Nghiên cứu, xây dựng các chính sách an sinh xã hội bền vững, bảo đảm sự phát triển vững chắc cho Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh mới

Cơ sở lý luận và sự cần thiết xây dựng các chính sách an sinh xã hội bền vững, bảo đảm sự phát triển vững chắc cho Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh mới
An sinh xã hội (ASXH) được hiểu là tổng thể các chính sách, chương trình và giải pháp của Nhà nước và xã hội nhằm bảo đảm thu nhập tối thiểu, hỗ trợ con người vượt qua rủi ro, giảm thiểu tổn thương, ổn định cuộc sống và tạo điều kiện phát triển toàn diện. Đây là quyền cơ bản của con người, đồng thời là một trong những trụ cột của tiến bộ và công bằng xã hội. Vai trò của ASXH thể hiện trên ba phương diện chính: (1) Đối với cá nhân và gia đình: giúp ổn định đời sống, phòng ngừa và khắc phục rủi ro, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; (2) Đối với xã hội: góp phần củng cố khối đại đoàn kết, duy trì ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm an ninh con người; (3) Đối với nền kinh tế: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy tăng trưởng bao trùm, bền vững; là công cụ phân phối lại thu nhập, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo.
Hệ thống ASXH hiện đại thường bao gồm bốn trụ cột cơ bản: (i) Bảo hiểm xã hội (BHXH): cơ chế bắt buộc hoặc tự nguyện nhằm bảo đảm thay thế hoặc bù đắp thu nhập khi người lao động mất hoặc giảm khả năng lao động do tuổi già, bệnh tật, tai nạn, thất nghiệp; (ii) Bảo hiểm y tế (BHYT): công cụ tài chính quan trọng giúp mọi người dân tiếp cận dịch vụ y tế cần thiết, giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh, thực hiện bao phủ y tế toàn dân; (iii) Trợ giúp xã hội: chính sách hỗ trợ trực tiếp bằng tiền hoặc hiện vật cho các nhóm yếu thế (người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi không nơi nương tựa…), bảo đảm mức sống tối thiểu; (iv) Dịch vụ xã hội cơ bản: gồm giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, việc làm… nhằm bảo đảm cơ hội tiếp cận công bằng cho mọi người, nâng cao năng lực và chất lượng cuộc sống.
Sự kết hợp hài hòa, đồng bộ giữa các trụ cột này tạo thành mạng lưới ASXH toàn diện, có khả năng bao phủ toàn dân, thích ứng với bối cảnh phát triển mới.
Bước vào thời kỳ mới, chính sách xã hội (CSXH) - an sinh xã hội phải đối diện với những thách thức to lớn. Quá trình phát triển, toàn cầu hóa, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hóa, di dân tự do làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, nhất là vấn đề nhà ở, ô nhiễm môi trường, quá tải hạ tầng, tình trạng thất nghiệp, phân hoá giàu nghèo, rủi ro và xung đột xã hội.
Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo làm thay đổi phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất và tiêu dùng, thay đổi thế giới việc làm; vấn đề già hoá dân số nhanh, sự gia tăng tầng lớp trung lưu, tỷ trọng việc làm trong khu vực phi chính thức cao đang đòi hỏi chính sách lao động, việc làm, phát triển nguồn nhân lực toàn diện. Biến đổi khí hậu và các vấn đề an ninh phi truyền thống đang tác động mạnh mẽ đến đời sống của người dân, làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, gia tăng rủi ro mâu thuẫn, xung đột xã hội, biến đổi xã hội theo chiều hướng tiêu cực.
Đồng thời, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ rất vẻ vang nhưng cũng rất nhiều thách thức1 yêu cầu phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách an sinh xã hội theo hướng toàn diện, hiện đại, bao trùm và bền vững, bảo đảm an sinh, an ninh, an dân.
Tại Phiên bế mạc Hội nghị Trung ương tám, khóa XIII, Cố Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ điểm thay đổi căn bản của CSXH là “chuyển cách tiếp cận chính sách xã hội “từ bảo đảm và ổn định sang ổn định và phát triển; gắn với quản lý phát triển xã hội bền vững, nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người, an ninh xã hội”.
Theo đó, Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới” đã mở rộng các nhóm chính sách xã hội cho tất cả các đối tượng trên nguyên tắc bảo đảm tính toàn dân, toàn diện, với ba trụ cột chính là (i) chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm bền vững, phát triển thị trường lao động; (ii) chính sách an sinh xã hội gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội và giảm nghèo; và (iii) chính sách nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản có chất lượng về y tế, giáo dục, nhà ở, văn hoá, nước sạch, vệ sinh môi trường, thông tin.
Nghị quyết số 42-NQ/TW2 đề ra 4 quan điểm bao trùm, toàn diện về chính sách xã hội đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh:“…Chính sách xã hội là chính sách đối với con người, vì con người, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Xây dựng và thực hiện chính sách xã hội phải luôn lấy con người làm trung tâm; coi đầu tư cho thực hiện các mục tiêu chính sách xã hội là đầu tư cho phát triển”3.
Về mục tiêu chính sách an sinh xã hội đến năm 2030: “Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững; tạo cơ hội cho Nhân dân, nhất là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, người sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là về y tế, giáo dục, nhà ở, thông tin. Phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiệu quả, hội nhập quốc tế gắn với việc làm bền vững; nâng cao chất lượng quản lý phát triển xã hội gắn với bảo đảm quyền con người, quyền công dân”.
Tầm nhìn đến năm 2045: “Bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cho Nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước và xây dựng con người Việt Nam toàn diện. Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có chỉ số phát triển con người (HDI) cao trên thế giới”.
Trong bối cảnh Thủ đô Hà Nội bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, việc tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách an sinh xã hội bền vững trở thành yêu cầu tất yếu. Đây là nền tảng bảo đảm công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời là động lực quan trọng để Thủ đô phát triển ổn định, hài hòa và bền vững.
An sinh xã hội giữ vai trò trụ cột trong việc bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Với vị thế trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, Hà Nội càng cần xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bao trùm, hướng tới mọi người dân, đặc biệt là nhóm yếu thế.
Một hệ thống an sinh xã hội vững chắc sẽ giúp giảm bất bình đẳng, hạn chế xung đột xã hội, tạo nền tảng để người dân yên tâm lao động, sáng tạo và đóng góp cho sự phát triển của Thủ đô. Đồng thời, việc đổi mới chính sách an sinh xã hội phù hợp với xu thế quốc tế, hướng tới bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau, gắn với các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và cam kết của Việt Nam.
Điều này cũng đáp ứng yêu cầu đặc thù của Hà Nội - một đô thị có dân số lớn, mật độ cao, chênh lệch giàu nghèo và áp lực di cư, với nhu cầu ngày càng cao về phúc lợi và dịch vụ công chất lượng. Qua đó, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Hà Nội trở thành Thủ đô văn hiến - văn minh - hiện đại, phát triển toàn diện và bền vững.
II. Thực trạng các chính sách an sinh xã hội tại Thủ đô Hà Nội
1. Thành tựu đạt được
Trong những năm qua, Hà Nội đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong việc triển khai hệ thống chính sách an sinh xã hội:
Mở rộng bao phủ BHXH và BHYT: Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ngày càng tăng, góp phần tiến tới mục tiêu bao phủ toàn dân. Đến hết tháng 1-2025 Hà Nội đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) đạt 95,5% dân số, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc đạt 47,5% số người trong độ tuổi lao động, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 3,5% và số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đạt 45% lực lượng lao động4. Nhiều nhóm lao động khu vực phi chính thức đã bắt đầu được tiếp cận BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình, tạo điều kiện bảo đảm thu nhập và chăm sóc sức khỏe bền vững.
Thành công trong giảm nghèo bền vững và hỗ trợ nhóm yếu thế: Thành phố duy trì mức giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025; hỗ trợ hàng chục nghìn hộ dân thoát nghèo thông qua chính sách trợ giúp xã hội, vay vốn ưu đãi, đào tạo nghề và giải quyết việc làm. Đầu năm 2025 Hà Nội còn 9.928 hộ cận nghèo (chiếm tỷ lệ 0,43%) tổng số hộ dân thành phố). Trong đó, các huyện như Thạch Thất, Mỹ Đức, Ba Vì có tỷ lệ hộ cận nghèo cao nhất5. Các nhóm yếu thế như người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi được quan tâm thông qua nhiều chương trình trợ cấp thường xuyên và đột xuất.
Phát triển hệ thống dịch vụ công cơ bản: Chất lượng y tế và giáo dục được nâng cao, với mạng lưới bệnh viện, trường học hiện đại, từng bước đáp ứng nhu cầu của dân cư đô thị. Chính sách nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân khu công nghiệp được triển khai, góp phần cải thiện điều kiện sống cho người lao động, người thu nhập thấp. Về nhà ở xã hội; lũy kế cả giai đoạn 2021 - 2025 (đã hoàn thành & dự kiến hoàn thành trong 2025): khoảng 16.388 căn (tương đương hơn 1,0 triệu m² sàn), đạt khoảng 79 - 81% chỉ tiêu 20.800 căn theo Nghị quyết 18/2025/NQ-HĐND: Về việc quy định cơ chế hỗ trợ bữa ăn bán trú cho học sinh Tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội năm học 2025 - 20266.
Về nhà ở cho công nhân khu công nghiệp, tính đến nay: Hà Nội có khoảng 22.420 chỗ ở thiết kế cho công nhân trong các dự án nhà ở công nhân KCN. Trong số đó, đã hoàn thành được 8.388 chỗ, và hầu hết (8.082) đã được bố trí người thuê. So với nhu cầu thực tế, mới đáp ứng được khoảng 10% theo khảo sát của nhóm nghiên cứu7.
Những thành tựu trên đã giúp Hà Nội không chỉ bảo đảm đời sống nhân dân mà còn tạo nền tảng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đóng góp trực tiếp cho sự phát triển toàn diện và bền vững của Thủ đô.
2. Hạn chế, tồn tại
Bên cạnh kết quả đạt được, hệ thống an sinh xã hội tại Hà Nội vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục:
Chưa đạt bao phủ toàn diện: Một bộ phận lao động phi chính thức, người nhập cư, lao động tự do chưa tham gia hoặc khó tiếp cận BHXH, BHYT, dẫn đến nguy cơ dễ bị tổn thương khi gặp rủi ro.
Quản lý còn chồng chéo, phân tán: Một số chính sách ASXH do nhiều cơ quan cùng quản lý, gây khó khăn trong điều phối, thực thi và giám sát.
Áp lực từ già hóa dân số, đô thị hóa nhanh và di cư: Hà Nội là địa bàn có tốc độ già hóa dân số nhanh, trong khi lượng người nhập cư và lao động ngoại tỉnh lớn, tạo sức ép lớn lên hệ thống y tế, giáo dục, nhà ở, dịch vụ xã hội.
Chênh lệch giàu - nghèo còn lớn: Khoảng cách phát triển giữa khu vực đô thị trung tâm với ngoại thành, nông thôn vẫn tồn tại; mức sống của một bộ phận người dân ngoại thành còn thấp, tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo.
3. Nguyên nhân chủ yếu
Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nổi bật là:
Nguồn lực còn hạn chế: Dù là địa phương có tiềm lực kinh tế, Hà Nội vẫn phải dành ngân sách cho nhiều nhiệm vụ phát triển, trong khi nhu cầu chi cho an sinh xã hội ngày càng lớn.
Cơ chế, chính sách chưa đồng bộ: Một số quy định pháp luật và cơ chế quản lý ASXH còn chậm đổi mới, thiếu tính liên thông, chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
Công tác quản lý, giám sát còn bất cập: Việc triển khai chính sách ở cơ sở đôi khi chưa kịp thời, thiếu minh bạch; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chưa đồng đều; sự phối hợp giữa các cấp, ngành còn hạn chế.
III. Những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh mới
1. Đô thị hóa, công nghiệp hóa và áp lực dân số cơ học
Hà Nội đang trong tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa mạnh mẽ. Làn sóng nhập cư từ các tỉnh vào thành phố để học tập, làm việc, sinh sống khiến dân số cơ học tăng nhanh, gây áp lực lớn lên hạ tầng xã hội, nhất là y tế, giáo dục, nhà ở, giao thông và dịch vụ công cộng. Hà Nội, với tỷ lệ người tham gia khảo sát lựa chọn nơi này ở mức 16,48%8. Điều này đặt ra yêu cầu hệ thống an sinh xã hội phải được mở rộng phạm vi bao phủ, có cơ chế linh hoạt để hỗ trợ lao động nhập cư, lao động phi chính thức và nhóm dân cư dễ bị tổn thương tại đô thị.
2. Già hóa dân số, nhu cầu chăm sóc dài hạn
Tốc độ già hóa dân số ở Hà Nội đang tăng nhanh, số người cao tuổi chiếm tỷ lệ ngày càng lớn. Năm 2025, Việt Nam sẽ có 16,1 triệu người cao tuổi, chiếm trên 16% dân số. Điều này dẫn tới nhu cầu cao về chăm sóc sức khỏe dài hạn, dịch vụ dưỡng lão, trợ cấp xã hội và cơ chế bảo hiểm hưu trí bền vững. Yêu cầu mới là phải phát triển đồng bộ hệ thống BHXH, BHYT và dịch vụ chăm sóc xã hội, kết hợp giữa Nhà nước, tư nhân và cộng đồng nhằm bảo đảm người cao tuổi được chăm lo đầy đủ, sống khỏe, sống có ích.
3. Chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số
Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế số và xã hội số đòi hỏi chính sách ASXH phải thích ứng, đổi mới phương thức quản lý và cung cấp dịch vụ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu dân cư và an sinh xã hội cần được đồng bộ hóa, liên thông, minh bạch. Đây là yêu cầu cấp thiết để giảm thủ tục hành chính, tăng tính công bằng trong thụ hưởng, đồng thời bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận dịch vụ ASXH thông minh, thuận tiện, hiện đại.
4. Biến đổi khí hậu, dịch bệnh, rủi ro toàn cầu
Hà Nội là đô thị lớn, chịu nhiều tác động từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, thiên tai và dịch bệnh toàn cầu. Các rủi ro này có thể làm gia tăng nghèo đói, mất việc làm, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Do vậy, hệ thống ASXH cần được thiết kế linh hoạt, có khả năng ứng phó với khủng hoảng, bảo đảm khả năng phòng ngừa - giảm nhẹ - khắc phục rủi ro, đồng thời hỗ trợ khẩn cấp cho các nhóm dân cư bị ảnh hưởng.
5. Hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu tuân thủ chuẩn mực quốc tế
Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, hệ thống ASXH của Hà Nội cần đáp ứng các chuẩn mực quốc tế, phù hợp với các công ước ILO, mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và xu hướng toàn cầu về bao phủ an sinh toàn dân. Điều này không chỉ nâng cao uy tín, vị thế của Thủ đô mà còn bảo đảm quyền lợi của người lao động, đặc biệt là lực lượng lao động di cư quốc tế và các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
IV. Quan điểm, định hướng và giải pháp xây dựng chính sách an sinh xã hội bền vững cho Hà Nội
1. Quan điểm định hướng lớn
Quan điểm: ASXH là nền tảng ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm công bằng, tiến bộ, đồng thời là động lực cho phát triển bền vững. Chính sách ASXH của Hà Nội cần được xây dựng theo hướng toàn diện - bao trùm - hiện đại - hội nhập, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. Phát triển ASXH gắn liền với tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, phù hợp đặc thù Thủ đô.
Định hướng:
- Hoàn thiện thể chế, pháp luật: Rà soát, bổ sung, đồng bộ hóa chính sách ASXH theo hướng minh bạch, thống nhất. Thể chế hóa ASXH thành quyền cơ bản của công dân, nâng cao trách nhiệm giải trình.
- Mở rộng diện bao phủ: Phát triển BHXH, BHYT tiến tới bao phủ toàn dân. Chú trọng lao động phi chính thức, người nhập cư, nhóm yếu thế.
- Nâng cao chất lượng dịch vụ ASXH: Đầu tư, nâng cấp hệ thống y tế, giáo dục, nhà ở xã hội, chăm sóc người cao tuổi. Bảo đảm dịch vụ công bằng, chất lượng, tiếp cận dễ dàng.
- Đẩy mạnh chuyển đổi số: Xây dựng cơ sở dữ liệu ASXH liên thông với dữ liệu dân cư. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dịch vụ công trực tuyến, giảm thủ tục hành chính.
- Đa dạng hóa nguồn lực: Bên cạnh ngân sách nhà nước, tăng cường xã hội hóa, hợp tác công - tư (PPP). Khuyến khích hình thành quỹ xã hội, quỹ từ thiện, đóng góp cộng đồng.
- Phát huy vai trò cộng đồng - doanh nghiệp - tổ chức xã hội: Doanh nghiệp chăm lo đời sống người lao động. Các tổ chức xã hội tham gia trợ giúp, giám sát, phản biện chính sách.
- Tăng cường giám sát, minh bạch và trách nhiệm giải trình: Nâng cao vai trò của HĐND, MTTQ, đoàn thể, báo chí và người dân. Công khai, minh bạch thực hiện chính sách, xử lý nghiêm trục lợi.
2. Giải pháp xây dựng chính sách an sinh xã hội bền vững cho Hà Nội
2.1. Cải cách thể chế theo hướng hiện đại, liên thông
- Rà soát, sửa đổi và ban hành Luật An sinh xã hội để tạo khung pháp lý đồng bộ, bao trùm.
- Áp dụng tư duy hệ thống trong thiết kế chính sách, bảo đảm liên kết các trụ cột: bảo hiểm xã hội - y tế - việc làm - trợ giúp xã hội.
2.2. Phát triển trên nền tảng số và dữ liệu lớn
- Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông về an sinh xã hội, tích hợp qua mã định danh công dân.
- Ban hành khung pháp lý rõ ràng cho dữ liệu mở và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
- Tăng cường đào tạo cán bộ số, đặc biệt tại cấp xã/phường.
- Khuyến khích hợp tác công - tư để phát triển hạ tầng số.
- Ứng dụng công nghệ để cá nhân hóa chính sách, nâng cao hiệu quả tiếp cận.
2.3. Mở rộng bao phủ và đa tầng hóa hệ thống an sinh
- Mở rộng BHXH bắt buộc và tự nguyện, đơn giản hóa thủ tục, tăng hỗ trợ tài chính cho người thu nhập thấp tham gia BHXH.
- Nâng cao minh bạch, hiệu quả và hợp tác với tổ chức xã hội để tiếp cận lao động phi chính thức.
- Xây dựng mô hình an sinh xã hội đa tầng, điều chỉnh chuẩn trợ cấp phù hợp với chi phí sinh hoạt.
- Tăng cường hỗ trợ từ ngân sách địa phương, mở rộng đối tượng thụ hưởng, đơn giản hóa thủ tục nhận trợ cấp.
- Hạn chế rút BHXH một lần, khuyến khích tham gia dài hạn.
- Xây dựng quỹ trợ giúp xã hội đa nguồn, đầu tư sinh lời an toàn và có giám sát chặt chẽ.
2.4. Chuyển từ bị động sang chủ động và phục hồi
- Thay đổi tư duy chính sách từ hỗ trợ sau rủi ro sang phòng ngừa và thích ứng.
- Lồng ghép an sinh xã hội với chiến lược việc làm bền vững và sinh kế dài hạn.
2.5. Thúc đẩy công bằng và bao trùm
- Ưu tiên ngân sách và đầu tư hạ tầng xã hội cơ bản cho vùng khó khăn.
- Tăng cường chương trình mục tiêu cho dân tộc thiểu số, lồng ghép với bảo trợ và sinh kế bền vững.
- Lồng ghép phân tích giới và tăng đại diện phụ nữ trong hệ thống an sinh.
- Phát triển chính sách bảo vệ nhóm yếu thế: phụ nữ đơn thân, người già, người khuyết tật, trẻ em nghèo...
- Ứng dụng công nghệ đi đôi với phương pháp truyền thống để không ai bị loại trừ kỹ thuật số.
- Thu thập và phân tích dữ liệu theo độ tuổi, giới tính, dân tộc để hoạch định chính sách chính xác.
2.6. Phát huy vai trò của cộng đồng, doanh nghiệp và tổ chức xã hội
ASXH không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là nghĩa vụ và quyền lợi của toàn xã hội. Hà Nội cần khuyến khích sự tham gia chủ động của doanh nghiệp trong việc chăm lo đời sống người lao động, thúc đẩy phong trào tương trợ cộng đồng, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể và tổ chức phi chính phủ trong việc hỗ trợ, giám sát và triển khai chính sách.
2.7. Tăng cường giám sát, minh bạch và trách nhiệm giải trình
Một hệ thống ASXH bền vững phải được quản lý minh bạch, có trách nhiệm giải trình cao. Cần tăng cường cơ chế giám sát từ cơ quan dân cử, tổ chức xã hội và người dân; công khai, minh bạch quá trình thực thi chính sách; xử lý nghiêm các hành vi trục lợi, sai phạm. Đồng thời, thiết lập cơ chế phản hồi và tham vấn chính sách thường xuyên với đối tượng thụ hưởng để chính sách ASXH ngày càng gần dân, vì dân.
V. Kiến nghị
Để nâng cao chất lượng chính sách ASXH theo hướng bao trùm, bền vững, hiện đại và hội nhập không chỉ là nhiệm vụ cấp thiết mà còn là chiến lược lâu dài để Hà Nội phát triển xứng tầm Thủ đô, trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của cả nước. Xin đề xuất một số kiến nghị sau:
Đối với Trung ương: Tiếp tục nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách đặc thù cho Hà Nội trong lĩnh vực ASXH, nhất là trong quản lý dân cư, lao động nhập cư, chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi và huy động nguồn lực cho phát triển dịch vụ xã hội.
Đối với thành phố Hà Nội: Ưu tiên bố trí nguồn lực, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường chính sách, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý và cung cấp dịch vụ ASXH, bảo đảm minh bạch, thuận tiện và hiệu quả.
Đối với hệ thống chính trị - xã hội: Tăng cường phối hợp đa ngành, phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng doanh nghiệp trong việc triển khai chính sách. Đồng thời khuyến khích sự tham gia chủ động của người dân để tạo nên mạng lưới an sinh xã hội rộng khắp và gắn kết.
Về triển khai thực hiện: Thường xuyên đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm; kịp thời điều chỉnh chính sách để phù hợp với thực tiễn phát triển của Thủ đô; bảo đảm tính linh hoạt, ứng phó hiệu quả với các biến động và rủi ro mới.
Thông điệp: An sinh xã hội không chỉ là chính sách bảo vệ mà còn là động lực phát triển. Việc ưu tiên công bằng vùng miền, dân tộc, giới tính và nhóm dễ bị tổn thương là bảo đảm công bằng theo chiều sâu - đúng tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Xây dựng một nền an sinh xã hội bền vững, bao trùm, hiện đại và hội nhập là nền tảng để Hà Nội vươn lên độc lập, tự cường và thịnh vượng trong kỷ nguyên hội nhập mới./.
Tài liệu tham khảo
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Hà Nội, 2021, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
- Nghị quyết số: 42-NQ/TW của BCHTW, khóa XII, ngày 24 tháng 11 năm 2023 về tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng chính sách xã hội đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới
- Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Luật Bảo hiểm xã hội, số 58/2014/QH13. Hà Nội; 2014.
- Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Hà Nội; 2006 (sửa đổi 2016).
- Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi), số 69/2020/QH14. Hà Nội; 2020.
- Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Luật An toàn, vệ sinh lao động, số 84/2015/QH13. Hà Nội; 2015.
- Chính phủ. Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Hà Nội; 2021.
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW về chính sách an sinh xã hội. Hà Nội; 2023.
- Thành ủy Hà Nội. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Hà Nội; 2020.
- Nguyễn Hữu Dũng: An sinh xã hội trong tiến trình phát triển ở Việt Nam, Hà Nội, 2021, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
- International Labour Organization. World social protection report 2020-2022: Social protection at the crossroads - in pursuit of a better future. Geneva: ILO; 2022.
- World Bank. Vietnam social protection review: Toward inclusive and sustainable development. Washington DC: World Bank; 2023.
- United Nations Development Programme (UNDP) Việt Nam. Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2024: Bảo đảm an sinh xã hội bao trùm trong kỷ nguyên mới. Hà Nội; 2024.
1 Phấn đấu đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
2 Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”
3 Phát biểu của Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 8, khoá XIII
4 Cục Thống kê Hà Nội
5 Báo Hà Nội mới
6 Báo Nhân dân, ngày 25/8/2025
7 “Các mô hình quy hoạch khu nhà ở công nhân khu công nghiệp Hà Nội” của Lê Lan Hương, Nguyễn Cao Lãnh, Nguyễn Thùy Trang, Nguyễn Thị Vân Hương - Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, xuất bản ngày 25-11-2024 trên Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng, số 18(4V). stce.huce.edu.vn
8 Báo cáo PAPI 2021