Một vài suy nghĩ về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số ở tỉnh Quảng Ninh theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW

Nhận thức về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức rất rõ, coi trọng phát triển khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) ngay từ những ngày đầu thành lập nước, coi đây là xương sống phát triển công nghiệp để từ đó xây dựng và phát triển đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Đại hội VI (năm 1986) đánh dấu bước khởi đầu của công cuộc đổi mới, đổi mới tư duy phát triển KHCN thể hiện trên một số quan điểm quan trọng: Khoa học, kỹ thuật là động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp đổi mới, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa; những người hoạt động khoa học, kỹ thuật là đội ngũ cán bộ tin cậy, quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) tiếp tục khẳng định: KHCN là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; KHCN cùng với giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Ở các kỳ đại hội sau, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm coi trọng KHCN, nhấn mạnh phát triển KHCN thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững; phát triển mạnh KHCN làm động lực nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế; đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, chính sách phát triển KHCN; gắn các mục tiêu, nhiệm vụ KHCN với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội”...
Đại hội XI (năm 2011) và Đại hội XII (năm 2016) của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển KHCN là quốc sách hàng đầu; KHCN là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại; ứng dụng KHCN là khâu đột phá để nâng cao chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; xác định KHCN là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại.
Ngày 27-9-2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW, “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, trong đó xác định nội dung cốt lõi của chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở nước ta là thúc đẩy phát triển KHCN, ĐMST trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số (CĐS) quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số.
Đại hội XIII (năm 2021) nhận định: “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc”. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội XIII chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ về tư duy, nhận thức, tầm nhìn của Đảng ta về vấn đề thời đại nói chung và KHCN nói riêng.
Đảng ta, nhất là người đứng đầu Đảng - Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhận thức sâu sắc cơ hội, bước ngoặt, bước phát triển nhảy vọt Việt Nam đã đến nếu kịp thời nắm bắt, tạo ra và làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược có ý nghĩa vạch ra thời đại mới của nhân loại. Trong bối cảnh thế giới đẩy nhanh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, CĐS mạnh mẽ để bước vào kỷ nguyên số, Việt Nam đứng trước cơ hội lớn để vươn mình.
Đối với thế giới: “Kỷ nguyên là một giai đoạn lịch sử được đánh dấu bởi những đặc điểm quan trọng hoặc sự kiện có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội - văn hóa - chính trị - tự nhiên”. “Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới”.
Đối với Việt Nam: “Kỷ nguyên vươn mình hàm ý tạo sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, tích cực, nỗ lực, nội lực, tự tin để vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng, vươn tới mục tiêu, đạt được những thành tựu vĩ đại”. “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đem đến cơ hội mà những quốc gia đang phát triển, chậm phát triển có thể nắm bắt để đi trước đón đầu, phát triển vượt bậc”([1]).
Từ hệ thống quan điểm của Đảng, nhìn lại lịch sử, cũng có thể thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi phân kỳ lịch sử phát triển của nhân loại; trong đó, góc độ phổ biến, được đông đảo học giả và người có nhu cầu tìm hiểu lựa chọn, dù với thế giới quan khác nhau, đó là nhận thức dưới góc độ sự phát triển của KHCN, ĐMST. Nền văn minh nhân loại đã chứng kiến những thời đại mới, ra đời cùng các phát minh vĩ đại của KHCN, như thời kỳ đồ đá, đồ đồng,… cho tới các cuộc cách mạng công nghiệp.
Ngày nay, thế giới đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên số (Digital Age) và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Bài học lớn từ thực tiễn phát triển của lịch sử nhân loại là: Quốc gia - dân tộc nào nắm được, khai thác hiệu quả công nghệ lõi của thời đại thì có cơ hội rất lớn để phát triển hùng cường.
C.Mác và Ph.Ăng-ghen là những người đã nhìn nhận đúng đắn, kiến giải sâu sắc sự phát triển của lịch sử loài người không chỉ dưới góc độ là lịch sử đấu tranh giai cấp mà còn là lịch sử phát triển của lao động, công cụ lao động, quan hệ lao động, phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất,… - những vấn đề quan hệ chặt chẽ với KHCN. Dưới góc độ phương thức sản xuất, sự phát triển của nhân loại là sự tiến bộ từ phương thức sản xuất cũ sang phương thức sản xuất mới, mà cốt lõi của phương thức sản xuất đều gắn với những phát minh, phát kiến KHCN mang tính thời đại, từ lửa, đồ đá, đồ đồng, tới các cuộc cách mạng công nghiệp...
Mác - Ăng-ghen chỉ rõ: Sự phát triển của khoa học và kỹ thuật ảnh hưởng đến trực tiếp đến lao động, sản xuất; và quan trọng hơn, điều đó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển trên các lĩnh vực khác, từ kinh tế đến chính trị, kể cả văn hóa…
Là người hiện thực hóa chủ nghĩa Mác vào thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa, V.I. Lê-nin khái quát: “Xã hội cộng sản chủ nghĩa chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở những tiến bộ khoa học và kỹ thuật tiên tiến, kết hợp với hệ thống chính quyền Xô-viết”. Từ quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê-nin có thể nhận thấy KHCN tiên tiến vừa là điều kiện, vừa là đặc trưng của xã hội XHCN.
Như vậy, có thể rút ra một số điểm quan trọng sau: 1- Phát triển kinh tế - xã hội phải dựa vào KHCN; 2- Trình độ phát triển KHCN là thước đo trình độ phát triển của quốc gia - dân tộc, địa phương; 3- Sự phát triển mạnh mẽ của KHCN vừa là điều kiện vừa là đặc trưng, vừa là ưu việt của xã hội XHCN.
Từ đó, có thể khẳng định, sự ra đời của Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị, vừa là sự kế thừa, phát triển mạnh mẽ quan điểm, tầm nhìn về phát triển KHCN của Đảng ta, vừa có ý nghĩa đột phá, xác lập một trong những trụ đỡ phát triển quan trọng nhất đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.
Nghị quyết số 57-NQ/TW khẳng định: Phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ đưa ra quan điểm, đường lối có ý nghĩa “vạch thời đại” mà trong nội dung của Nghị quyết đã định hình con đường phát triển, những vấn đề cốt lõi, những nhóm giải pháp cơ bản, trọng tâm, bứt phá không chỉ ở tầm quốc gia mà còn với địa phương, lĩnh vực - đây cũng là bước phát triển mới của Đảng trong đề ra đường lối lãnh đạo.
Một vài suy nghĩ về các đột phá cần thực hiện tại Quảng Ninh
Với điều kiện, bối cảnh hiện nay([2]), Quảng Ninh là một trong những tỉnh hội tụ đủ tiềm năng, thế mạnh để trở thành địa phương tiên phong của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới; là cực tăng trưởng của vùng đồng bằng sông Hồng (theo Quyết định 368/QĐ-TTg ngày 4-5-2024) và nằm trong “xương sống” phát triển của vùng động lực phía Bắc (theo điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia 2021 – 2030). Tầm nhìn về phát triển KHCN, ĐMST, CĐS của tỉnh là sự kế thừa, phát triển trong suốt chiều dài lịch sử hiện đại([3])và được nâng tầm trong kỷ nguyên mới. Ngay sau khi Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành, tỉnh đã thấu triệt và thống nhất đường lối, định hướng coi KHCN là “kim chỉ nam” cho phát triển bền vững của tỉnh.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định rõ:
1- Về quan điểm: Quảng Ninh phấn đấu trở thành một trong những tỉnh tiên phong ứng dụng và phát triển KHCN, ĐMST, CĐS; trở thành một trong những tỉnh tiên phong ứng dụng và phát triển KHCN, ĐMST, CĐS;
2- Về mục tiêu tổng quát: KHCN, ĐMST, CĐS, chuyển đổi xanh là động lực chính cho phát triển;
3- Nhiệm vụ trọng tâm: Đột phá về KHCN và ĐMST, CĐS là động lực chính cho phát triển và tạo bứt phá mạnh mẽ về năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng thích ứng, chống chịu và sức cạnh tranh của kinh tế địa phương;
4- Khâu đột phá: Đẩy mạnh phát triển KHCN, ĐMST và CĐS, phát triển kinh tế tư nhân, hạ tầng công nghệ để thúc đẩy phát triển kinh tế số, du lịch biển, kinh tế biển, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, phát triển đặc khu Vân Đồn - đặc khu kinh tế thế hệ mới và cửa khẩu thông minh tại Móng Cái;
5- Nhiệm vụ thường xuyên, giải pháp lớn: Đẩy mạnh cơ cấu, xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế, lấy KHCN và ĐMST làm động lực chính([4]).
Căn cứ Nghị quyết số 57-NQ/TW; chủ trương và thực tiễn phát triển KHCN, ĐMST, CĐS của Quảng Ninh, có thể hình dung các vấn đề cốt lõi, nội dung cần đột phá sau đối với tỉnh để có thể đột phá phát triển trong kỷ nguyên mới:
Một là, trọng tâm, cốt lõi của KHCN là phát minh có ý nghĩa tạo bước thay đổi về chất, tạo ra bước ngoặt, bước nhảy vọt trong phát triển của quốc gia - dân tộc, cộng đồng, như tìm ra lửa, đồ đá, đồ đồng, máy hơi nước, xe lửa, điện…
Những quốc gia - dân tộc làm chủ công nghệ mới sẽ có cơ hội lớn trở thành cường quốc; các tổ chức, nhất là các doanh nghiệp phát minh và làm chủ công nghệ mới có thể một bước trở thành tập đoàn lớn - điều đã được minh chứng rất rõ qua lịch sử hình thành các tập đoàn lớn trên thế giới, mà ngày nay tiêu biểu như những công ty gắn với các sáng chế, sáng tạo liên quan đến AI, CĐS.
Những công nghệ mang tính chất đặc biệt quan trọng đó được định nghĩa là công nghệ chiến lược. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã nêu bật tầm quan trọng và có những định hướng, chỉ đạo quyết liệt về phát triển công nghệ chiến lược. Trong kỷ nguyên mới của đất nước khi cùng thế giới bước vào kỷ nguyên số, công nghệ chiến lược được xác định là: trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (big data), điện toán đám mây (cloud computing), chuỗi khối (block chain), bán dẫn, công nghệ lượng tử, nano, thông tin di động 5G, 6G, thông tin vệ tinh…
Phát minh, sáng tạo ra những sản phẩm riêng của quốc gia, địa phương thuộc nhóm công nghệ chiến lược có nhiều ý nghĩa quan trọng. Phát minh, sáng tạo ra sản phẩm ưu việt, có thể xuất khẩu công nghệ, giúp đất nước, địa phương có cơ hội lớn để trở thành “khổng lồ”; tạo ra các sản phẩm riêng thì ít nhất có ý nghĩa giảm phụ thuộc, tránh rủi ro, tăng cường bảo mật, tiết kiệm chi phí so với phải nhập khẩu, thuận tiện làm chủ công nghệ; hoặc vận dụng, khai thác hiệu quả công nghệ chiến lược vào các lĩnh vực vừa là yêu cầu bắt buộc vừa tạo cơ hội lớn để phát triển.
Do đó, cùng với đầu tư thích đáng để nghiên cứu, sáng tạo, triển khai công nghệ chiến lược tại địa phương (ở tầm quốc gia, Nghị quyết số 57-NQ/TW đề ra là 15% ngân sách nghiên cứu khoa học), tỉnh Quảng Ninh cần nghiên cứu nhằm CĐS, ĐMST công nghệ chiến lược trong các lĩnh vực thế mạnh của mình; thậm chí có thể tạo ra các lĩnh vực thế mạnh mới, nhằm gia tăng lợi thế so sánh của địa phương.
Kinh nghiệm một số tỉnh, thành phố lớn trên thế giới có điều kiện phát triển tương tự tỉnh Quảng Ninh, các địa phương này nhờ đẩy mạnh ứng dụng KHCN trong từng lĩnh vực, ứng dụng mạnh mẽ CĐS gắn với AI, tăng cường phủ IoT,… đã xây dựng một hệ sinh thái phát triển đồng bộ, thống nhất. Trong đó, sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch tạo ra một vòng tròn hỗ trợ, tương thích, thúc đẩy nhau phát triển, tạo nên thương hiệu riêng của địa phương.
Cùng với đó là hệ thống giao thông, logistic kết nối thông minh các ngành, địa phương, phát huy tối đa hiệu quả tiêu thụ nội địa lẫn xuất ra bên ngoài. AI, điện toán đám mây, big data… giúp vận hành hiệu quả các lĩnh vực sản xuất lớn, nhiều công đoạn phức tạp như công nghiệp khai khoáng, giao thông, logistic; đồng thời, cũng giúp tăng cường hiệu quả tối đa cho du lịch gắn với cá nhân hóa thông tin, tăng cường trải nghiệm du khác. Hay như IoT giúp tăng cường hiệu quả quản lý từ con người tới máy móc. CĐS là lời giải cho quản trị hiện đại trong tinh giản nhân lực, giảm chi phí trung gian,… sẽ giúp tỉnh Quảng Ninh tiếp tục là địa phương dẫn đầu về cải cách hành chính.
Như vậy, đối với đột phát về phát triển công nghệ chiến lược, đối với tỉnh Quảng Ninh cần lưu ý:
1- Nghiên cứu, tạo mới công nghệ chiến lược là rất quan trọng, có thể tạo ra “nhảy vọt” nhưng thực tế là không dễ gì phát minh những sản phẩm tầm cỡ này. Do đó, một mặt vẫn cần đầu tư nghiên cứu, mặt khác không quá nặng về yêu cầu phải phát minh ra sản phẩm ưu việt tầm quốc tế, có giá trị xuất khẩu cao.
2- Tập trung, nghiên cứu, ĐMST, “tùy biến” công nghệ chiến lược phù hợp với tỉnh Quảng Ninh. Trên nên tảng công nghệ chiến lược của quốc gia phát minh hoặc quốc gia đã làm chủ, phát triển các phiên bản mang tính tối ưu cho tỉnh Quảng Ninh; tránh cả xu hướng rập khuôn công nghệ từ Trung ương lẫn tạo ra những sản phẩm riêng có nhưng không đạt tầm, không đủ mạnh hoặc không tương thức với công nghệ quốc gia.
3- Chú trọng việc nghiên cứu, triển khai công nghệ chiến lược vào các lĩnh vực cụ thể, đặc biệt là các lĩnh vực thế mạnh của địa phương như công nghiệp, du lịch, logistic, phát triển nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn,…
Hai là, về đột phá thể chế, Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định: Thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước. Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật bảo đảm yêu cầu quản lý và khuyến khích ĐMST, loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm”.
Do đó, đột phá quan trọng hàng đầu, cần làm trước, thực hiện thường xuyên, làm nền tảng cho các đột phá phát triển khác ở tỉnh Quảng Ninh, đó là ĐMST thể chế. Thể chế trước hết là tạo khung khổ chính trị - pháp lý thống nhất trong toàn tỉnh, với bộ máy và hệ thống quy định, quy chế vừa đầy đủ, hiện đại, vừa có “quyền lực” thực hiện tương xứng - cần là nội dung ưu tiên hàng đầu thực hiện, được lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của những người đứng đầu các cấp ủy, chính quyền.
Xây dựng quy chế quản lý, chi tiêu ngân sách dành cho KHCN bảo đảm theo định hướng của Trung ương, có thể bố trí thêm ngân sách địa phương phù hợp, nhằm thúc đẩy nghiên cứu, ĐMST. Sớm ban hành, thực thi cơ chế thí điểm/sandbox cho KHCN nói chung, đặc biệt là công nghệ chiến lược; áp dụng mô hình đặt hàng - tiền thương mại (PCP), tài chính kết quả (outcome-based), các quỹ đồng đầu tư công - tư (co-fund 1:1), ban hành khung chia sẻ và định giá dữ liệu…; xây dựng hiệu quả mô hình liên kết viện nghiên cứu - trường giáo dục đào tạo - doanh nghiệp - cộng đồng tiêu dùng.
Tỉnh Quảng Ninh cần thực hiện hiệu quả cuộc cách mạng tinh - gọn - mạnh về tổ chức bộ máy; gắn với vận hành hiệu quả chính quyền địa phương hai cấp; sớm đổi mới, kiện toàn hệ thống các cơ quan, đầu mối, cơ sở liên quan phát triển KHCN với quan điểm: quản trị hiện đại bắt nguồn, dựa trên KHCN hiện đại nên tổ chức bộ máy liên quan KHCN phải là tiên phong, hình mẫu của quản trị hiện đại.
Ba là, về đột phá phát triển nguồn nhân lực KHCN là một bài toán khó nhưng không thể không giải quyết gấp của tỉnh Quảng Ninh. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quảng Ninh nhiệm kỳ 2025 – 2030 thẳng thắn thừa nhận: Nguồn nhân lực chất lượng cao thiếu cả về số lượng và chất lượng.
Là tỉnh có ưu thế về quản trị, môi trường đầu tư kinh doanh, nguồn lao động của tỉnh có mặt bằng trình độ tương đối tốt so với toàn quốc, tỷ lệ thất nghiệp thấp, nhưng còn có sự không cân đối về cơ cấu nhân lực; theo đó, nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là lao động trong nhóm các lĩnh vực KHCN, các nhóm ngành chủ chốt, có ý nghĩa quyết định đến tương lai phát triển của tỉnh trong kỷ nguyên mới lại còn thiếu và yếu.
Tỉnh Quảng Ninh xác định đột phá hàng đầu khi bước vào kỷ nguyên mới là: phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có tư duy ĐMST, đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xanh, kinh tế số gắn với tăng nhanh quy mô, nâng cao chất lượng dân số và chuyển dịch cơ cấu lao động. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ phẩm chất, năng lực, tư duy mới, uy tín ngang tầm nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Để thực hiện chủ trương đó, cần đổi mới thể chế giáo dục, nội dung và phương thức giáo dục; bảo đảm xây dựng hiệu quả sự liên kết giữa cơ sở giáo dục, đào tạo với cơ sở sử dụng nhân lực sau giáo dục, đào tạo với những yêu cầu ngày càng cao, tiệm cận các chuẩn quốc tế; định hướng xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực KHCN, CĐS.
Muốn đi đầu, tạo lợi thế so sánh, là xương sống, trụ cột phát triển thì cùng với đầu tư, phát triển hệ sinh thái KHCN, ĐMST, CĐS không thể không nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực - những người vận hành, phát triển hệ sinh thái đó. Với tiềm năng, lợi thế của mình, tỉnh cũng có thể xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi thu hút nhân tài ngoài địa phương, chuyên gia nước ngoài, Việt kiều tới làm việc.
Bốn là, về đột phá trong xây dựng hạ tầng kỹ thuật, Nghị quyết số 57-NQ/TW yêu cầu: Phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công nghệ số trên nguyên tắc “hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả, tránh lãng phí”; làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu.
Tỉnh Quảng Ninh cũng đã xác định: cần tập trung đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược theo định hướng của Trung ương. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đa phương thức, nhất là hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cảng biển.
Như phía trên đã phân tích, tỉnh Quảng Ninh cần có chiến lược phát triển hạ tầng kỹ thuật theo hướng hình thành hệ sinh thái về KHCN, ĐMST, CĐS của toàn tỉnh, hình thành mô hình quản trị phát triển thông minh kết nối tới tận cấp vi mô, hiện đại hóa kết nối nội bộ lẫn ra bên ngoài trên cơ sở phát triển hạ tầng IoT, AI, big data, cloud computing; dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính./.
([1]) Xem: Chuyên đề “Kỷ nguyên phát triển mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, ngày 25-11-2024.
([2]) Tỉnh Quảng Ninh là tỉnh ven biển Đông Bắc, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 125 km; có cả biên giới đất liền và biển với Trung Quốc (tỉnh Quảng Tây), bờ biển 250 km, đường biên giới đất liền 170 km; có diện tích khoảng 6.208km²; dân số khoảng 1,5 triệu; là đầu tàu vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trung tâm than - khoáng sản lớn (đóng góp phần lớn sản lượng than cả nước) và du lịch biển - dịch vụ; nhiều năm đứng nhóm đầu về PCI và đẩy mạnh chuyển đổi số…; năm 2024 GRDP đạt khoảng14,1 tỷ USD, thu nhập bình quân thuộc nhóm dẫn đầu cả nước. Tỉnh có truyền thống phát triển công nghiệp gắn với KHCN; là địa phương tiêu biểu cho nền sản xuất mới, hiện đại, là “Việt Nam thu nhỏ” không chỉ về địa lý, điều kiện tự nhiên mà còn tiêu biểu cho phát triển kinh tế - xã hội.
([3]) Quảng Ninh là địa phương phát triển và có văn hóa công nghiệp từ sớm (mỏ than Bắc Kỳ do Pháp lập ngày 4-4-1888). Sau năm 1945, vùng mỏ Quảng Ninh là vùng phát triển công nghiệp của nước Việt Nam hiện đại, gắn với sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam - giai cấp lãnh đạo cách mạng. Năm 1961, nhà máy Nhiệt điện Uông Bí được khởi công là một trong những nền tảng quan trọng của điện khí hóa vùng và cả nước. Từ 1-1-1995, sự phát triển ngành than bước vào thời kỳ mới với việc thành lập Tổng công ty Than Việt Nam; đến năm 2005 hợp nhất với Tổng công ty Khoáng sản thành TKV (Vinacomin) trở thành tập đoàn công nghiệp nhà nước trụ cột. Trong những năm gần đây, Quảng Ninh là địa phương đi đầu phát triển kinh tế - xã hội, cải cách hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số…
([4]) Xem: “Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 – 2030”, https://dangcongsan.org.vn/quangninh/tin-tuc-hoat-dong/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tinh-quan...
