Nâng cao hiệu quả quản trị địa phương gắn với chuyển đổi số để phát triển kinh tế bền vững: Kinh nghiệm của Đông Nam Á và hàm ý chính sách đối với tỉnh Quảng Ninh
Hiện nay, các nước trên thế giới đều đang nỗ lực đẩy mạnh phục hồi phát triển kinh tế bền vững sau đại dịch COVID-19. Các nước Đông Nam Á, không phải là ngoại lệ, đã đưa ra nhiều giải pháp, từ các gói hỗ trợ tài khóa, tiền tệ, các giải pháp an sinh xã hội đến nỗ lực cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản trị địa phương gắn với chuyển đổi số, để thúc đẩy quá trình này. Tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia Đông Nam Á giúp Quảng Ninh nâng cao hơn nữa hiệu quả quản trị địa phương gắn với chuyển đổi số để phát triển kinh tế bền vững.

Quản trị địa phương và việc nâng cao hiệu quả quản trị địa phương ở Đông Nam Á
Trong quá trình cải cách, các quốc gia bắt đầu chuyển đổi phương thức tiếp cận từ “quản lý nhà nước” sang “quản trị nhà nước”[1]và “tại các nước đang phát triển, nhất là các quốc gia Đông Á, vấn đề quản trị nhà nước đang được quan tâm mạnh mẽ để phục hồi kinh tế”[2]. Theo báo cáo của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), quản trị nhà nước là cách thức, trong đó quyền lực được sử dụng để quản lý nguồn lực kinh tế và xã hội vì sự phát triển. Quản trị nhà nước[3] tốt liên quan mật thiết đến chế độ chính trị; quá trình sử dụng quyền lực để quản lý các nguồn lực vì sự phát triển; năng lực của chính phủ trong việc thiết kế, hoạch định thực hiện chính sách công và các chức năng chủ yếu của mình.
Quản trị địa phương (local governance) là một bộ phận của quản trị nhà nước gắn với quá trình phân quyền giữa Trung ương và địa phương đang diễn ra tại nhiều nước trên thế giới([4]). Quản trị địa phương là việc quản trị ở cấp địa phương không chỉ thuộc về bộ máy chính quyền, mà còn thuộc về cả cộng đồng nói chung và những tương tác giữa cộng đồng với các cơ quan công quyền địa phương([5]). Điều đó có nghĩa là quản trị địa phương tập trung vào tính tự quản của chính quyền địa phương và sự tham gia của nhiều chủ thể vào các công việc của cộng đồng. Xu hướng chung của các nước trên thế giới hiện nay là tổ chức chính quyền địa phương theo nguyên tắc tự quản. Theo đó, có thể xây dựng một chính quyền gần dân hơn, tạo điều kiện để người dân tham gia nhiều hơn vào các công việc của địa phương, tăng cường tính trách nhiệm của lãnh đạo địa phương trong ban hành và thực thi các quyết định của địa phương.
Quản trị địa phương có một số đặc điểm cơ bản sau: 1- Quản trị địa phương gắn với các công việc của địa phương và lợi ích của nhân dân địa phương. Do đó, quá trình quản trị cần căn cứ vào đặc điểm, nguồn lực của địa phương và nhu cầu của người dân địa phương để xây dựng kế hoạch chiến lược cho địa phương; 2 Chủ thể của quản trị địa phương là cộng đồng dân cư địa phương, bao gồm các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ,... và công dân đang sinh sống, hoạt động tại lãnh thổ địa phương. Sự tham gia của các chủ thể vào quản trị địa phương được thực hiện dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Chính quyền địa phương có quyền tự quản nhất định trong xây dựng và quản lý bộ máy của mình; 3- Quản trị địa phương tại mỗi cấp có quyền tự quản nhất định về chức năng, nhiệm vụ, bộ máy, ngân sách phù hợp với điều kiện của địa phương theo quy định của pháp luật; 4- Quản trị địa phương chịu sự kiểm soát của chính quyền Trung ương.
Như vậy, quản trị địa phương theo cách tiếp cận trên có vai trò định hướng cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thông qua xác định tầm nhìn chiến lược, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển, trực tiếp quản lý các công việc của địa phương, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của địa phương; tổ chức thực thi pháp luật, triển khai thực hiện các quyết định của chính phủ Trung ương ở địa phương, phản ánh tâm tư nguyện vọng, lợi ích của nhân dân và tạo điều kiện để nhân dân địa phương có nhiều cơ hội tham gia vào công việc của nhà nước; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội tại địa phương. Do vậy, quản trị địa phương có 3 ý nghĩa quan trọng là: 1- Gia tăng tính trách nhiệm của chính quyền địa phương; 2- Góp phần phòng ngừa tham nhũng; 3- Tạo khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Do vậy, nâng cao hiệu quả quản trị địa phương là quá trình cải cách để chính quyền địa phương có thể phục vụ tốt nhất cho người dân và doanh nghiệp và điều đó, đến lượt mình sẽ tạo nên động lực tăng trưởng và phát triển mới cho các địa phương. Qua đó, địa phương có khả năng phục hồi kinh tế bền vững sau đại dịch COVID-19. Để nâng cao hiệu quả quản trị địa phương, theo kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á, như Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, cần nâng cao hiệu quả ba yếu tố cơ bản:
Thứ nhất, trình độ dân trí và mức độ tự ý thức về quyền công dân.Trình độ dân trí được thể hiện ở sự hiểu biết của người dân về pháp luật, văn hóa - xã hội, kinh tế, khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Vì vậy, khi tham gia các công việc liên quan đến quản lý nhà nước người dân sẽ nắm bắt nhanh chóng các quy trình, thủ tục hành chính do pháp luật quy định. Khi người dân hiểu rõ được vị trí, quyền hạn của mình trong quản trị địa phương sẽ tích cực tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Vì vậy, trong quản trị địa phương cần chú ý tới tổ chức các hình thức, phương thức tham gia của người dân. Việc tiếp thu giải quyết những vấn đề mà nhân dân nêu ra chậm và né tránh sẽ làm giảm lòng tin của người dân.
Bên cạnh đó, trình độ dân trí được hiểu là sự hiểu biết về ý thức quyền và trách nhiệm của người dân, từ đó mong muốn được thực hiện quyền và trách nhiệm đó. Giá trị cuối cùng của trình độ dân trí là mức độ quan tâm của người dân trước các vấn đề xã hội, mức độ muốn làm, dám làm và khả năng hành xử trách nhiệm dân chủ của mình một cách có hiệu quả. Trong một xã hội có trình độ dân trí cao, người dân nhận thức rất rõ về quyền lợi và trách nhiệm công dân của họ. Trình độ dân trí cao còn thể hiện ở khả năng sử dụng công nghệ thông tin của người dân để tham gia góp ý cho các văn bản pháp luật và đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản trị địa phương.
Thứ hai, mức độ tham gia của các tổ chức xã hội vào quản trị địa phương.Sự tham gia cộng đồng vào quản trị địa phương góp phần nâng cao chất lượng lập kế hoạch do người tham gia có hiểu biết về điều kiện cụ thể của địa phương khiến kế hoạch có tính thích nghi cao đối với thực tiễn và khả năng thành công lớn hơn; tạo cơ sở khuyến khích nguồn tài chính từ cộng đồng, khuyến khích sự đóng góp cả về vật chất và lao động. Đồng thời, sự tham gia đó sẽ giảm thiểu những rào cản giữa chính quyền và nhân dân, tiếp nhận được các thông tin phản hồi hữu ích của người dân sử dụng dịch vụ công cộng, tránh những hậu quả xấu do không tham khảo ý kiến của những người thụ hưởng dịch vụ. Sự tham gia của cộng đồng sẽ hình thành nên các mối quan hệ đối tác trong quản trị cấp địa phương và tạo ra những sáng kiến chung do sự phối hợp của chính quyền và doanh nghiệp với các tổ chức kinh tế tư nhân, các tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức tình nguyện, các hội và tổ chức cộng đồng ở địa phương, tạo cơ hội cho quan hệ đối tác này phát triển nhưng lại có khả năng ngăn cản sự thao túng của các nhóm lợi ích thông qua cơ chế giám sát. Thông qua mối quan hệ này sẽ tạo dựng niềm tin cho các chủ thể tại địa phương, phá vỡ những rào cản đối với chính quyền. Do đó, cần thiết lập mối liên kết với những nhóm người cụ thể, thực hiện các quá trình ra quyết định của địa phương theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng chỉ có thể đạt được nếu các tổ chức cộng đồng và các chủ thể khác của quản trị địa phương được đào tạo để phát triển năng lực quản trị. Sự tham gia này cần có sự cam kết và ủng hộ chính trị, trở thành văn hóa chính trị trong quản trị địa phương. Khi công dân tin rằng lãnh đạo địa phương sẵn sàng cung cấp thông tin, lắng nghe và cùng thương thuyết sẽ khuyến khích họ tham gia mạnh mẽ vào công việc của địa phương. Với sự hợp tác tích cực của cộng đồng theo cấp số nhân do hiệu ứng lan tỏa, chính quyền địa phương sẽ giành được sự tin cậy của nhân dân và được hưởng nhiều lợi ích từ sự hưởng ứng của nhân dân đối với các lĩnh vực công cộng, như y tế, giáo dục và mở rộng dịch vụ sang những lĩnh vực khác. Sự hợp tác sẽ thúc đẩy nỗ lực và trách nhiệm công dân một cách tự nguyện, tạo ra sự đồng thuận trong thực thi chính sách của địa phương.
Thứ ba, trách nhiệm báo cáo và giải trình.Trong quản lý nhà nước, trách nhiệm báo cáo và giải trình là biểu hiện cao của cơ chế kiểm tra và giám sát của nhân dân đối với bộ máy công quyền. Thông qua quy định về trách nhiệm báo cáo của các cơ quan công quyền, công chức nhà nước về những hoạt động của mình trước các chủ thể theo quy định của pháp luật, họ sẽ chịu trách nhiệm cao hơn đối với nhiệm vụ được giao và là cách thức để đo lường hiệu quả hoạt động. Các chủ thể ban hành và thực hiện quy định pháp luật không chỉ có trách nhiệm giải trình đối với cơ quan cấp trên, đối với cơ quan dân cử, mà còn có trách nhiệm giải trình đối với khu vực tư nhân, các tổ chức xã hội, công chúng và các bên liên quan đến các quy định đó. Tuy nhiên, trách nhiệm báo cáo và giải trình không thể thực hiện nếu thiếu tính minh bạch và hệ thống các quy định pháp luật đầy đủ, chính xác.
Nội dung giải trình cần căn cứ vào quy định của pháp luật về nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức. Trên cơ sở những quy định chung đó, trong từng lĩnh vực, từng ngành cần có những quy định cụ thể trong nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị về nhiệm vụ, công vụ của công chức trong từng vị trí, chức danh cụ thể. Ở nhiều nước Đông Nam Á, nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức trong từng vị trí, chức danh được mô tả cụ thể, chi tiết trong bảng mô tả công việc. Đây là một trong những căn cứ rõ ràng nhất để đánh giá trách nhiệm thực hiện của cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời là cơ sở để yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức thực hiện trách nhiệm giải trình về những việc chưa làm được hoặc những hậu quả xấu từ việc thực hiện nhiệm vụ.
Chuyển đổi số để phát triển bền vững ở khu vực Đông Nam Á
Chuyển đổi số (digital transformation) là sự tích hợp công nghệ kỹ thuật số vào tất cả các lĩnh vực của doanh nghiệp, tận dụng công nghệ số để thay đổi căn bản cách thức vận hành, mô hình kinh doanh và cung cấp giá trị mới cho khách hàng, cũng như tăng tốc các hoạt động kinh doanh. Đại dịch COVID-19 thúc đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt tại khu vực Đông Nam. Các nước ASEAN hiện dẫn đầu về chuyển đổi số ở châu Á - Thái Bình Dương.
Kể từ khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát, hơn 70 triệu người dân Đông Nam Á trên 15 tuổi đã trở thành người tiêu dùng số. Tốc độ tăng trưởng người tiêu dùng số song hành cùng mức tăng chi tiêu số nhanh chóng trên địa bàn lên tới 80%/năm và dự kiến tổng giá trị mua sắm trực tuyến sẽ tăng gấp đôi tính đến năm 2026. Mặc dù đạt tốc độ tăng trưởng “nóng” song truy cập Internet, cũng như tiến trình số hóa ở Đông Nam Á vẫn chưa đồng nhất, còn sự phân chia trong tiến trình tiếp cận kỹ thuật số và nhiều vấn đề làm lu mờ quá trình chuyển đổi số trong khu vực. Theo đó, ASEAN đang phải đối diện với không ít khó khăn trong tiến trình chuyển đổi số.
Một là, tồn tại khoảng cách phát triển kỹ thuật số trong khu vực.Mặc dù đạt được tốc độ tăng trưởng kỹ thuật số nhanh, song tiến trình chuyển đổi số ở Đông Nam Á về tổng thể vẫn chưa đồng nhất, tồn tại sự phân chia trong tiếp cận kỹ thuật số giữa các nước thành viên ASEAN và ngay trong chính bản thân mỗi nước. Sự phân hóa kỹ thuật số thể hiện rõ ở ở các vùng nông thôn Đông Nam Á. Thêm nữa, những rào cản về pháp lý khiến chất lượng dịch vụ công trực tuyến, quá trình xây dựng chính phủ điện tử trong khu vực còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến việc người dân, doanh nghiệp tiếp cận bình đẳng các dịch vụ số và do vậy, ảnh hưởng tới việc thúc đẩy việc xây dựng nền kinh tế số và xã hội số.
Hai là, hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi số còn nhiều hạn chế. Mặc dù tiến trình chuyển đổi số của ASEAN đạt nhiều triển vọng và tiềm năng, song tình trạng thiếu hụt kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông là một trong những rào cản đối với tăng trưởng kinh tế số ở ASEAN, nhất là các quốc gia tầm trung trong khối. Phần lớn số doanh nghiệp ở ASEAN (trên 90%, thậm chí có nước chiếm tới trên 95%) là các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME) tạo nên “xương sống” của nền kinh tế số ở ASEAN. Mặc dù có tới 75% số doanh nghiệp trong khu vực xem xét nghiên cứu những cơ hội mà hội nhập kinh tế số đem lại song chỉ có 16% số doanh nghiệp hoàn toàn làm chủ được công nghệ số.
Ba là, những quy định thương mại số ở các nước ASEANvẫn mang tính chắp vá. Các chính sách quan trọng như sự cởi mở dữ liệu và tính riêng tư vẫn chưa được phát triển ở các nước ASEAN.Mặc dù ASEAN có Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) là hiệp định thương mại tự do (FTA) lớn nhất khu vực, song những hiệp định thương mại số ở khu vực hiện mới đang bắt đầu hình thành, như Hiệp định Đối tác kinh tế số giữa Singapore, Chi-lê và New Zealand (DEPA); Hiệp định Kinh tế số giữa Singapore và Australia (SADEA). Cả 2 hiệp định đều được ký kết vào năm 2020 với mục tiêu tạo ra môi trường thương mại số tự do, bao gồm thanh toán điện tử, hóa đơn điện tử, giao dịch không cần giấy, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các dữ liệu xuyên biên giới([6]). Đây là những hiệp định đi đầu trong phát triển kinh tế số nhằm thiết lập hệ sinh thái số chung dựa trên các phương thức hiện đại nhất của cách mạng số, như trí tuệ nhân tạo (AI), nhận dạng kỹ thuật số.
Bốn là, nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi số. Nhân tố quan trọng nhất trong cạnh tranh và chuyển đổi số là nguồn nhân lực, đặc biệt nhân lực công nghệ thông tin. Đây là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của quá trình chuyển đổi số. Tuy vậy, vấn đề này đang là điểm hạn chế của các nước ASEAN.
Năm là, thách thức về an ninh mạng, bảo mật an toàn thông tin. Kinh tế số dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, Internet luôn chứa đựng nguy cơ lớn về bảo mật, an toàn thông tin, tài chính và tính riêng tư của dữ liệu, của các chủ thể tham gia kinh tế số. Mặc dù nhóm 6 nước phát triển hơn trong ASEAN có những luật lệ cụ thể về vấn đề này, song mỗi nước lại có những tiêu chuẩn rất khác biệt khi áp dụng. Chuyển đổi số vẫn là một quá trình không dễ dàng với các doanh nghiệp khi gặp những thách thức, như khả năng tiếp cận các thông tin, tài liệu, chuyên gia hỗ trợ; khả năng kết nối với các giải pháp trên thị trường; khả năng tiếp cận các nguồn vốn...
Nâng cao hiệu quả quản trị địa phương gắn với chuyển đổi số để phục hồi tăng trưởng bền vững ở Quảng Ninh
Xuất phát từ kinh nghiệm của các nước Đông Nam Á, đồng thời bám sát Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về việc nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và chuyển đổi số để có thể phục hồi phát triển bền vững, bắt kịp, thậm chí vượt các địa phương trong khu vực và trên thế giới sau đại dịch COVID-19, Quảng Ninh cần kết hợp hai chiến lược này theo các hướng:
Thứ nhất, tiếp tục định vị, hoàn thiện vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền Quảng Ninh trong quản trị địa phương; thực hiện phân cấp, phân quyền, ủy quyền mạnh mẽ, hợp lý theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Sự ra đời của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020, qua đó góp phần hoàn thiện thể chế về chính quyền địa phương, tạo ra không gian mới nhiều thuận lợi cho chính quyền địa phương trong việc nâng cao hiệu quả quản trị địa phương. Tuy nhiên, thể chế về chính quyền địa phương vẫn còn tồn tại những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phục hồi kinh tế bền vững. Theo đó, trong thời gian tới, nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương, các cơ quan có thẩm quyền của Quảng Ninh cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy định pháp luật về chính quyền địa phương; định vị rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, phân định rõ thẩm quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương theo tinh thần của Đại hội XIII đã xác định “củng cố, hoàn thiện hệ thống chính quyền địa phương; phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa Trung ương và địa phương”, “đẩy mạnh phân cấp, phân quyền bảo đảm quản lý thống nhất, phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cấp, các ngành”.Phân cấp, phân quyền, ủy quyền góp phần phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương trên cơ sở phân định rõ, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp trong bộ máy nhà nước; mặt khác, bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất và thông suốt của chính quyền Trung ương, tăng cường kỷ luật, kỷ cương để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước phục vụ tốt hơn, thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh trên cơ sở phát huy thế mạnh của địa phương.
Thứ hai, đẩy mạnh quá trình thực hiện chuyển đổi số gắn với xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số. Thực hiện chuyển đổi số là giải pháp hữu hiệu giúp các cấp chính quyền Quảng Ninh nâng cao hiệu quả quản trị địa phương, giúp phục vụ người dân, doanh nghiệp một cách tốt nhất. Tuy nhiên, các chỉ số về thanh toán điện tử, tỷ lệ giao dịch kỹ thuật số tại Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng Ninh nói riêng, còn tương đối thấp, do nhiều quy định liên quan đến chuyển đổi số mới đang được xây dựng, hình thành, như tiêu chuẩn công nghệ, giao dịch thương mại điện tử, chứng thực số, thuế, hải quan... Bảo đảm an ninh mạng là những thách thức quan trọng đối với mỗi địa phương, trong đó có Quảng Ninh, khi nguồn lực và khả năng của tỉnh còn hạn chế. Do đó, Quảng Ninh cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số, góp phần thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi số theo tinh thần Đại hội XIII: “thực hiện chuyển đổi số trong quản trị quốc gia, quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, tổ chức xã hội và quản lý tài nguyên quốc gia”,“thực hiện chuyển đổi số trong tất cả các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước”.
Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ công phục vụ người dân doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng, hiệu quả cung ứng dịch vụ công bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn là một trong những mục tiêu xuyên suốt của việc nâng cao hiệu quả quản trị của tỉnh. Cung ứng dịch vụ công trực tuyến sẽ bảo đảm cho người dân, doanh nghiệp nhận được những dịch vụ có chất lượng cao từ chính quyền địa phương. Đó là biểu hiện sinh động của một chính quyền điện tử, kiến tạo, phục vụ.
Thứ tư, khuyến khích doanh nghiệp và người dân thanh toán số và chuyển đổi số. Thanh toán số là một trong những trụ cột căn bản để tạo nên nền kinh tế số. Tại Quảng Ninh, đã có hơn 85% khách hàng thanh toán tiền điện; gần 78% khách hàng thanh toán tiền nước sinh hoạt không dùng tiền mặt và trích nợ tự động qua tài khoản ngân hàng, ứng dụng ví điện tử; tra cứu và tải hóa đơn điện tử trên ứng dụng hoặc website của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Từ giữa năm 2022, Quảng Ninh phối hợp nhiều nhà cung cấp thí điểm các mô hình “Chợ 4.0”, “Phố thông minh” tại nhiều điểm du lịch, trung tâm thương mại, thiết lập hơn 1.000 điểm thanh toán không dùng tiền mặt và hỗ trợ khoảng 1.000 hộ tiểu thương mở các tài khoản trực tuyến để giao dịch. Tuy vậy, một số hình thức thanh toán điện tử vẫn chưa được phổ biến do tâm lý e ngại về tính an toàn, thậm chí một số người vẫn còn suy nghĩ “tiền tươi thóc thật” hoặc người lớn tuổi gặp khó trong sử dụng ứng dụng... Do vậy, bên cạnh việc hỗ trợ các nhà cung cấp dịch vụ phát triển hạ tầng hiện đại, an toàn, cũng như kết nối, tích hợp hiệu quả với các hệ thống khác, Quảng Ninh cần đẩy mạnh mở rộng sản phẩm, dịch vụ thanh toán điện tử, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa trên toàn địa bàn; đồng thời, đẩy mạnh liên kết với các ngân hàng hơn nữa để phát triển và ứng dụng phương thức thanh toán trực tuyến, điện tử tiên tiến, thực hiện việc thu phí, lệ phí các thủ tục hành chính và dịch vụ công nhằm tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp khi thanh toán phí, lệ phí.
Thứ năm, xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền địa phương tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả bảo đảm nâng cao hiệu quả quản trị các vấn đề của địa phương. Trong tiến trình phục hồi kinh tế bền vững hiện nay, đòi hỏi Quảng Ninh phải xác định lại sứ mệnh của mình là dẫn dắt, định hướng, khuyến khích, tạo điều kiện cho địa phương phát triển theo đúng khuôn khổ và định hướng của cả nước và giải quyết tốt các vấn đề của địa phương, đáp ứng tốt nguyện vọng của nhân dân trong địa phương. Điều đó có nghĩa là chính quyền tỉnh Quảng Ninh cần thay đổi tư duy về mục tiêu quản trị địa phương: từ mục tiêu quản lý sang quản trị, lấy hiệu quả thực thi công vụ, phục vụ người dân và doanh nghiệp tại địa phương làm mục tiêu quản trị (lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm của sự phục vụ). Điều này đòi hỏi chính quyền Quảng Ninh cần khuyến khích hơn nữa các tư duy mới, đột phá, sáng tạo vì giá trị chung của cộng đồng địa phương, cũng có nghĩa là phải thay đổi phương thức quản trị để nâng cao hiệu quả, chất lượng cung ứng các dịch vụ cho tổ chức, công dân phù hợp với sự phát triển của khoa học - công nghệ, chuyển phương thức quản lý truyền thống sang phương thức quản trị hiện đại, trực tuyến áp dụng công nghệ số. Muốn nâng cao hiệu quả quản trị địa phương đòi hỏi tổ chức bộ máy chính quyền địa phương phải thực sự tinh gọn và khoa học, có khả năng cảm nhận, thích ứng và giải quyết tốt các vấn đề của địa phương. Tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền địa phương tạo nên “sự thống nhất trong đa dạng” về tổ chức bộ máy nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản trị của chính quyền địa phương.
Thứ sáu, xây dựng đội ngũ nhân sự có năng lực, chuyên nghiệp, luôn nêu cao tinh thần thực thi công vụ vì nhân dân, không vụ lợi, không tham nhũng, đồng thời xác định rõ vị trí việc làmcho cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh. Hiện nay, thiếu hụt nguồn nhân lực là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chuyển đổi số tại Việt Nam nói chung và tại các địa phương nói riêng, trong đó có Quảng Ninh. Theo Báo cáo chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông Việt Nam (Vietnam ICT Index) năm 2018 của Bộ TT&TT, chỉ số xếp hạng chung của tỉnh Quảng Ninh trong 3 năm gần đây luôn đứng trong tốp 5 toàn quốc. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực trong các cơ quan nhà nước của tỉnh lại chưa tương xứng với sự phát triển, yêu cầu và mức độ đầu tư của tỉnh (đứng thứ 7/63 tỉnh, thành phố). Nguyên nhân chính là do chất lượng, số lượng nhân lực công nghệ thông chưa cao, cơ cấu chưa hợp lý. Do đó, sự thiếu hụt nguồn nhân lực công nghệ thông tin về cả số lượng và chất lượng được xem là một trong những thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế số của Quảng Ninh. Bởi vậy, vấn đề đặt ra hiện nay cho tỉnh Quảng Ninh là phải quy tụ, thu hút, trọng dụng và giữ chân được những nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao với bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có tư duy, kỹ năng, tri thức nhìn nhận toàn diện, bao quát thời cơ, thách thức và biết cách ứng phó với rủi ro trong quá trình thực thi nhiệm vụ ở địa phương, quản lý trên nền tảng tư duy kiến tạo.Trong bối cảnh đó, việc đào tạo, bồi dưỡng cần phải được đảy mạnh và triển khai đồng bộ từ bồi dưỡng, cập nhật các kiến thức đến bồi dưỡng kỹ năng về quản trị điện tử, quản trị hiện đại để giúp phát triển năng lực thực thi công vụ, nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh gắn với từng vị trí việc làm.
Thứ bảy, đẩy mạnh việc thu hút sự tham gia của người dân vào hoạt động quản trị địa phương. Việc nâng cao hiệu quả quản trị địa phương phải bảo đảm các nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm, phải dựa trên nhu cầu thực tế của người dân, làm cho tất cả người dân được hưởng thành quả từ quá trình này; bảo đảm hầu hết người dân có nhận thức đầy đủ về các lợi ích, người dân được khảo sát, lấy ý kiến rộng rãi trong quá trình xây dựng và triển khai các kế hoạch phát triển địa phương. Đồng thời, người dân được tạo điều kiện, hướng dẫn để có thể tiếp cận được các dịch vụ của địa phương một cách thuận tiện nhất. Đồng thời, sự tham gia của người dân trong quản trị địa phương là tất yếu của quá trình xây dựng, nâng cao hiệu quả quản trị địa phương, giúp các quyết định quản trị của tỉnh được chính xác, phù hợp. Sự tham gia của người dân trong quản trị địa phương thể hiện rõ tư duy và hành động đột phá của chính quyền Quảng Ninh trong việc xem người dân là chủ thể tạo ra các giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương và người dân là những người thụ hưởng các giá trị này; đồng thời, thực hiện tốt nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và phát triển thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định[7]./.
[1] Quản lý nhà nước được hiểu là sự quản lý của bộ máy nhà nước đối với các lĩnh vực, hoạt động đời sống xã hội; trong đó, Nhà nước đóng vai trò chủ thể quản lý. Quản trị nhà nước thì Nhà nước vừa là chủ thể quản trị xã hội, vừa là đối tượng được quản trị bởi công dân và các thiết chế xã hội khác. Cho đến nay, tùy thuộc vào trình độ phát triển cũng như đặc thù bối cảnh, mỗi quốc gia có thể theo đuổi những triết lý và mô hình khác nhau trong việc xây dựng nền quản trị nhà nước, nhưng những triết lý và mô hình đó đều thống nhất ở chỗ đều coi người dân là trung tâm của quản trị nhà nước. Mục đích cuối cùng của quản trị nhà nước là đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển bền vững của quốc gia nhằm tạo lập, duy trì và củng cố những giá trị cần thiết cho sự phát triển bền vững.
[2] Nguyễn Văn Đáng: “Xây dựng nền quản trị quốc gia theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng”, Trang thông tin hội đồng lý luận Trung ương, ngày 7-5-2021.
[3] Quản trị nhà nước bao gồm 4 yếu tố: 1- Trách nhiệm báo cáo gắn liền với việc quan chức nhà nước có trách nhiệm báo cáo trước công dân những vấn đề thuộc về hoạt động của họ; 2- Minh bạch để công dân có thể tiếp cận hoạt động của nhà nước theo cách thức dễ dàng nhất, ít tốn kém nhất; 3- Thông tin về pháp luật phải được biết trước và thực hiện thống nhất; 4- Sự tham gia của công dân trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của chính phủ.
[4] Xem: May: Decentralization and Democratic Local Governance Program,Handbook, Washington D.C., 2020.
[5] ADB: Decentralization and Democratic Local Governance Programming, Handbook, Manila, Philippines, 2000.
[6] Ngày 25-2-2022, Singapore và Anh cũng đã ký kết Hiệp định kinh tế số (UK - Singapore Digital Economic Agreement - UKSDEA).
[7] “Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 23-3-2021, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xiii/bao-cao...
