Một số vấn đề trọng tâm trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Quảng Ninh hiện nay
Nghị quyết Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2025-2030 xác định một trong những khâu đột phá là đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, hạ tầng công nghệ để thúc đẩy phát triển kinh tế số, du lịch biển, kinh tế biển; đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh cơ cấu, xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chính. Đây là cơ sở, “kim chỉ nam” để Quảng Ninh tiếp tục phát triển bứt phá, khẳng định vai trò cực tăng trưởng chiến lược ở phía Bắc nước ta.

Mở đầu
Với vị thế là một trong những cực tăng trưởng chiến lược trong tam giác phát triển vùng đồng bằng Bắc Bộ, để hiện thực hóa mục tiêu trở thành tỉnh kiểu mẫu giàu đẹp, văn minh, hiện đại, là một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện; trung tâm du lịch quốc tế, trung tâm kinh tế biển, cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước, tỉnh Quảng Ninh luôn chú trọng đẩy mạnh đầu tư, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, phát triển mạnh hạ tầng số, hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng dữ liệu…, kết nối liên thông, đồng bộ và thống nhất, tạo nền tảng phát triển kinh tế số, chính quyền số, xã hội số.
Nhiệm kỳ 2025 - 2030, tỉnh Quảng Ninh hướng tới trở thành một trong những tỉnh tiên phong của cả nước lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh là động lực chính cho tăng trưởng; nâng cao toàn diện đời sống nhân dân… xây dựng tỉnh Quảng Ninh giàu mạnh, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Có thể nhận thấy một số vấn đề trọng tâm trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh như sau:
Tích cực triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”
Trong bối cảnh mới, trước những yêu cầu đặt ra của thực tiễn, Bộ Chính trị kịp thời ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” (gọi tắt là Nghị quyết số 57-NQ/TW), trong đó khẳng định quan điểm: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Nghị quyết đã tạo xung lực mới để phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với những đột phá trên các ngành, lĩnh vực, ở các địa phương trên cả nước, trong đó có tỉnh Quảng Ninh.
Nghị quyết số 57-NQ/TW là cơ sở tạo hành lang pháp lý để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc hiện nay, giúp cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh Quảng Ninh có bước đột phá và phát triển mạnh mẽ.
Để triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW trong thực tiễn,Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ban hành Chương trình hành động số 46-CTr/TU, ngày 15-1-2025, về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và Kế hoạch 534-KH/TU, ngày 7-5-2025 về chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan đảng tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025-2028; Kế hoạch 538-KH/TU, ngày 19-5-2025, thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 33 văn bản nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, bao gồm ba quyết định tháo gỡ, hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh.
Ngày 21-5-2025, tỉnh Quảng Ninh tổ chức Hội nghị toàn tỉnh về xây dựng và khai phá dữ liệu lớn (Big data), ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet kết nối vạn vật (IoT), phát triển hạ tầng số cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, thu hút hơn 5.500 lượt cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tham gia; đồng thời tăng cường truyền thông về nghị quyết trên các hạ tầng, bản tin thời sự của Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Ninh; phát hành 2.560 ấn phẩm, pano, tờ rơi; đăng tải 1.050 tin, bài trên các trang fanpage, đưa tinh thần nghị quyết tới từng cán bộ, công chức, viên chức và người dân.
Đến nay, 100% xã, phường, đặc khu của tỉnh đã ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW gắn với tình hình, điều kiện cụ thể, với nhiều điểm sáng như, đặc khu Vân Đồn, phường Bãi Cháy, Hoàng Quế, xã Tiên Yên, Ba Chẽ,… với những cách làm hay, hiệu quả.
Tỉnh đặt mục tiêu tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP đạt trên 18%; tỷ trọng kinh tế số trong GRDP đạt 30% và đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%.
Đến năm 2030, Quảng Ninh trở thành một trong những địa phương đi đầu cả nước về ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với nhiều lĩnh vực đạt trình độ khu vực, quốc tế; đến năm 2045, phát triển hạ tầng số hiện đại, hệ sinh thái khởi nghiệp năng động, năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực cốt lõi thúc đẩy tăng trưởng GRDP.
Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, tỉnh Quảng Ninh xác định thực hiện đồng bộ 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, trải rộng trên nhiều lĩnh vực từ thể chế, hạ tầng, nguồn lực đến nâng cao nhận thức và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; đồng thời, tiếp tục nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và quyết tâm chính trị; thông tin truyền thông sâu rộng nhằm tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, Quảng Ninh cũng giao trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức triển khai Nghị quyết số 57‑NQ/TW một cách đồng bộ, hiệu quả. Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan thường trực, tham mưu trực tiếp cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc xây dựng kế hoạch, hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ, giải pháp; đồng thời chủ trì phối hợp với các sở, ngành, địa phương thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới công nghệ và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trên địa bàn.
Tỉnh Quảng Ninh xác định thời gian tới cần tiếp tục đưa Nghị quyết số 57‑NQ/TW vào cuộc sống; đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách ưu đãi để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực khoa học, công nghệ; hỗ trợ phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số; đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi số trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội; chú trọng phát triển hạ tầng số đồng bộ, xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo cấp vùng…; qua đó góp phần đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong kỷ nguyên phát triển mới.
Phát triển doanh nghiệp khoa học, công nghệ và thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ gắn với phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ là chủ trương lớn của Đảng nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả sản xuất - kinh doanh, tạo động lực bền vững cho phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới hiện nay. Trên cơ sở xác định những cơ hội và thách thức đặt ra từ thực tiễn địa phương, tỉnh Quảng Ninh xác định cần đẩy mạnh hoạt động phát triển các doanh nghiệp khoa học công nghệ.
Hiện tỉnh có hơn 30 doanh nghiệp khoa học công nghệ hoạt động hiệu quả với nhiều công nghệ hữu ích. Nhiều doanh nghiệp khoa học, công nghệ trên địa bàn tỉnh tích cực đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và giá trị của các sản phẩm, nghiên cứu tạo ra sản phẩm mới có giá trị cao, triển khai nhiều ứng dụng giải pháp số để tăng khả năng tiếp cận khách hàng, mang lại các giá trị hữu ích ở các lĩnh vực: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến chế tạo, khai khoáng, thông tin và truyền thông…
Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh Quảng Ninh tiếp tục tập trung vào 19 nhiệm vụ bảo tồn các nguồn gen quý, hiếm, có giá trị, bao gồm 7 nguồn gen lâm nghiệp, 7 nguồn gen dược liệu, 2 nguồn gen thủy sản và 3 nguồn gen vật nuôi quan trọng cho nông nghiệp.
Một số doanh nghiệp khoa học công nghệ tiêu biểu của tỉnh đã ứng dụng thành công công nghệ vật liệu xây dựng sàn bóng, sàn hộp, cốp pha nhựa khung thép; nghiên cứu, triển khai và được cấp bằng sáng chế cho công nghệ nhà lắp ghép bằng cấu kiện bê tông đúc sẵn; phát triển thành công nhà bê tông đúc sẵn, có thể lắp ghép nhiều module để tạo thành một ngôi nhà hoàn chỉnh với thời gian thi công, chi phí tối ưu so với phương pháp xây dựng truyền thống và được ứng dụng vào đa dạng các công trình; ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong thiết kế bản vẽ, đầu tư trang bị các phương tiện, thiết bị chuyên dụng; góp phần nâng cao năng suất, chất lượng công trình, phát triển công nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số trong sản xuất.
Nhiều doanh nghiệp cũng tích cực ứng dụng khoa học, công nghệ, đầu tư máy móc tự động hóa và các nền tảng số trong vận hành và quản trị để trở thành doanh nghiệp khoa học công nghệ; qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế số, công nghiệp công nghệ cao và nền kinh tế tri thức trên địa bàn tỉnh.
Tỉnh Quảng Ninh cũng rất chú trọng thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ với sự tham gia thực hiện nghiêm túc của các địa phương, đơn vị, cá nhân; góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.
Giai đoạn 2020 - 2024, tỉnh Quảng Ninh đã triển khai 108 nhiệm vụ khoa học, công nghệ cấp tỉnh, tập trung vào các lĩnh vực quan trọng, như quản lý môi trường, bảo tồn văn hóa, và phát triển bền vững. Những sáng kiến này đã đóng góp tích cực vào tăng năng suất lao động, cải thiện quản lý nhà nước và giải quyết các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu.
Hơn 90% các kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng thực tế, tiết kiệm ngân sách đáng kể và nâng cao hiệu quả kinh tế. Trong nông nghiệp, khoa học, công nghệ đã giúp chuyển đổi phương thức sản xuất từ nhỏ lẻ sang tập trung, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Các sản phẩm OCOP không chỉ đạt tỷ lệ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cao (63,2%) mà còn gia tăng giá trị xuất khẩu.
Việc xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao đã tạo nền móng cho sự phát triển hiện đại và bền vững của ngành nông nghiệp địa phương. Giai đoạn 2012 - 2024, tỉnh đã chi hơn 2.500 tỷ đồng cho các hoạt động khoa học công nghệ, chiếm bình quân 2,73% tổng chi thường xuyên ngân sách tỉnh; năm 2024, đầu tư 126,7 tỷ đồng cho đổi mới sáng tạo, tạo đà cho các dự án phát triển dài hạn.
Tỉnh đã thành lập Trung tâm Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và Hỗ trợ chuyển đổi số (5-2024), không chỉ hỗ trợ các sáng kiến, ý tưởng khởi nghiệp mà còn đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế, thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển mạnh mẽ.
Tỉnh cũng đặt mục tiêu làm chủ các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big data); ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp chế biến, sản xuất, du lịch, nông nghiệp, quản lý nhà nước, tạo động lực tăng trưởng kinh tế bền vững.
Nhờ đó, từ năm 2020, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Quảng Ninh luôn đạt trên 45%. Theo kết quả xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2024, tỉnh Quảng Ninh xếp hạng thứ 6 với 47,82 điểm (đứng trong tốp 10 địa phương có điểm số cao nhất về chỉ số PII).
Tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh duy trì trên 50%. Như vậy, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nhân tố vô cùng quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh Quảng Ninh.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trên các lĩnh vực được tỉnh Quảng Ninh xác định là một trong 3 đột phá chiến lược, là yếu tố quan trọng, nền tảng vững chắc, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Chính vì vậy, đây cũng là một trong những vấn đề trọng tâm trong quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh trong giai đoạn mới. Thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh đã có những cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động theo định hướng, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Ngày 9-6-2014, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU về đẩy mạnh cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Ngày 27-8-2021, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh ban hành Nghị quyết 35/2021/NQ-HĐND về việc quy định chính sách thu hút, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Trường Đại học Hạ Long, Trường Cao đẳng Việt - Hàn Quảng Ninh, Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh (đến nay đã hỗ trợ cho 9.883 lượt học sinh, sinh viên với gần 41,033 tỷ đồng).
Tỉnh Quảng Ninh đã phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng Đề án Phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó có những giải pháp về cơ chế, chính sách, nâng cao năng lực cơ sở đào tạo, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nhân lực...; dự kiến đào tạo trong nước đối với 62.900 cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC); đào tạo bồi dưỡng tại tỉnh là 750 CBCCVC theo hình thức mời chuyên gia, giảng viên nước ngoài về giảng dạy. Giai đoạn 2021 - 2025, toàn tỉnh tổ chức đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC trong và ngoài nước cho khoảng 39.000 lượt người.
Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ninh cũng đặc biệt chú trọng phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục - nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng học tập và đào tạo trên địa bàn. Trong đó, tỉnh đặt mục tiêu đào tạo nhân lực cho các ngành kinh tế trọng điểm với dự kiến 5.000 lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, 10.000 lao động trong ngành công nghiệp - thương mại và 5.000 lao động trong ngành xây dựng. Hết năm 2024, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm khoảng 16,7%; khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 34,4%; khu vực dịch vụ chiếm 48,9%. Chất lượng nguồn nhân lực cũng được nâng lên rõ rệt, với tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 87%.
Nhờ đó, hệ thống giáo dục của tỉnh đã không ngừng được củng cố và mở rộng, đa dạng về loại hình, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Các cơ sở giáo dục được sắp xếp tinh gọn, sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư.
Đặc biệt, tỉnh đã tập trung nâng cấp, đưa vào sử dụng các trường học đạt chuẩn quốc gia; đồng thời quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống và thể chất cho học sinh, sinh viên. Kết quả, tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia đã đạt 91,91%, không chỉ vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra mà còn hoàn thành trước kế hoạch 2 năm, cao hơn mức trung bình chung của cả nước. Giai đoạn 2019 - 2024, toàn tỉnh đã phê duyệt 666 lớp đào tạo, bồi dưỡng trong nước với 43.867 lượt học viên tham gia, tổng kinh phí bố trí khoảng 133 tỷ đồng.
Tổng số lượt CBCCVC được cử đi đào tạo, bồi dưỡng trong giai đoạn này đạt 158.674 lượt. Bước sang năm 2025, UBND tỉnh tiếp tục ban hành Quyết định số 362/QĐ-UBND, ngày 12-2-2025, phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC với 62 lớp và 3.757 học viên.
Đặc biệt, tỉnh Quảng Ninh tăng cường phối hợp giữa Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp nhằm kết nối, chia sẻ thông tin và triển khai các chương trình đào tạo sát thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng, quy mô và cơ cấu, nghề của lực lượng lao động, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và bảo đảm cân bằng cung - cầu trên thị trường lao động. Nhờ đó, nguồn nhân lực của tỉnh từng bước nâng cao về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển.
Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị liên tục giảm, từ 2,23% năm 2021 xuống còn 2,16% năm 2024, thuộc nhóm thấp so với cả nước. Cơ cấu lao động tiếp tục dịch chuyển nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với đó, sự đầu tư vào giáo dục và đào tạo nhân lực chất lượng cao cũng được ưu tiên.
Hiện tại, tỉnh có khoảng 8.000 trí thức khoa học, công nghệ, đạt tỷ lệ 13 cán bộ nghiên cứu khoa học/vạn dân. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo chuyên sâu và hợp tác quốc tế là yếu tố then chốt giúp tỉnh Quảng Ninh duy trì vị trí dẫn đầu trong đổi mới sáng tạo.
Để xây dựng đội ngũ CBCCVC chuyên nghiệp, hiện đại, đủ năng lực làm chủ và vận hành hiệu quả công nghệ mới, tỉnh Quảng Ninh xác định cần đẩy mạnh bồi dưỡng về chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và kỹ năng làm việc trong môi trường số; chú trọng phát triển các khóa học trực tuyến (E-learning), mở rộng quy mô đào tạo, giảm chi phí, nâng cao tính linh hoạt, giúp CBCCVC có thể chủ động học tập mọi lúc, mọi nơi.
Tại Kỳ họp thứ 29 vừa qua, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2021-2026 đã thông qua Nghị quyết quy định về Chính sách thu hút hỗ trợ nhân lực về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong các cơ quan của hệ thống chính trị thuộc tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025 - 2030, nhằm tạo cơ chế khuyến khích, thu hút đội ngũ nhân lực chất lượng cao, chuyên sâu về công nghệ và chuyển đổi số vào làm việc trong khu vực công, từ đó tăng cường năng lực tham mưu, tổ chức triển khai thực hiện các chương trình đổi mới sáng tạo và số hóa trong toàn hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực khoa học, công nghệ của tỉnh vẫn còn hạn chế. Nhân lực khoa học và công nghệ tuy có gia tăng về số lượng và cải thiện về chất lượng nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong bối cảnh mới.
Thực tiễn vẫn còn thiếu cán bộ đầu ngành, chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực công nghệ trình độ cao. Nhân lực khoa học và công nghệ phân bố không đồng đều, cơ cấu, trình độ chưa hợp lý theo vùng, miền và lĩnh vực hoạt động; phần lớn tập trung ở khu vực Nhà nước, thành thị, ở các khu vực tư nhân, doanh nghiệp và nông thôn còn thấp...
Một số ngành, địa phương chưa quan tâm, tranh thủ nguồn nhân lực khoa học từ Trung ương. Một số công trình nghiên cứu vẫn còn hạn chế về chất lượng, hàm lượng khoa học thấp, tính ứng dụng chưa nhiều và gây lãng phí…
Bởi vậy, tỉnh Quảng Ninh cần thống nhất nhận thức trong cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền về vị trí, vai trò quyết định của nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đối với sự phát triển bền vững ở địa phương. Cần có cơ chế tạo nguồn và có chính sách đãi ngộ để thu hút được nguồn nhân lực sau tốt nghiệp phục vụ cho địa phương.
Đặc biệt, cần có cơ chế chính sách về nhà ở để thu hút lao động khi làm việc tại Quảng Ninh, bao gồm cả nhà ở công nhân, nhà ở xã hội, nhà ở cho người có thu nhập thấp và nhà ở cho nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên gia gắn với các thiết chế văn hóa để đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động làm việc, sinh sống lâu dài tại Quảng Ninh.
Rà soát, bổ sung, hoàn thiện công tác quy hoạch, chiến lược phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ. Phân bổ và sử dụng hợp lý ngân sách tỉnh dành cho phát triển nguồn nhân lực. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính và cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh xã hội hóa để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ.
Phát triển đội ngũ giảng viên, các nhà khoa học đủ năng lực, trình độ đáp ứng việc giảng dạy; đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, hiện đại hóa phương thức đào tạo và ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là trí tuệ nhân tạo.
Triển khai các chương trình, giải pháp kết nối hoạt động nghiên cứu và phát triển trong các trường đại học, viện nghiên cứu trên địa bàn gắn với nhu cầu đổi mới, ứng dụng và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp...
Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ninh cần tăng cường liên kết, hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tăng cường kết nối, liên kết giữa người dân, cơ quan quản lý, doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, trường đại học trên địa bàn, các chuyên gia trong và ngoài nước, các trung tâm/chương trình hỗ trợ đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực để tham vấn, giải quyết các vấn đề quan trọng đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Tăng cường liên kết, hợp tác trong Vùng đồng bằng sông Hồng, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Trung ương, đặc biệt là Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai các hoạt động phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đa dạng hóa đối tác và hình thức hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, lựa chọn đối tác chiến lược, gắn kết giữa hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ với hợp tác quốc tế về kinh tế.
Ban hành chính sách thu hút chuyên gia là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài có trình độ cao đến tỉnh Quảng Ninh tham gia nghiên cứu, giảng dạy, tư vấn, đảm đương các chức vụ quản lý nghiên cứu khoa học, công nghệ.
Đẩy mạnh chuyển đổi số
Chuyển đổi số được xác định là một động lực quan trọng góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực quản trị, cải thiện chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp tại Quảng Ninh. Thời gian qua, Quảng Ninh đang khẳng định vai trò tiên phong trong thực hiện mục tiêu xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số, hình thành xã hội số văn minh, hiện đại, phục vụ người dân ngày càng tốt hơn.
Tỉnh Quảng Ninh chú trọng đầu tư xây dựng hạ tầng số đồng bộ, hiện đại, làm nền tảng cho phát triển. Đến nay, toàn tỉnh có hơn 5.200 trạm BTS; 3 trung tâm tích hợp dữ liệu lớn; mạng truyền dẫn cáp quang phủ khắp từ đô thị đến vùng cao, biên giới, hải đảo. Hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến kết nối 239 điểm cầu, bảo đảm điều hành thông suốt từ tỉnh đến xã, rút ngắn khoảng cách về không gian, thời gian trong chỉ đạo, quản lý.
Tỉnh đã công bố 65 cơ sở dữ liệu mở và 70 cơ sở dữ liệu dùng chung, phục vụ hiệu quả cho các lĩnh vực dân cư, y tế, giáo dục, du lịch, đất đai, quy hoạch… Đây là nền tảng quan trọng để triển khai các ứng dụng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, internet vạn vật trong quản trị, điều hành, góp phần hình thành chính quyền số minh bạch, linh hoạt.
Tỉnh Quảng Ninh cũng chú trọng phát triển nguồn nhân lực số. Trong 3 năm gần đây, hơn 113.000 lượt CBCCVC đã được đào tạo, tập huấn kiến thức, kỹ năng số. Trường Đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ đã đưa nội dung chuyển đổi số vào chương trình chính khóa, góp phần hình thành đội ngũ cán bộ có tư duy đổi mới, thích ứng với mô hình quản trị hiện đại.
Nhờ những chủ trương, quyết sách và nỗ lực hành động đẩy mạnh chuyển đổi số, đến nay, 100% sở, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã vận hành hệ thống quản lý văn bản điện tử và chữ ký số chuyên dùng. Việc trao đổi, ký kết, phát hành văn bản điện tử trở thành thông lệ trong hoạt động hành chính, góp phần rút ngắn thời gian xử lý công việc, nâng cao hiệu quả điều hành.
Tỉnh cũng đã hoàn thiện kết nối 32 cơ sở dữ liệu chuyên ngành với hệ thống dữ liệu quốc gia, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành; người dân chỉ cần sử dụng một tài khoản định danh điện tử (VNeID) có thể tra cứu, thực hiện các dịch vụ công trực tuyến ở nhiều lĩnh vực, giảm chi phí, thời gian, giấy tờ. Hầu hết các thủ tục được cung cấp dưới dạng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4.
Nhiều thủ tục quan trọng, như đăng ký kinh doanh, cấp phép xây dựng, đăng ký đất đai, khai thuế,… đã có thể thực hiện trực tuyến hoàn toàn, giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ 30-50%, tiết kiệm chi phí và công sức cho người dân, doanh nghiệp. Tỷ lệ giải quyết đúng hạn và trước hạn đạt trên 99,8%. Mức độ hài lòng của người dân đạt trên 99,9%.
Việc tổ chức họp, điều hành qua hệ thống trực tuyến đã trở nên thường xuyên, với hơn 2.000 cuộc họp trực tuyến từ Trung ương đến cấp xã được tổ chức mỗi năm, giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành.
Thực tế cho thấy đã có nhiều mô hình sáng tạo đã được triển khai như phần mềm “Sổ tay đảng viên điện tử”, ứng dụng trợ lý ảo trong giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công, hay hệ thống phản ánh hiện trường trên Zalo OA của Công an tỉnh… đã góp phần đổi mới quản trị công, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Trong 9 tháng đầu năm 2025, Quảng Ninh hoàn thành 30/75 nhiệm vụ trọng tâm của năm, xếp thứ 3 toàn quốc về chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) 2025, đồng thời dẫn đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 9 tháng đầu năm. Quảng Ninh cũng duy trì vị thế dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số và thực hiện Đề án 06, với 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện toàn trình và 96,2% dịch vụ công trực tuyến.
Tỉnh hoàn thành vượt mức mục tiêu cấp tài khoản định danh điện tử cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, đạt 95%. Hạ tầng số được tăng cường với việc đưa vào vận hành Hệ thống giải quyết thủ tục hành chính và hoàn thành kết nối 15 Cơ sở dữ liệu quốc gia. 100% cơ sở giáo dục triển khai học bạ số và 22 cơ sở y tế áp dụng bệnh án điện tử.
Hơn 10.000 lượt cán bộ cũng được đào tạo về ứng dụng AI. Cả 54/54 xã, phường và đặc khu của tỉnh đã hoàn thành toàn bộ 16/16 chỉ tiêu giai đoạn 1 của Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
100% doanh nghiệp trên địa bàn đã đăng ký và sử dụng hóa đơn điện tử; 100% hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai thực hiện giao dịch trực tuyến; hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, thủy sản điện tử được triển khai đồng bộ, giúp nâng cao sự minh bạch và uy tín sản phẩm.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số được lan tỏa đến từng cộng đồng dân cư ở tỉnh Quảng Ninh với hơn 3,5 triệu tài khoản ngân hàng cá nhân và 816.000 tài khoản Mobile Money đã được mở; thói quen thanh toán không dùng tiền mặt trong mua sắm, học phí, viện phí, điện nước hay dịch vụ hành chính công được hình thành. Tỉnh đã triển khai mô hình “Chợ 4.0” tại 120/135 chợ truyền thống, với hơn 86% hộ kinh doanh chấp nhận thanh toán điện tử.
Thời gian tới, tỉnh Quảng Ninh đặt mục tiêu xây dựng hạ tầng dữ liệu mở, nền tảng chia sẻ dữ liệu dùng chung toàn tỉnh, hình thành trung tâm dữ liệu hiện đại phục vụ quản trị và phân tích dự báo phát triển kinh tế - xã hội.
Tỉnh cũng tập trung thúc đẩy kinh tế số trong các lĩnh vực có lợi thế, như công nghiệp chế biến, logistics, du lịch, nông nghiệp thông minh; hoàn thiện hồ sơ Khu công nghệ thông tin tập trung “Hạ Long ICT Park” trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo của vùng Đông Bắc.
Tỉnh tiếp tục nâng cao năng lực số của người dân và doanh nghiệp, mở rộng các chương trình đào tạo kỹ năng số, phát huy vai trò của Tổ công nghệ số cộng đồng trong lan tỏa tri thức công nghệ đến từng thôn, bản, khu phố; ứng dụng mạnh mẽ AI, dữ liệu lớn, trợ lý ảo trong quản trị, giáo dục, y tế, du lịch và an sinh xã hội; tăng cường an toàn thông tin mạng, xây dựng hệ thống giám sát, cảnh báo sớm, tổ chức diễn tập định kỳ nhằm bảo vệ không gian mạng của tỉnh an toàn, tin cậy.
Tất cả đều nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa tỉnh Quảng Ninh trở thành một trong những địa phương đi đầu về chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, xây dựng tỉnh Quảng Ninh giàu mạnh, văn minh, hiện đại, hạnh phúc trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước./.
