Người bạn đồng hành bền bỉ giúp đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo
Hơn 2 thập niên qua, cùng với nhiều chính sách dân tộc, một dòng chảy ít ồn ào nhưng bền bỉ đã len vào từng bản làng: tín dụng chính sách xã hội qua Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH). Từ một công cụ tài chính, chính sách xã hội ấy đã trở thành “người bạn đồng hành” giúp hàng triệu hộ đồng bào thoát nghèo, xây dựng sinh kế mới và quan trọng hơn, từng bước tránh nguy cơ tái nghèo.
Mạch máu tài chính trong chiến lược giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số
Giai đoạn 2020 - 2025 là những năm NHCSXH khẳng định rõ nét vai trò của mình trong công tác đồng hành, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo, làm giàu. Nếu giữa năm 2020, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách mới ở mức khoảng 226,5 nghìn tỷ đồng, dư nợ đạt 219,6 nghìn tỷ đồng với hơn 6,5 triệu hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách còn dư nợ; đến năm 2021, con số này đã tăng lên 247,97 nghìn tỷ đồng; năm 2022 đạt 274,58 nghìn tỷ đồng với hơn 6,43 triệu hộ vay.
Đến cuối năm 2024, tổng nguồn vốn đạt 376.247 tỷ đồng, dư nợ hơn 367.600 tỷ đồng; bước sang 9 tháng đầu năm 2025, dư nợ đã lên tới 398.100 tỷ đồng, tức tăng thêm hơn 170 nghìn tỷ đồng so với giữa năm 2020.

Đằng sau những con số ấy là bước chuyển cả về quy mô lẫn định hướng. Hơn 94% mức tăng nguồn vốn trong giai đoạn 2021 - 2025 đến từ Nhà nước chủ động bổ sung và huy động thêm nguồn lực, đưa tổng nguồn vốn tín dụng chính sách đến cuối tháng 5-2025 lên hơn 410.857 tỷ đồng, gần gấp đôi so với đầu nhiệm kỳ.
Điều đó cho thấy một lựa chọn chính trị rõ ràng: muốn giảm nghèo bền vững, phải có một kênh tài chính đủ lớn, đủ dài hơi, đi song hành với các chương trình mục tiêu quốc gia.
Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, lựa chọn này càng thể hiện rõ, ngày 26-4-2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/2022/NĐ-CP, về chính sách tín dụng ưu đãi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2030, giai đoạn 1: từ năm 2021 đến năm 2025, nhằm hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác phát triển sản xuất, xây dựng nhà ở, ổn định đời sống, góp phần giảm nghèo bền vững.
Trong đó, giai đoạn 2021 - 2025 tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc nhất về đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt và vốn phát triển sinh kế. Điều lệ không chỉ nêu đối tượng thụ hưởng, mà thiết kế cả “đường đi” của vốn: từ Trung ương đến tỉnh, huyện, xã, thôn bản.
Tính đến cuối năm 2024, dư nợ chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt khoảng 130.130 tỷ đồng, chiếm tới 35,4% tổng dư nợ của toàn hệ thống NHCSXH.
Trong đó, riêng dư nợ đối với hộ dân tộc thiểu số là 89.455 tỷ đồng, với hơn 1,6 triệu hộ còn dư nợ; bình quân mỗi hộ dân tộc thiểu số đang vay khoảng 56 triệu đồng, cao hơn mức bình quân chung 53,4 triệu đồng/khách hàng. Nói cách khác, cứ 3 đồng vốn chính sách đang lưu thông trong nền kinh tế thì có hơn 1 đồng “đi cùng” đồng bào dân tộc thiểu số.
Về phía NHCSXH, mạng lưới triển khai cũng được thiết kế phù hợp với đặc thù vùng cao. Hơn 11.300 điểm giao dịch xã của NHCSXH đặt tại trụ sở ủy ban nhân dân xã hoặc nhà văn hoá thôn, bảo đảm 100% số đơn vị hành chính cấp xã có điểm giao dịch định kỳ.
Mô hình này đặc biệt quan trọng với vùng dân tộc thiểu số: giúp rút ngắn khoảng cách địa lý, giảm tối đa chi phí giao dịch, và hơn hết là khiến việc tiếp cận vốn trở thành một hoạt động “trong làng, trong bản” chứ không phải “lên huyện, xuống tỉnh”.
Với cấu trúc “bốn cấp chính quyền, bốn tổ chức chính trị – xã hội, hàng chục nghìn tổ tiết kiệm và vay vốn ở cơ sở”, mỗi khoản vay đều đi kèm một cơ chế giám sát cộng đồng và hỗ trợ kỹ thuật tương đối chặt chẽ. Đây là lý do khiến tỷ lệ nợ quá hạn luôn ở mức rất thấp: năm 2020 khoảng 0,21%; năm 2024 duy trì quanh 0,19% trên tổng dư nợ - một chỉ số mà nhiều ngân hàng thương mại khó có thể đạt được ngay cả khi cho vay đối tượng có thu nhập ổn định.
Tổ tiết kiệm và vay vốn không chỉ là “cánh tay nối dài” của ngân hàng, mà còn là diễn đàn cộng đồng. Đó là nơi người dân được nhắc nhở lịch trả nợ, được chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, được nghe phổ biến chủ trương mới. Mỗi lần tổ họp là một lần kỷ luật tài chính được củng cố, ý thức cộng đồng được tăng cường. Tín dụng từ đó không còn là trợ cấp một chiều, mà trở thành “hợp đồng trách nhiệm” giữa Nhà nước, cộng đồng và từng hộ vay.

Chính cấu trúc cộng đồng này cũng là “hàng rào mềm” chống tín dụng đen. Trước đây, ở nhiều bản nghèo, mỗi khi trong nhà có người ốm, cần tiền gấp, nhiều hộ phải đi vay nóng với lãi suất rất cao, sẵn sàng cầm cố cả trâu bò, sổ đỏ. Giờ đây, với sự hiện diện thường xuyên của điểm giao dịch xã, với việc cán bộ NHCSXH xuống tận bản nắm tình hình, những nhu cầu chi tiêu cấp bách ấy đã có một kênh hợp pháp để giải quyết.
Từ giảm nghèo đến chống tái nghèo
Thoát nghèo đã khó, không nghèo trở lại còn khó hơn. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nơi thiên tai, dịch bệnh, biến động giá nông sản có thể xoá sạch thành quả của nhiều năm tích cóp, chống tái nghèo mới là thử thách lớn nhất.
Để hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số chống tái nghèo, NHCSXH không chỉ “bơm vốn”, mà tạo ra một mạng lưới an sinh nhiều tầng, gắn kết tín dụng với nhà ở, nước sạch, giáo dục, y tế và việc làm.
Giai đoạn 2020 - 2025, NHCSXH đã trở thành “trục dọc tài chính” cho 3 Chương trình mục tiêu quốc gia: xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Một mặt, ngân hàng tiếp tục duy trì các chương trình vốn truyền thống như cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, học sinh, sinh viên, nước sạch, vệ sinh môi trường. Mặt khác, các chương trình mới theo Nghị định số 28/2022/NĐ-CP hay chương trình phục hồi kinh tế hậu dịch được triển khai nhanh, rộng, ưu tiên vùng đồng bào.
Chỉ riêng lĩnh vực nhà ở, đến hết năm 2024 đã có khoảng 703.000 hộ được hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở từ các chương trình tín dụng chính sách; dư nợ chương trình nhà ở xã hội, nhà ở hộ nghèo, nhà chống lũ lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng.
Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, một căn nhà kiên cố không chỉ là một “tài sản vật chất”, mà còn là “điểm tựa tâm lý”: khi không còn nỗi lo sập nhà lúc mưa bão, người dân mới dám nghĩ đến chuyện đầu tư cho tương lai.
Cùng với đó, hàng chục triệu công trình nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn được xây dựng, giúp tỷ lệ tiếp cận nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh tăng nhanh, góp phần giảm bệnh tật và nâng chất lượng cuộc sống ở vùng khó.
Một trụ cột khác là giáo dục, hơn 4,3 triệu lượt học sinh, sinh viên đã được vay vốn học tập trong giai đoạn 2007 - 2024, trong đó tỷ lệ đáng kể là con em đồng bào dân tộc thiểu số. Ở các xã vùng cao, không khó bắt gặp những gia đình mà khoản nợ lớn nhất của họ không phải là tiền mua trâu, mà là tiền cho con đi đại học.
Song đó là “khoản nợ tích cực”: đổi lại là một tấm bằng bác sĩ, giáo viên, kỹ sư nông nghiệp - những con người sau này quay về nâng đỡ chính cộng đồng của mình. Khi thế hệ trẻ đồng bào bước được qua “cửa hẹp” của giáo dục, vòng luẩn quẩn “thiếu tri thức, thiếu cơ hội, tái nghèo” mới có cơ hội bị phá vỡ.

Giai đoạn 2020 - 2025, Nhà nước “gia cố” thêm nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số bằng việc tái sử dụng dòng thu nợ. Theo Báo cáo trình Quốc hội tháng 6-2025, đến ngày 30-4-2025, NHCSXH đã thu hồi được hơn 3.144 tỷ đồng từ các chương trình tín dụng đã hết thời gian thực hiện; tổng số nguồn sẽ tiếp tục thu hồi khoảng 6.068,9 tỷ đồng.
Cơ quan thẩm tra kiến nghị cho phép dùng toàn bộ nguồn thu hồi này để cho vay lại các chương trình tín dụng chính sách, trong đó ưu tiên chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Điều này cho thấy một tư duy mới: vốn chính sách không chỉ là “cấp phát một lần”, mà được quay vòng, tích luỹ và điều tiết lại cho những khu vực khó khăn nhất.
Ở góc nhìn rộng hơn, chính sách xã hội hướng tới đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ gói gọn trong một ngân hàng hay một chương trình cho vay. Nó là sự kết hợp giữa vốn tín dụng, đầu tư hạ tầng, dịch vụ công, trợ giúp pháp lý, bảo trợ xã hội, chính sách giáo dục, y tế, lao động, việc làm.
Giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số là hành trình dài và còn nhiều việc phải làm trong giai đoạn 2026 - 2030. Song, với những kết quả đạt được trong 5 năm 2020 - 2025 đã khẳng định một điều: khi chính sách xã hội được thiết kế đúng, triển khai sát, dựa trên nội lực cộng đồng và đi kèm một kênh tín dụng đủ mạnh, đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ thoát nghèo, mà còn có thể bước tới một “chuẩn sống mới”, nơi an sinh không còn là “cái phao cứu sinh”, mà là nền tảng vững chắc cho phát triển./.