

Brazil trong thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX theo đuổi một chính sách rất tham vọng: phát triển ngành công nghệ thông tin nội địa bằng cách hạn chế nhập khẩu, ưu đãi doanh nghiệp trong nước, yêu cầu nội địa hóa và áp điều kiện về tài chính và công nghệ với doanh nghiệp nước ngoài.

Tưởng như đây là cách ươm mầm công nghệ lõi khá hợp lý, nhưng Brazil đã mắc một sai lầm điển hình: tường rào dựng lên quá kín và giữ quá lâu. Sản phẩm công nghệ nội địa được bảo vệ nhiều đến mức không còn bị sức ép phải tốt lên đủ nhanh. Hơn nữa, chính sách này dẫn đến tình trạng buôn lậu công nghệ đáng kể.

Sai lầm bảo hộ càng trở nên trầm trọng, khi thứ mà họ chọn nội địa hóa lại là công nghệ đang lỗi thời, sản xuất trong nước những sản phẩm công nghệ thông tin đang bị thế giới vượt qua quá nhanh chóng. Đây là lỗi cực nặng trong công nghệ lõi: đầu tư lớn, nhưng bám vào công nghệ không còn là tương lai.

Người dùng ở Brazil phải chịu giá cao, chất lượng sản phẩm thấp, công nghệ lạc hậu. Công nghệ thông tin chậm thâm nhập vào sản xuất. Chính sách bảo hộ dẫn đến tranh chấp dữ dội với các công ty toàn cầu, vì họ không muốn trở thành đối tác phụ và chuyển giao công nghệ sở hữu độc quyền.

Xung đột quanh MS-DOS, đe dọa trả đũa thương mại từ Mỹ,... khiến chính sách bị nới lỏng và cuối cùng bị đảo ngược vào thập niên 90 của thế kỷ trước, dẫn tới sự sụp đổ của nhiều doanh nghiệp công nghệ trong nước.

Nhật Bản mắc kẹt với dự án FGCS

Năm 1982, Nhật Bản khởi động dự án FGCS (Hệ thống máy tính thế hệ 5). Đây là chương trình quốc gia kéo dài 10 năm nhằm xây dựng thế hệ máy tính mới dựa trên xử lý song song quy mô lớn và lập trình logic, tham vọng tạo ra nền tảng cho trí tuệ nhân tạo (AI) tương lai.

b15.jpg
Một phòng làm việc được trang bị máy tính thế hệ 5 (FGCS) tại Nhật Bản_Ảnh: TL

FGCS tạo ra một số thành công về mặt học thuật, nhưng thất bại rõ ràng về thương mại. Dự án này không chỉ yêu cầu người dùng chấp nhận một loại máy mới, mà còn phải học một cách viết phần mềm mới, tư duy mới, và chấp nhận phần cứng đắt hơn.

Chưa kể việc đóng gói “công nghệ lõi” như một hệ kín khiến FGCS bị những hệ thống ít chuyên biệt hơn như workstation của Sun và kiến trúc Intel x86 vượt qua.

Đây là bài học rất lớn: trong công nghệ lõi, không phải giải pháp kỹ thuật tinh xảo hơn sẽ thắng, mà thường giải pháp có hệ sinh thái rộng hơn, rẻ hơn, phổ thông hơn mới thắng.

Chưa kể, FGCS dù rất mạnh về kiến trúc và ngôn ngữ, nhưng yếu trong tri thức thực tế, chuyển thành ứng dụng hữu ích đưa vào đời sống, nên cuối cùng chỉ có thể trở thành một màn trình diễn kỹ thuật mà chưa tạo ra năng lực cốt lõi có giá trị kinh tế rộng lớn.

FGCS không thất bại hoàn toàn mà có những đóng góp tích lũy năng lực nghiên cứu cho Nhật Bản, nhưng xét tiêu chí “làm chủ công nghệ lõi để dẫn dắt thị trường” thì đây là thất bại điển hình của bước nhảy công nghệ bị mắc kẹt bởi giả định kỹ thuật sai.

Nokia đánh mất lõi nền tảng hệ điều hành và hệ sinh thái

Nokia không hề yếu về công nghệ nói chung, nhưng lại đánh mất đúng phần công nghệ lõi quyết định cuộc chơi mới. Quá mạnh trong kỷ nguyên điện thoại phổ thông, Nokia rớt đài khi chuyển sang smartphone - nơi lõi không còn chỉ là thiết bị cầm tay hay sóng vô tuyến, mà là hệ điều hành, bộ công cụ cho lập trình viên, kho ứng dụng, dịch vụ và tốc độ đổi mới nền tảng.

Báo cáo Form 20-F năm 2011 của chính Nokia cho thấy rõ cuộc khủng hoảng: sau khi công bố hợp tác với Microsoft và chọn Windows Phone làm nền tảng smartphone chính, hãng kỳ vọng bán thêm khoảng 150 triệu thiết bị Symbian. Nhưng nhu cầu với Symbian suy giảm rất nhanh, và trong lúc Nokia loay hoay chuyển nền tảng, các đối thủ lại tiến quá nhanh.

b16.jpg
Một số loại điện thoại chạy hệ điều hành Symbian của Nokia_Ảnh: TL

Chuyển nền tảng quá muộn, Nokia lại bị “đứt gãy” trong làm chủ công nghệ lõi: lõi cũ là Symbian đã yếu đi, còn lõi mới là Windows Phone chưa đủ mạnh.

Nhà mạng và người tiêu dùng không còn thấy Symbian hấp dẫn trong giai đoạn chuyển đổi; các nhà phát triển ứng dụng, dịch vụ, nội dung cho Symbian rút lui. Nhưng Windows Phone không phát triển được hệ sinh thái cạnh tranh với Android và iOS.

Thừa nhận rủi ro lớn nếu hệ sinh thái Windows Phone không đủ sức cạnh tranh và tạo khác biệt, nhưng Nokia không thể làm gì khác một khi đã lựa chọn phụ thuộc vào lõi của đối tác, thay vị tự kiểm soát lõi chiến lược.

Rất giỏi về phần cứng, chuỗi cung ứng và có thương hiệu tốt, nhưng rõ ràng Nokia chưa hiểu toàn diện về nền tảng trung tâm, đánh giá chưa đầy đủ hiệu ứng mạng của hệ sinh thái ứng dụng. Khác với điện thoại di động cổ điển, trong thời đại smartphone, hệ điều hành không thể thắng chỉ bằng thông số kỹ thuật. Nó cần nhà phát triển, ứng dụng, dịch vụ địa phương...

***

Nhìn chung, các thất bại nói trên đều xoay quanh một vài mẫu số chung: không nắm bắt được nhịp tiến hóa công nghệ, sao chép quá nhiều, bảo hộ quá mức, chọn sai ngách với thị trường, coi nhẹ hệ sinh thái. Rút kinh nghiệm từ các sai lầm này, chúng ta có thể giảm bớt những ngã rẽ sai trên con đường làm chủ công nghệ lõi của Việt Nam./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Những sai lầm lịch sử trong làm chủ công nghệ lõi
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO