Nâng cao năng lực thích ứng môi trường và tư duy bền vững cho con người Quảng Ninh trong thời đại khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, con người đang phải đối mặt với những thách thức môi trường chưa từng có. Việc trang bị năng lực thích ứng với môi trường và tư duy bền vững trở thành vấn đề cấp thiết, không chỉ là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc để bảo đảm sự phát triển bền vững. Điều này đặc biệt quan trọng đối với tỉnh Quảng Ninh - một địa phương giàu tài nguyên thiên nhiên, có hệ sinh thái đa dạng nhưng cũng chịu nhiều tác động từ biến đổi khí hậu và áp lực phát triển kinh tế.

Kết quả nâng cao năng lực thích ứng môi trường và tư duy bền vững cho con người Quảng Ninh thời gian qua
Quảng Ninh được thiên nhiên ưu ái ban tặng hệ sinh thái thiên nhiên đa dạng với hơn 2.000 hòn đảo lớn, nhỏ, trong đó có Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận; đường bờ biển dài hơn 250 km cùng nhiều bãi tắm đẹp; rừng nguyên sinh phong phú và trữ lượng than đá lớn nhất cả nước. Đây là nguồn tài nguyên quý giá để phát triển công nghiệp, du lịch và dịch vụ. Tuy nhiên, việc khai thác mạnh mẽ các tiềm năng này trong nhiều thập kỷ đã tạo áp lực lớn lên môi trường sinh thái.
Những năm gần đây, tỉnh thường xuyên hứng chịu các hiện tượng thời tiết cực đoan, như: bão mạnh (siêu bão Yagi đổ bộ trực tiếp vào tỉnh Quảng Ninh ngày 7-9-2024), mưa lũ lịch sử (trận lũ lụt năm 2015), hạn hán gay gắt và nước biển dâng gây ngập mặn vùng ven biển... Những hiện tượng thời tiết cực đoan này không chỉ gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, cơ sở hạ tầng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế và sức khỏe cộng đồng.
Là một trong những địa phương chịu tác động rõ rệt của biến đổi khí hậu (BĐKH) và thiên tai ở Việt Nam, tỉnh Quảng Ninh sớm ý thức rằng thích ứng với biến đổi khí hậu không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là nền tảng cho phát triển xanh, bền vững trong tương lai. Vì vậy, tỉnh đưa công tác ứng phó BĐKH và bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV nhiệm kỳ 2020 - 2025 xác định định hướng phát triển theo mô hình tăng trưởng xanh, bền vững, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu[1].
Quan điểm phát triển giai đoạn 2025 - 2030 được đề cập trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030 cũng xác định: “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm” với mục tiêu tổng quát “phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh là động lực chính cho phát triển”[2].
Tỉnh xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó BĐKH giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050, chuyển từ “ứng phó bị động” sang “chủ động chiến lược dài hạn”. Trên cơ sở đó, những năm qua, Quảng Ninh đã lồng ghép yếu tố BĐKH vào các kế hoạch kinh tế - xã hội của địa phương, bảo đảm các ngành đều tính đến kịch bản khí hậu tương lai. Đặc biệt, công tác bảo vệ môi trường luôn được tỉnh đặt lên hàng đầu và cụ thể hóa bằng những chỉ đạo quyết liệt, sát thực tiễn địa phương, nhằm góp phần quan trọng trong giảm thiểu tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu[3].
Một là, chủ động bảo đảm nguồn lực tài chính mạnh mẽ cho lĩnh vực môi trường. Giai đoạn 2022 - 2024, tổng ngân sách dành cho bảo vệ môi trường của tỉnh đạt trên 2.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ trung bình 2,37% tổng chi ngân sách địa phương, cao hơn gấp đôi mức quy định tối thiểu của Trung ương. Đặc biệt, từ năm 2022 đến nay, Quảng Ninh thu hút 5 dự án lớn về bảo vệ môi trường với tổng vốn đầu tư hơn 48.000 tỷ đồng từ khu vực tư nhân, đồng thời tiếp nhận nhiều dự án tài trợ quốc tế có ý nghĩa, như dự án xử lý nước thải tại khu vực hang Đầu Gỗ, dự án SATREPS về quản lý phế thải xây dựng, hay các sáng kiến giảm thiểu rác thải nhựa[4].
Hai là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, tăng cường trang thiết bị nhằm chủ động hơn trong ứng phó với thời tiết cực đoan, nhất là tại các khu vực du lịch biển, đảo...; đồng thời đầu tư công nghệ hiện đại phục vụ công tác quản lý, bảo vệ môi trường, phục vụ kịp thời cho việc đánh giá, xử lý môi trường, công khai thông tin tới người dân. Trong khuôn khổ kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu của tỉnh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tỉnh đã đầu tư hơn 1.895 tỷ đồng vào 156 dự án phòng, chống thiên tai, nâng cấp hạ tầng thủy lợi và lắp đặt các trạm dự báo thời tiết hiện đại[5].
Bên cạnh đó, việc bảo đảm vận hành, hoạt động tốt của hệ thống quan trắc tự động cũng giúp minh bạch, công khai thông tin, tạo điều kiện để nhân dân phối hợp theo dõi, giám sát về chất lượng môi trường nơi mình hoạt động sản xuất, sinh sống. Hiệu quả hoạt động của hệ thống quan trắc tự động trên địa bàn tỉnh đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức của các doanh nghiệp trong việc chấp hành quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường[6].
Ba là, tăng cường các hoạt động tuyên tuyền, giáo dục, làm tốt công tác nâng cao nhận thức cộng đồng về thích ứng môi trường, hình thành ý thức chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Để công tác này đi vào chiều sâu, cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh đã đưa nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường vào nội dung sinh hoạt chi bộ, lồng ghép phổ biến, quán triệt trong cộng đồng dân cư và chương trình giáo dục cho học sinh, sinh viên tại các nhà trường trên địa bàn[7].
Các sở, ngành thường xuyên tổ chức truyền thông về nguy cơ thiên tai, tập huấn kỹ năng ứng phó cho người dân vùng ven biển - nơi dễ tổn thương bởi bão, ngập lụt. Riêng năm 2025, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Quảng Ninh dự kiến tổ chức gần 20 lớp tập huấn về phòng chống thiên tai, thảm họa tại 7 địa phương có biển... Nội dung tập trung vào công tác phòng ngừa thiên tai, thảm họa, ứng phó với biến đổi khí hậu; tư vấn sức khỏe cộng đồng; phòng ngừa đuối nước cho học sinh vùng thấp[8]... Nhờ đó, ý thức phòng tránh thiên tai và thích nghi với BĐKH dần trở thành thường trực trong cộng đồng dân cư.
Bốn là, tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai nhiều mô hình phát triển sản xuất, tạo sinh kế bền vững thích ứng hiệu quả với BĐKH[9]. Tại nhiều địa phương trong tỉnh, các mô hình du lịch sinh thái, sản xuất sạch, tái sử dụng tài nguyên được nhân rộng. Nhiều hộ dân, hợp tác xã của tỉnh Quảng Ninh chủ động chuyển đổi sinh kế để phù hợp với điều kiện khí hậu mới. Ví dụ, nông dân một số huyện ven biển thử nghiệm các mô hình nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi theo hướng sinh thái, áp dụng công nghệ cao nhằm giảm thiểu rủi ro do thời tiết thất thường.
Một trong những điểm sáng nổi bật là việc Quảng Ninh tiên phong ứng dụng các mô hình nuôi tôm tuần hoàn khép kín (RAS), giúp kiểm soát toàn diện các yếu tố môi trường, như pH, nhiệt độ, nồng độ oxy hòa tan, amoniac… thông qua cảm biến và hệ thống kết nối Internet (IoT). Ngoài ra, các công nghệ mới, như biofloc (vi sinh xử lý chất thải ao nuôi), cho ăn tự động bằng cảm biến, phần mềm AI cảnh báo môi trường nước cũng đang được nhân rộng. Điều này không chỉ góp phần nâng cao năng suất và chất lượng tôm nuôi, mà còn bảo đảm an toàn sinh học, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, hướng đến mục tiêu phát triển xanh và bền vững[10].
Những mô hình xuất phát từ thực tiễn trên cho thấy người dân Quảng Ninh chủ động thích nghi với thời đại mới, sẵn sàng ứng dụng cái mới vào giải quyết các vấn đề phát sinh. Điều đó cũng phản ánh một mức độ tư duy bền vững nhất định - biết tìm kiếm cách làm vừa hiệu quả kinh tế, vừa giảm tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội.
Nâng cao năng lực thích ứng, xây dựng con người Quảng Ninh có khả năng làm chủ, sử dụng và sáng tạo công nghệ vì cuộc sống bền vững
Việc nâng cao năng lực thích ứng môi trường và tư duy bền vững cho người dân Quảng Ninh bước đầu đã có kết quả nhưng còn không ít hạn chế. Nhận thức và hành vi của một bộ phận người dân, doanh nghiệp về phát triển bền vững chưa thực sự đồng đều; vẫn tồn tại tâm lý chạy theo lợi ích trước mắt hoặc ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước trong ứng phó thiên tai.
Bên cạnh đó, kỹ năng thích ứng của lao động địa phương trước những biến đổi nhanh của thị trường lao động kỹ thuật số còn hạn chế, đòi hỏi nỗ lực đào tạo, đào tạo lại quy mô lớn. Trong khi đó, thời đại khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khiến mọi thứ biến chuyển nhanh chóng, từ công nghệ, thị trường đến các quy định, tiêu chuẩn phát triển bền vững. Điều này tạo ra áp lực thích nghi đối với mỗi cá nhân và tổ chức.
Vì vậy, để nâng cao năng lực thích ứng môi trường và tư duy bền vững cho con người Quảng Ninh, tỉnh cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Trong thời đại khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tỉnh cần đặc biệt chú trọng nhóm giải pháp về khoa học, công nghệ, việc ứng dụng khoa học, công nghệ phải đóng vai trò trung tâm trong nâng cao năng lực thích ứng và tạo dựng phát triển bền vững.
Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU, ngày 28-4-2023 về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 song Quảng Ninh cần xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chính là phương tiện nâng cao năng lực thích ứng và tư duy bền vững, xây dựng con người Quảng Ninh có khả năng làm chủ, sử dụng và sáng tạo công nghệ vì cuộc sống bền vững.
Một là, nâng cao năng lực tiếp cận và sử dụng khoa học, công nghệ của người dân, xây dựng năng lực thích ứng môi trường cho người dân bằng công nghệ và chính sách số hóa. Nhiều người dân ở vùng cao, vùng sâu, miền núi, giáp biên, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế trong việc tiếp cận công nghệ và tri thức số để phục vụ đời sống, sinh kế, bảo vệ môi trường. Vì vậy, tỉnh cần phổ cập kỹ năng công nghệ số cơ bản cho mọi nhóm dân cư, như sử dụng điện thoại thông minh, ứng dụng dữ liệu môi trường, tra cứu thông tin khí hậu, an toàn thực phẩm, du lịch xanh…
Thường xuyên mở các lớp đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng “kỹ năng mềm” cho cán bộ, công chức và lao động trong doanh nghiệp về tư duy thích ứng, kỹ năng giải quyết vấn đề trong bối cảnh biến động. Người dân được hướng dẫn thực hành khoa học, công nghệ qua các khóa học ngắn về sử dụng cảm biến môi trường; phân loại rác thông minh; khai thác năng lượng mặt trời… Hằng năm, tổ chức ngày hội khoa học, công nghệ cộng đồng tỉnh Quảng Ninh để người dân có thể trực tiếp trải nghiệm sản phẩm, thiết bị, sáng chế mới, từ đó khuyến khích họ ứng dụng trong đời sống.
Song song với đó, mở rộng và cho phép người dân tham gia sâu vào hệ thống thông tin và cảnh báo môi trường, theo dõi chất lượng không khí, nước, phản ánh vi phạm môi trường, nhận thông tin dự báo thiên tai, triều cường, sạt lở theo vị trí cư trú. Thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa việc “người dân cùng tham gia giám sát môi trường bằng công nghệ”, thay vì chỉ có “chính quyền giám sát môi trường”.
Hai là, đổi mới cách chính quyền hoạch định và thực thi chính sách hướng tới người dân. Nhiều chính sách khoa học, công nghệ và môi trường chỉ hỗ trợ ở cấp doanh nghiệp hoặc khu công nghiệp, chưa “chạm” đến cấp hộ gia đình hay cộng đồng địa phương. Cần tăng cường áp dụng mô hình “chính sách thử nghiệm - sandbox” trong lĩnh vực môi trường và đổi mới sáng tạo cộng đồng. Chẳng hạn, thiết kế các gói hỗ trợ nhỏ cho hộ dân, nhóm thanh niên, startup cộng đồng triển khai sáng kiến bảo vệ môi trường hoặc cải tiến sinh kế xanh… Chính sách không chỉ “ban hành” mà phải được “đồng thiết kế” với người dân, có cơ chế khuyến khích họ tham gia đổi mới.
Ba là, phát triển tư duy bền vững thông qua giáo dục và trải nghiệm thực tế. Giáo dục là giải pháp căn cơ để xây dựng tư duy bền vững và nâng cao năng lực thích ứng cho thế hệ hiện tại và tương lai. Tỉnh Quảng Ninh cần đầu tư mạnh vào lĩnh vực này. Tích hợp các chủ đề về môi trường, biến đổi khí hậu, phát triển bền vững vào chương trình giảng dạy chính khóa từ cấp tiểu học đến trung học. Sử dụng phương pháp giáo dục hiện đại, trực quan (học qua dự án, trải nghiệm thực tế, ứng dụng công nghệ AR/VR mô phỏng…) để tăng tính hứng thú và tính thực tiễn. Ở bậc đại học, cao đẳng trên địa bàn, khuyến khích các trường mở ngành hoặc chuyên ngành về quản lý tài nguyên bền vững, kỹ thuật môi trường, kinh tế tuần hoàn,... đồng thời lồng ghép giáo dục phát triển bền vững vào mọi ngành đào tạo.
Hiện nay, giáo dục về môi trường đã có trong chương trình học ở tỉnh Quảng Ninh, tuy nhiên cần gắn với thực tế sinh kế và địa phương, như du lịch, khai thác biển, đô thị xanh nhiều hơn nữa. Nên đưa nội dung “Giáo dục công dân xanh - công dân số” vào các trường học và cơ sở đào tạo nghề, lồng ghép với hoạt động trải nghiệm ở Vịnh Hạ Long, rừng ngập mặn, khu công nghiệp sinh thái; phát động phong trào hành động xanh trong học sinh, công nhân, ngư dân… Thông qua giáo dục, các cấp ủy, chính quyền dùng công nghệ để “mở không gian” cho người dân thực hành tư duy bền vững, chứ không chỉ tuyên truyền.
Bốn là, tăng cường truyền thông và lan tỏa văn hóa đổi mới sáng tạo bền vững. Yếu tố văn hóa xã hội quyết định sự bền vững của những thay đổi. Do đó, cần xây dựng môi trường văn hóa khuyến khích tư duy bền vững và hành vi thích ứng. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể trong vận động nhân dân thực hiện lối sống bền vững ở tỉnh Quảng Ninh, đưa các nội dung bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu vào các phong trào, cuộc vận động.
Bên cạnh đó, thúc đẩy tinh thần sáng tạo và học hỏi trong nhân dân; văn hóa sáng tạo cần được khuyến khích để mỗi người dân cảm có thể đóng góp sáng kiến cho cộng đồng. Tỉnh Quảng Ninh có thể tổ chức những cuộc thi với chủ đề cải thiện môi trường sống, thích ứng với biến đổi khí hậu ở khu dân cư. Qua quá trình thử nghiệm nên có hỗ trợ từ chuyên gia để giúp người dân vừa học hỏi, vừa nâng cao trình độ, từ đó tự tin hơn với tư duy sáng tạo.
Năm là, khuyến khích cộng đồng bảo tồn và phát huy những kinh nghiệm địa phương hữu ích cho thích ứng và bền vững. Chẳng hạn, kinh nghiệm của ngư dân cao tuổi về dự báo thời tiết dựa vào dấu hiệu thiên nhiên, hay kỹ thuật canh tác nương rẫy bền vững của đồng bào miền núi trong tỉnh… là những tri thức bản địa quý báu. Tỉnh nên hỗ trợ ghi chép, truyền lại cho thế hệ trẻ, kết hợp hài hòa với kiến thức khoa học hiện đại. Điều này giúp người dân trân trọng giá trị văn hóa bản địa của mình, từ đó tích cực gìn giữ môi trường sống truyền thống.
Việc nâng cao năng lực thích ứng môi trường và tư duy bền vững cho con người phải được xem là một quá trình liên tục, lâu dài, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển trong thời đại mới. Định hướng này không chỉ bảo đảm cho tỉnh Quảng Ninh phát triển hài hòa, thịnh vượng mà còn góp phần phát triển con người bền vững trong kỷ nguyên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đó cũng chính là nền tảng quan trọng để tỉnh Quảng Ninh vươn lên, hội nhập quốc tế sâu rộng mà vẫn giữ được bản sắc, bảo vệ môi trường cho thế hệ tương lai./.
[1] Xem: Hoài Anh, Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, Báo Quảng Ninh điện tử, https://baoquangninh.vn/chu-dong-ung-pho-voi-bien-doi-khi-hau-3372967.html
[2] Xem: Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Báo Quảng Ninh điện tử , https://baoquangninh.vn/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tinh-quang-ninh-lan-thu-xvi-nhiem-ky-202...
[3] Xem: Nguyễn Huế, Ứng phó với tác động từ biến đổi khí hậu, Báo Quảng Ninh điện tử, https://baoquangninh.vn/ung-pho-voi-tac-dong-tu-bien-doi-khi-hau-3375221.html
[4] Xem: Nhật Lệ, Quảng Ninh triển khai các giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, Quảng Ninh điện tử, ngày 3-8-2025, https://thiennhienmoitruong.vn/quang-ninh-trien-khai-cac-giai-phap-thich-ung-bien-doi-khi-hau-bao-ve...
[5] Xem: Hoài Anh, Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, ngày 26-8-2025, Quảng Ninh điện tử, https://baoquangninh.vn/chu-dong-ung-pho-voi-bien-doi-khi-hau-3372967.html
[6] Xem, Thanh Hoa, Phát huy hiệu quả hệ thống quan trắc môi trường tự động, Quảng Ninh điện tử, ngày 27-5-2025, https://www.quangninh.gov.vn/chuyen-de/diemden/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=155093
[7] Xem: Nguyễn Thanh, Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, ngày 17-5-2024, Quảng Ninh điện tử, https://baoquangninh.vn/nang-cao-chat-luong-moi-truong-chu-dong-ung-pho-voi-bien-doi-khi-hau-3298717...
[8] Xem: Đức Dương, Tổ chức 20 lớp tập huấn về phòng chống thiên tai, thảm họa ở Quảng Ninh, ngày 15-3-2025, Báo Pháp luật Việt Nam điện tử,https://baophapluat.vn/to-chuc-20-lop-tap-huan-ve-phong-chong-thien-tai-tham-hoa-o-quang-ninh-post54...
[9] Xem: Phạm Hoạch, Thích ứng với biến đổi khí hậu ở Quảng Ninh: Hiệu quả từ tuyên truyền đến cách làm, Trang tin điện tử Môi trường xanh,https://moitruongxanh.org/thich-ung-voi-bien-doi-khi-hau-o-quang-ninh-hieu-qua-tu-tuyen-truyen-den-c...
[10] Xem: Quảng Ninh tiên phong nuôi tôm bền vững bằng công nghệ cao, số hóa, ngày 9-7-2025, https://vietnamnet.vn/quang-ninh-tien-phong-nuoi-tom-ben-vung-bang-cong-nghe-cao-so-hoa-2422964.html
