Mùi hương áo cũ
Cuộc đời như nước chảy mây trôi, mùi hương ấy cuối cùng cũng đã bay đi theo gió, nhưng tôi vẫn nán đợi, mong nó quay về, dù chỉ trong thoáng chốc.

Sáng nay, gió bấc đem đám nắng vàng ươm trở về nhảy múa trên tán lá cây trong vườn. Ngày cuối năm vội vã, ai cũng mong muốn trời lạnh và khô ráo để dọn dẹp nhà cửa hay đi mua sắm tết cho thuận tiện. Chợ làng, nơi cái hàng bán cau trầu duy nhất còn sót lại, có mấy bà già mặc áo nhung chần bông ngồi nhai trầu, ôn chuyện tết xưa trong nắng sớm.
Hơi lạnh khiến đôi tay nhăn nheo đầy vết đồi mồi run rẩy. Những vuông khăn thêu kim tuyến thường ngày chỉ quàng làm duyên nay được trùm lên che kín mái tóc đã bạc trắng như cước. Mùi trầu cau thơm nồng trong gió, đôi môi đỏ thắm quết trầu, nụ cười móm mém và hàm răng đen nhánh như hạt na giờ đã thiếu đi vài chiếc...
Tất cả những thứ đó, với tôi đã lâu rồi trở nên xa ngái. Vậy mà sáng nay, trong gió lạnh, chúng chợt làm dậy lên một niềm nhớ nôn nao. Không gian buổi chợ phiên cuối năm ngày nào trở về ngay trước mắt tôi như trong một cuốn phim quay chậm - một cuốn phim sống động với đủ âm thanh, màu sắc và đặc biệt là hơi ấm của chiếc áo len nâu đượm nồng mùi hương trầu vỏ.
Giá như thay những chiếc áo nhung chần bông sang trọng kia bằng chiếc áo len nâu mỏng dính đã sờn bạc, cùng vuông khăn vải cũ kỹ, chắc hẳn tôi đã thấy mình đang ngồi bên những vỉ buồm đậy cau trầu trong một gian lều lá liêu xiêu, xung quanh rạo rực sắc màu của một phiên chợ tết xưa.
Ngày ấy, mẹ tôi cũng như bao bà bạn hàng cùng trang lứa, ai diện lắm cũng chỉ sắm được một chiếc áo len, thường là màu nâu hoặc mận chín vì màu đó “sạch”. Rét quá thì mặc thêm vài lượt áo cánh, quàng cổ hay trùm đầu bằng vuông khăn vải, sang lắm mới có khăn len. Khăn áo nhung cũng có, nhưng thường chỉ nằm trong mơ ước của những người nghèo như mẹ mà thôi.
Tôi nhớ chiếc áo len nâu ấy vì nó có một mùi hương rất đặc biệt của cau trầu vôi vỏ. Những khi lạnh giá, mẹ cũng giống như nhiều người hồi ấy, ăn trầu nhiều hơn cho ấm người. Chỉ với một miếng cau nhỏ, một lá trầu quệt chút vôi và vài sợi vỏ, vậy mà môi người ta đỏ thắm, hơi thở thơm và ấm lạ lùng.
Vào những đêm tháng chạp, tôi hay mượn chiếc áo len của mẹ mặc để ngồi học bài. Có khi buồn ngủ quá, nằm tạm xuống giường vẫn mặc nguyên chiếc áo mà thiếp đi lúc nào không hay. Mùi hương ấy, tôi không biết gọi tên ra sao, chỉ biết nó thân thuộc và dễ chịu, không giống bất kỳ mùi hương nào khác và chỉ có ở những người quen ăn trầu.
Chiếc áo len có 2 túi rất sâu đan chìm trong vạt, khiến mẹ rất ưng ý vì “gia tài” có thể gài kim băng và nằm gọn trong đó. Áo được đan tay bởi một người phụ nữ trong làng, mũi đan chặt, vừa vặn, nên lâu bị bai nhão. Đan áo len mùa đông là công việc đem lại thu nhập ít ỏi nhưng đòi hỏi sự kiên trì và đôi tay khéo léo.
Chiếc áo theo mẹ suốt nhiều mùa đông, vừa ủ ấm cơ thể vừa là nơi yên tâm cất giữ tiền hàng. Khi cũ quá, người ta có thể dỡ ra, thêm len để đan lại thành chiếc áo khác dày hơn. Bởi thế, những chiếc áo len pha nhiều màu sắc ngày ấy thường là áo đan lại cho đỡ phí, vì len là thứ quý giá và đắt đỏ.
Mỗi buổi chiều mẹ về chợ, tôi hay lục quang gánh, thích thú sờ vào những cuộn len mềm mại. Nhưng cũng như nhiều gia đình khác, nhà tôi con đàn cháu đống, mẹ phải chi tiêu đủ bề, mãi vẫn chưa “dư dả” để mua sắm cho mình.
Ngày ấy, chợ tết hàng trầu cau lúc nào cũng tấp nập. Bàn thờ không nhà ai thiếu cau trầu; làm lễ xong là hạ xuống bổ ra mời khách. Tôi nhớ phiên chợ năm ấy, nắng hanh vàng rực y hệt như sáng nay, gió vẫn buốt lạnh. Những cơn gió xoáy cuốn bụi trắng và lá khô lên cao, làm tay tôi khô nẻ, tê cóng, khiến cau trầu cũng dễ héo.
Tôi núp sau lưng mẹ, lọt thỏm giữa những buồng cau xanh mướt, những túi cau khô căng phồng và bó nhang thơm chỉ bán vào dịp tết. Tôi ngồi trên mấy tấm vỉ buồm, cảm nhận mùi thơm ngọt và ấm tỏa ra từ chiếc áo len nâu mỏng dính, vừa gặm miếng bánh chưng rán nóng hổi mẹ mua cho, vừa sung sướng nhìn dòng người đi sắm tết. Mẹ ngồi bên, luôn tay lấy cau trầu cho khách, môi má đỏ rực, nụ cười lấp lánh hàm răng đen nhức như hạt na.
Hôm ấy, tôi háo hức nghĩ đến một cuộn len nâu mới sẽ theo mẹ về nhà. Nhưng khi chợ vãn, ghé hàng xén thì len đã bán hết. Mẹ có tiền mà không mua được, phải chờ đến mùa đông năm sau. Thế là cái áo ấy chưa được đan. Tết năm ấy, chúng tôi xúng xính quần áo mới, chỉ có mẹ vẫn tiếp khách trong chiếc áo len nâu sờn bạc.
Những năm sau, khi cuộc sống bớt vất vả, quần áo đầy tủ, mẹ vẫn thích mặc màu nâu. Áo nhung thêu kim tuyến chỉ dành cho những dịp thật đặc biệt. Mãi sau này tôi mới hiểu, có lẽ vì màu nâu dễ che đi dấu vết của thời gian, khiến chiếc áo cũ không quá lộ vẻ cũ mòn.
Sáng cuối năm này, mùi trầu cau trong gió lạnh lại đưa tôi trở về bên chiếc áo cũ đã sờn nhưng ấm sực và thơm hương, bên gánh hàng cau trong một phiên chợ tết xa xôi. Cuộc đời như nước chảy mây trôi, mùi hương ấy cuối cùng cũng đã bay đi theo gió, nhưng tôi vẫn nán đợi, mong nó quay về, dù chỉ trong thoáng chốc./.