Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thư tư
Chiến lược phát triển của Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 coi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những trọng tâm chính. Chỉ có nâng cao chất lượng lao động mới bảo đảm sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả của doanh nghiệp và nâng cao chất lượng sống của người lao động. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, coi trọng xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế là công việc hết sức quan trọng.

Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới nguồn nhân lực
Sự ra đời của các nhà máy thông minh, vật liệu mới, công nghệ in 3D, Internet kết nối vạn vật,... đã làm thay đổi cách thức con người làm việc và liên hệ với nhau. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội, tạo ra những thay đổi về việc làm, cả về cơ cấu lẫn bản chất công việc với sự xuất hiện ngày càng đông đảo các tầng lớp sáng tạo trong các lĩnh vực khoa học, thiết kế, văn hóa, nghệ thuật, giải trí, truyền thông, giáo dục, y tế...
Thứ nhất, tình trạng sụt giảm lao động.
Khi những đột phá về tự động hóa ra đời, sự xuất hiện của rôbốt tự động sẽ đẩy người lao động trong nhiều lĩnh vực tới chỗ thất nghiệp hoặc phải di chuyển sang lĩnh vực lao động, việc làm mới. Các nhà khoa học dự đoán rằng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ thay thế nhiều loại hình công việc, đặc biệt là những công việc có đặc thù máy móc, lặp đi lặp lại, đòi hỏi lao động chân tay chính xác. Khi trình độ khoa học, công nghệ ngày càng phát triển, ngay cả một số ngành, nghề đòi hỏi trình độ chuyên môn của người lao động tương đối cao nhưng lại có tính chất lặp lại như luật sư, phân tích tài chính, bác sĩ, phóng viên, kế toán, bảo hiểm hay thủ thư sẽ được tự động hóa một phần hoặc toàn bộ. Lao động Việt Nam đang tập trung trong các ngành nghề có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, có tính chất lặp đi lặp lại. Đây là những ngành nghề có nguy cơ bị thay thế lao động rất cao dưới sự tác động của cách mạng khoa học và công nghệ, như lực lượng lao động đang làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản và trong lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống. Nhiều lao động sẽ phải chuyển đổi công việc do xu hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
Thứ hai, thị trường lao động bị phân mảng.
Các lĩnh vực lao động, việc làm trong các ngành đơn giản, có tính chất lặp lại sẽ suy giảm, nhưng những công việc đòi hỏi kỹ năng, kỹ xảo, khả năng sáng tạo và kỹ năng ra quyết định sẽ ngày càng nhiều hơn và chiếm ưu thế. Những người có nhiều kỹ năng xã hội, khả năng sáng tạo, kỹ năng ra quyết định trong bối cảnh có nhiều biến động sẽ có cơ hội tốt hơn trong việc chiếm lĩnh vị trí việc làm có thu nhập cao.
Thứ ba, thay đổi về quy mô lực lượng lao động.
Việc áp dụng tự động hóa có thể tăng năng suất lao động và giảm chi phí; đi cùng đó là ảnh hưởng đến quy mô lực lượng lao động dẫn đến sa thải lao động, làm cho lao động dịch chuyển từ ngành này sang ngành khác. Một số loại việc làm mất đi, một số việc làm mới phát sinh, hiện tượng chuyển đổi công việc giữa các ngành, các nghề và giữa các trình độ chuyên môn môn kỹ thuật xuất hiện. Sự phát triển quan hệ lao động theo các hình thức mới giữa con người và máy móc dẫn đến hình thức quan hệ lao động mới và thay đổi bản chất và vai trò của các cấu phần trong quan hệ lao động như hợp đồng lao động, thương lượng tập thể...
Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh
Giai đoạn 2016 – 2022, tỉnh Quảng Ninh nằm trong nhóm các địa phương duy trì tốc độ tăng trưởng cao 7 năm liền với có tốc độ tăng trưởng đạt 2 con số[1]. Nguồn nhân lực của tỉnh duy trì được tốc độ phát triển hợp lý về số lượng, chú trọng về chất lượng và tạo việc làm. Quy mô nguồn nhân lực của tỉnh hiện có hơn 780.000 người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 85%, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt gần 50%.
Giai đoạn 2019 – 2021, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức, viên chức của tỉnh ngày càng được nâng cao. Năm 2021, tỉnh có 127 cán bộ có trình độ tiến sĩ và tương đương; số 2.774 cán bộ có trình độ thạc sĩ và tương đương[2]. Song song với thu hút nhân tài, tỉnh quan tâm dành nguồn lực thỏa đáng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ gắn với vị trí, việc làm, cơ cấu ngạch, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, tiêu chuẩn chức danh cán bộ, lãnh đạo quản lý với hình thức đa dạng, như đào tạo, bồi dưỡng trong nước, nước ngoài, tập trung, trực tuyến... Từ năm 2019 đến năm 2022, có khoảng 96.000 lượt cán bộ của tỉnh được cử tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng các lớp đào tạo cao cấp, trung cấp lý luận chính trị, đại học, sau đại học, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, bồi dưỡng theo vị trí việc làm, chức vụ lãnh đạo, quản lý...
Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng và thực hiện nhiều quyết sách, cơ chế quan trọng để tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, như Nghị quyết số 15-NQ/TU, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, “Về đẩy mạnh cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; Quyết định số 2704/QĐ-UBND, ngày 17-11-2014, của UBND tỉnh, “Về phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; Quyết định số 293/QĐ-UBND, ngày 30-1-2015, của UBND tỉnh, “Về phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện nguồn nhân lực tỉnh đến năm 2020”; Nghị quyết số 35/2021/NQ-HĐND, ngày 27-8-2021, của HĐND tỉnh, “Về việc quy định chính sách thu hút, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Trường Đại học Hạ Long, Trường Cao đẳng Việt – Hàn Quảng Ninh, Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”...
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, công tác phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh vẫn chưa phát huy hết tiềm năng để đáp ứng yêu cầu xu thế hội nhập và phát triển. Trong đó, vấn đề thiếu chuyên gia đủ khả năng hoạch định chính sách lớn và giải quyết những vấn đề cấp thiết đặt ra trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay.
Một số giải pháp thu hút nhân lực chất lượng cao cho tỉnh Quảng Ninh
Một là, nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục đào tạo để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng lao động. Để cải thiện chất lượng lao động của tỉnh, ngành giáo dục – đào tạo cần phải có những đổi mới sâu rộng trên nhiều cấp học bởi giáo dục và đào tạo là gốc rễ của sức mạnh và sự phát triển, thịnh vượng của quốc gia. Giáo dục đóng vai trò quan trọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia đang phát triển thành công trong hơn 35 năm kể từ sau Đổi mới. Nhu cầu lao động có tay nghề, chất lượng cao trong bối cảnh Cácch mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi hệ thống giáo dục đại học phải đổi mới kịp thời. Vì vậy, cải thiện, nâng cấp hệ thống giáo dục và đào tạo lao động có tay nghề cao nên được ưu tiên hàng đầu. Giảng dạy, đào tạo sẽ làm cho người lao động trở nên năng động và sáng tạo. Cần thành lập các trung tâm đào tạo nghề kỹ thuật cao để đáp ứng nhu cầu lao động của các ngành kỹ thuật trong tương lai.
Bên cạnh đó, cần đổi mới chương trình đào tạo. Đổi mới phương thức đào tạo và quản trị đại học, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số vào hoạt động giảng dạy và nâng cao năng lực và chất lượng của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý. Cải cách thể chế giáo dục, đào tạo tập trung tháo gỡ 4 nút thắt: 1- giáo dục hướng nghiệp; 2- mối quan hệ giữa các cơ sở giáo dục – đào tạo và doanh nghiệp trong giáo dục – đào tạo; 3- trao quyền tự chủ thực sự cho các cơ sở giáo dục – đào tạo; 4- chuẩn hóa chất lượng đào tạo theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Cần có định hướng phổ biến tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai của quốc gia, đưa song ngữ vào trong chương trình đào tạo.
Đổi mới hệ thống giáo dục đào tạo năng động và linh hoạt là yêu cầu quan trọng để khắc phục khoảng cách về kỹ năng cũng như thích ứng nhanh chóng với nhu cầu kỹ năng lao động cao hơn. Chú ý đầu tư vào hệ thống đào tạo giáo dục, trong đó, tập trung đầu tiên là đào tạo lao động mới có chuyên môn kỹ thuật. Tiếp theo là đào tạo lại và đào tạo nâng cao cho những người lao động đã và đang làm việc. Việc đào tạo lại và đào tạo nâng cao sẽ được thực hiện dưới ba hình thức: trong các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp; ngay tại các trường lớp và trong các doanh nghiệp kinh doanh. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà giáo, nhà khoa học có tài năng và kinh nghiệm của nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực đại học và nghiên cứu khoa học, công nghệ tại các cơ sở giáo dục đại học tại tỉnh.
Lao động trở thành yếu tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Nhờ có nền tảng giáo dục – đào tạo, trong đó có đào tạo nghề, người lao động có thể nâng cao được kiến thức và kĩ năng nghề của mình, qua đó nâng cao năng suất lao động, góp phần phát triển kinh tế. Giáo dục đào tạo nghề là thành tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường lao động (cùng với các cơ chế chính sách sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực) cần tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng.
Hai là, đẩy mạnh hợp tác chặt chẽ giữa các công ty, doanh nghiệp với các trường đại học và dạy nghề để không lãng phí nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tập trung sang các ngành công nghệ và kỹ thuật cao, tỉnh Quảng Ninh sẽ đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nguồn lao động có chất lượng. Nhiều trường đại học ở Việt Nam đối diện với tình trạng đào tạo tràn lan, số lượng sinh viên tốt nghiệp nhiều nhưng không đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp. Vì vậy, cần tăng cường kết nối giữa các trường đại học và cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp.
Vai trò của doanh nghiệp trong đào tạo nguồn lao động cần đặc biệt được đề cao. Doanh nghiệp là nơi sử dụng phần lớn lực lượng lao động xã hội. Vì vậy, doanh nghiệp có trách nhiệm cung cấp dự báo nhu cầu sử dụng lao động bao gồm: số lượng, cơ cấu lao động cho các cơ quan hoạch định chính sách phát triển nhân lực. Đồng thời, doanh nghiệp tham gia vào việc xây dựng nội dung chương trình đào tạo. Doanh nghiệp phải là nơi để sinh viên thực hành, thực tập để thực hiện nguyên lý “học đi đôi với hành”. Doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong công tác giáo dục định hướng nghề nghiệp cho sinh viên.
Thúc đẩy sự kết hợp giữa Nhà trường, doanh nghiệp và hợp tác với quốc tế trong đào tạo nhân lực, đặc biệt trong bối cảnh phục vụ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Điều này vẫn còn thiếu và yếu tại Việt Nam, vì vậy các trường đại học của tỉnh cần nghiên cứu kinh nghiệm đào tạo của các trường đại học ở nước ngoài trong việc xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo gắn chặt với doanh nghiệp. Nhờ những trung tâm đó, sinh viên được học tập ở môi trường gắn với thực tế làm việc của doanh nghiệp. Qua đó, doanh nghiệp liên kết với các trường để tìm nguồn lao động tương lai. Nghĩa là, xây dựng môi trường dạy và học gắn rất chặt với môi trường kinh doanh, với thực tiễn và yêu cầu của xã hội. Việc đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp, thị trường sẽ bảo đảm có việc làm sau khi tốt nghiệp. Điều này vừa bảo đảm có nguồn lao động chất lượng, vừa thu hút được sinh viên vào các cơ sở đào tạo. Các trường dạy nghề nên liên kết với doanh nghiệp trong việc đào tạo để tạo cơ hội cho sinh viên làm việc với máy móc tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ có các trường dạy nghề tư thục nhận thức được tầm quan trọng của việc hợp tác với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp và công ty cần hợp tác với các trường học và cao đẳng để đào tạo ra nhiều lao động lành nghề, có chất lượng cao hơn. Các trường có thể tập trung đào tạo theo yêu cầu thực tế của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không chỉ nên dự báo nhu cầu lao động và đặt hàng với các cơ sở giáo dục mà còn phải tham gia xây dựng chương trình giảng dạy giáo dục.
Để có nguồn nhân lực chất lượng cao, các doanh nghiệp cần có chương trình đào tạo định kỳ và nâng cao chất lượng đào tạo bằng cách tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, trường đại học và hiệp hội. Các doanh nghiệp cần lập quỹ phát triển nguồn nhân lực cũng như hợp tác với các công ty khác trong việc đào tạo và tuyển dụng vì hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam nói chung còn yếu kém về tài chính.
Để nâng cao chất lượng lao động, các trường đại học và doanh nghiệp cần tiếp tục liên kết, phối hợp xây dựng chương trình giảng dạy, thực hiện các công trình nghiên cứu, triển khai các chương trình thực tập và giới thiệu việc làm cho sinh viên. Điều này không chỉ giúp đổi mới nội dung giảng dạy và tạo ra nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu và phát triển mà còn giúp nâng cao chất lượng nhân lực theo hướng phù hợp với bối cảnh thực tế hơn.
Ba là, tạo môi trường, vị trí thuận lợi cho nhân lực chất lượng cao. Là nền kinh tế mới nổi, Việt Nam cũng đang được hưởng lợi từ dòng lao động có kỹ năng, chất lượng cao từ khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, người lao động nhập cư phải gặp phải với một số thách thức như các biện pháp bảo vệ cho người lao động nhập cư, chi phí tuyển dụng cao tại các trung tâm tuyển dụng, thủ tục di cư tốn kém và kéo dài, hạn ngạch di cư và chính sách việc làm trong nước khiến người lao động không dễ dàng thay đổi công việc.
Chú trọng hơn nữa đến cải thiện chất lượng môi trường làm việc và khuyến khích người lao động phát huy trách nhiệm hơn trong công việc. Có chính sách phụ cấp và đãi ngộ đặc biệt (nhà ở, đào tạo..) cho lao động có trình độ cao, tạo điều kiện cho các tài năng nâng cao thu nhập bằng trí tuệ và năng lực của mình. Có chính sách thu hút các nhà khoa học trình độ cao tham gia công tác giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ tại các cơ sở đào tạo, tổ chức khoa học – công nghệ. Tạo môi trường thuận lợi để nuôi dưỡng và đánh giá cao lao động có chất lượng. Đổi mới cơ bản chính sách thu hút và đãi ngộ lao động có tay nghề, chất lượng cao. Xây dựng chính sách đặc thù để thu hút nhân lực chất lượng cao, sinh viên người Việt xuất sắc ở nước ngoài về nước phục vụ. Bên cạnh việc thu hút các chuyên gia nước ngoài và lao động trình độ cao đến làm việc tại tỉnh, cần xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực then chốt gắn với chiến lược công nghiệp hóa đất nước. Chính đội ngũ chuyên gia đầu ngành là thành tố quan trọng trong thành phần nguồn nhân lực chất lượng cao, là cơ sở thúc đẩy và bảo đảm nâng cao chất lượng đào tạo, là lực hút nguồn nhân lực chất lượng cao đến làm việc.
Bốn là, cần thực sự coi phát triển khoa học – công nghệ là chính sách hàng đầu. Phát triển đào tạo nhân lực chất lượng cao, gắn với phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem là một trong những trọng tâm của Việt Nam. Khoa học và công nghệ được xem là quốc sách, là lực lượng sản xuất trực tiếp. Tuy nhiên, nhiều chính sách nhìn chung chưa thực sự coi khoa học và công nghệ là động lực, là chìa khóa quan trọng hàng đầu để Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình nhằm phát triển nhanh và bền vững. Nhân lực chất lượng cao giúp khoa học – công nghệ phát triển ở hai khía cạnh: 1- nhân lực chất lượng cao trực tiếp tham gia hoạt động trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ giúp quốc gia tạo ra các thành tựu khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ ở trong phạm vi quốc gia mà còn ở phạm vi toàn cầu. Những thành tựu KHCN thường được thể hiện thông qua các phát minh, sáng chế được các doanh nghiệp ứng dụng trong thực tế; qua các giải thưởng được các tổ chức khoa học toàn cầu ghi nhận, như giải Nobel, bản quyền phát minh sáng chế, các công trình xuất bản quốc tế. Kết quả phản ảnh rõ trình độ nguồn lao động gắn với trình độ khoa học – công nghệ của quốc gia trên thế giới; 2- khả năng ứng dụng và tiếp thu khoa học – kỹ thuật của người lao động. Chất lượng nguồn lao động giữ vai trò quan trọng trong việc tham gia sử dụng, ứng dụng khoa học – công nghệ vào các lĩnh vực của đời sống xã hội để mang lại sự tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề. Nếu chất lượng lao động không đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp, nhà đầu tư thì sẽ dẫn tới môi trường đầu tư giảm sút (khó thu hút các nhà đầu tư sử dụng công nghệ trình độ cao). Thậm chí, các vị trí cần nhân lực chất lượng cao sẽ do người nước ngoài nắm giữ. Khi đó, việc học hỏi và đón nhận hiệu ứng tích cực từ hội nhập và nhà đầu tư FDI sẽ càng thấp. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, nguồn nhân lực chất lượng cao là “chìa khóa” hữu hiệu để tỉnh Quảng Ninh có thể nâng cao sức cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, cần phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm dựa trên công nghệ ưu tiên và ứng dụng công nghệ cao. Khuyến khích khu vực tư nhân tham gia hoạt động khoa học công nghệ bằng cách phân bổ nguồn vốn thuận lợi, minh bạch cho các doanh nghiệp và cá nhân. Khi cơ chế thuế, tài chính đủ mạnh thì doanh nghiệp mới thực sự là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và có thể tập trung đầu tư cho khoa học công nghệ và đào tạo nguồn lao động. Tăng tỷ trọng chi cho nâng cao năng lực khoa học công nghệ quốc gia, đặc biệt ưu tiên cho công nghệ thông tin và truyền thông. Sản phẩm khoa học công nghệ của doanh nghiệp tỉnh cần được hỗ trợ thâm nhập thị trường trong nước và quốc tế. Việt Nam đã có nhiều chương trình phát triển sản phẩm quốc gia, đổi mới công nghệ nhưng về cơ bản chưa có chính sách khuyến khích, hỗ trợ sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thị trường trong nước và thế giới.
Năm là, tạo mối liên kết chặt trong quan hệ cung – cầu và quản lý tốt thị trường lao động. Để liên kết thành công kỹ năng, lao động chất lượng với năng suất, tạo việc làm và phát triển, các chính sách phát triển kỹ năng cần hướng tới ba mục tiêu: khớp cung với nhu cầu hiện tại về kỹ năng, giúp người lao động và doanh nghiệp điều chỉnh để thay đổi, dự đoán và cung cấp các kỹ năng mới, khác biệt cần thiết trong tương lai.
Tỉnh Quảng Ninh mặc dù có nguồn lao động dồi dào nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn chưa tuyển được đủ số lượng lao động có tay nghề, chất lượng cao, dẫn đến không thể mở rộng hoạt động sản xuất do không phù hợp giữa trình độ tay nghề và nhu cầu của người sử dụng lao động vì thiếu lao động chất lượng của các ứng cử viên. Vì vậy, cần tăng cường hợp tác công tư, thực hiện các dự án liên quan đến thị trường lao động, thường xuyên đưa ra các phân tích, dự báo xu hướng thị trường, xây dựng nhiều chính sách giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng nguồn lao động. Mặt khác, các công ty nên cung cấp thông tin về nhu cầu của công ty cho các trường để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo. Các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề cần cập nhật các chương trình đào tạo theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Thúc đẩy phát triển hơn nữa thị trường lao động. Trong đó, quan trọng nhất là hoàn thiện khung khổ pháp luật cho thị trường lao động phát triển theo hướng phù hợp với quy luật của thị trường, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tham gia vào thị trường lao động, nâng cao trình độ, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Phát triển thị trường nhân lực chất lượng cao, trong đó thông tin thị trường minh bạch, công bằng, bảo vệ người lao động và hỗ trợ thông tin để phân bổ nguồn nhân lực hiệu quả. Đồng thời cung cấp thông tin cung cầu kịp thời cho công tác đào tạo và các chính sách phù hợp.
Có thể khẳng định, Việt Nam hiện đang trong thời kỳ “dân số vàng” với hàng trăm nghìn sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng mỗi năm; hàng triệu lao động tham gia thị trường lao động có nhu cầu học nghề. Khi thị trường lao động đang được quốc tế hóa và cạnh tranh hơn, đòi hỏi Việt Nam phải phát triển thị trường lao động có tổ chức với chất lượng lao động cao hơn. Cuộc cạnh tranh trong thời đại 4.0 là cuộc cạnh tranh về nhân lực chất lượng cao. Quốc gia có nguồn lao động tốt, đáp ứng nhanh với nhu cầu thay đổi của công nghệ, dùng công nghệ để giải quyết tốt các bài toán của mình, của nhân loại thì quốc gia đó sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Vì vậy, lao động sẽ là một lợi thế nếu tỉnh Quảng Ninh giải quyết tốt bài toán cung – cầu lao động giữa cơ sở đào tạo và thị trường (thị trường trong và ngoài nước), đổi mới đào tạo để đáp ứng sự thay đổi của thời đại. Việc triển khai đồng bộ, triệt để các giải pháp là cơ sở góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho giai đoạn mới của tỉnh Quảng Ninh./.
[1] Thu Chung: Nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển bền vững, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, ngày 2-12-2022.
[2] Thu Chung: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, ngày 8-12-2022.
