Kỷ nguyên số - Bối cảnh và cơ hội cho Thủ đô Hà Nội bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xuất phát từ quan niệm duy vật lịch sử, theo đó mọi sự thay đổi của đời sống xã hội là do rất nhiều nguyên nhân nhưng xét đến cùng, đều bắt nguồn từ sự biến đổi, sự phát triển không ngừng và sự hoàn thiện ngày càng cao của lực lượng sản xuất; tác giả trình bày một số nội dung quan trọng, cơ bản về công nghệ số và kỷ nguyên số vì công nghệ số đang đóng vai trò là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng của lực lượng sản xuất hiện đại của xã hội. Từ đó tác giả tập trung phân tích những việc đã làm, các cơ hội và khả năng để Thủ đô Hà Nội cùng dân tộc bước vào kỷ nguyên số.

1- Kỷ nguyên số (The digital age), hay thời đại công nghệ số là thời đại hay kỷ nguyên mà các công nghệ thông minh, hiện đại; thời đại mà các máy tính hoặc trí tuệ nhân tạo được sử dụng để thay thế hoặc bổ trợ hết sức đắc lực cho các hoạt động thường ngày của con người, kể cả những hoạt động cực kỳ phức tạp.
Kỷ nguyên số được cấu thành từ kinh tế số và xã hội số. Đó là những thành tố quan trọng cấu thành và nâng cấp phát triển của nền văn minh nhân loại lên một tầm cao mới, tầm cao mà cách đây chưa lâu con người còn chưa thể nào mường tượng ra. Kỷ nguyên số không chỉ mang những đặc điểm, những tính chất mới mẻ mà mức độ tác động vừa sâu, vừa rộng và vừa nhiều mặt của nó đến đời sống xã hội và con người cũng chưa từng có trước đây.
Vào năm 1847, trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học, C. Mác đã từng đã từng viết như sau: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất. Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp”1.
Như vậy, đối với C. Mác, trong lịch sử loài người, các xã hội khác nhau không phải là ở chỗ xã hội ấy sản xuất ra cái gì, mà chính là ở chỗ xã hội ấy sản xuất ra cái đó theo những cách thức nào và bằng các công cụ lao động nào. C. Mác cũng từng khẳng định rằng, lực lượng sản xuất chính là những cái có sức mạnh vật chất do con người sáng tạo ra, và rằng mọi sự thay đổi trong đời sống xã hội của con người, xét đến cùng, đều bắt nguồn từ sự biến đổi, từ sự hoàn thiện ngày càng cao và sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất.
Điều đó có nghĩa là, tất cả những sự thay đổi của đời sống xã hội, xét đến cùng, đều bắt nguồn từ sự phát triển và từ sự biến đổi không ngừng theo chiều hướng ngày càng tiến bộ của lực lượng sản xuất, trước hết là của các công cụ sản xuất mà con người thuộc các thế hệ khác nhau, nối tiếp nhau đã tạo ra được, đồng thời tiếp tục cải tiến, tiếp tục từng bước nâng tầm để chúng ngày càng hoàn thiện thêm.
Nói tóm lại, mọi sự thay đổi của đời sống xã hội là do rất nhiều nguyên nhân nhưng xét đến cùng, đều bắt nguồn từ sự biến đổi, sự phát triển không ngừng và sự hoàn thiện ngày càng cao của lực lượng sản xuất.
Trong thời đại chúng ta, công nghệ số đang đóng vai trò là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng của lực lượng sản xuất hiện đại của xã hội. Quá trình chuyển đổi số không chỉ đang làm thay đổi nhanh chóng phương thức phát triển của xã hội, mà còn đang làm thay đổi cả lối sống và cả các hoạt động dựa trên nền tảng số.
Có đủ cơ sở để nói rằng, trong lịch sử nhân loại, trừ việc phát hiện ra lửa, thì không có một thứ công nghệ nào phát triển nhanh chóng và hiệu quả xã hội to lớn như tác động của các công nghệ số trong thời đại chúng ta. Công nghệ số đang từng bước tạo nên kỷ nguyên số và tác động mạnh đến tất cả các yếu tố khác của phương thức sản xuất.
Theo các nhà khoa học trên thế giới, với công nghệ số thì khả năng kết nối của con người và xã hội với thế giới không còn bị giới hạn thuần túy về mặt biên giới và địa lý, mà đồng thời còn được mở ra, được kết nối bằng số lượng các dữ liệu đã được tạo ra, đã được tích lũy lại là vô cùng lớn.
Số lượng những dữ liệu ấy tạo nên tiền đề và chất liệu hết sức có giá trị không chỉ cho các nghiên cứu khoa học, mà còn cho cả sự chỉ đạo hoạt động thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực, từ hoạt động kinh tế, hoạt động văn hóa, hoạt động xã hội cho đến các lĩnh vực như an ninh, quốc phòng, quan hệ chính trị và các hoạt động đối ngoại trong thời đại đầy những biến động, phức tạp và rất khó lường,... như hiện nay.
Chính trong bối cảnh ấy, tuyệt đại đa số các quốc gia lớn và nhỏ, cả trong khu vực và trên thế giới, từ những nước phát triển ở trình độ cao như nước Mỹ hay Trung Quốc, cho đến các nước phát triển ở trình độ trung bình hoặc trung bình khá như một số nước Đông Nam Á, đều chủ động triển khai chiến lược hội nhập quốc tế, thúc đẩy phát triển nền kinh tế số.
Có thể thấy rõ điều này qua chiến lược phát triển quốc gia về công nghệ số và kinh tế số của các nước gần với nước ta về mặt địa lý, như Indonesia, Malaisia, Philipines,... Đặc biệt, phải kể đến kế hoạch hết sức táo bạo của một nước có diện tích khá nhỏ, dân số tương đối ít như Singapore để trở thành một quốc gia thông minh, đi đầu thế giới về công nghệ thông tin và truyền thông.
Vậy, trong bối cảnh thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ, nước ta nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng- trái tim của cả nước, có thể chờ đợi những cơ hội gì ở kỷ nguyên số.
Dễ dàng nhận ra rằng, khác với cuộc cách mạng khoa học thuần túy trước đây, tiếp đó là các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ từ lần thứ nhất đến lần thứ ba, tác động của cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ lần thứ tư hiện nay trong kỷ nguyên số đang diễn ra rất nhanh cả về tốc độ bứt phá lẫn về hiệu quả và giá trị gia tăng được tạo ra. Điển hình nhất về những mặt này là các ngành chế tạo, như ngành sản xuất ô tô, ngành sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thiết yếu hằng ngày của con người hay ngành logistic, hay vận tải nói chung...
Trong kỷ nguyên số, trong bối cảnh mà rất nhiều cơ hội đã và đang được tạo ra, thì việc Hà Nội, bằng những cách thức và chính sách khác nhau, nhằm thu hút được nhiều người có thực tài thuộc các lĩnh vực khoa học và công nghệ khác nhau, trước hết là nguồn nhân lực kỹ năng số chất lượng cao cả từ trong nước và cả từ ngoài nước, cùng với các nguồn tài chính và vật lực thích dụng cho việc phát triển kết cấu hạ tầng công nghệ số là vô cùng quan trọng.
Có thể nói, việc thực hiện tất cả những nhiệm vụ đó đều nhằm một mục đích quan trọng là tạo cơ hội tốt nhất để Thủ đô và đất nước xây dựng được một hạ tầng số hiện đại, góp phần tích cực và chủ động nâng cao năng lực tự chủ của quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế về công nghệ số, nâng cao vị thế, uy tín và từ đó nâng tầm ảnh hưởng của tiếng nói quốc gia trên các diễn đàn kinh tế và khoa học, công nghệ quốc tế.
Khi chúng ta tranh thủ được các cơ hội để hội nhập với thế giới, để thúc đẩy sự phát triển thì đồng thời cũng là cách thức hiệu quả để giảm bớt những nguy cơ, những trở ngại và thách thức rất đáng kể về nhiều mặt, trong đó thách thức lớn nhất và khó vượt qua nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, về khoa học và công nghệ khi những lĩnh vực này trên thế giới đang phát triển với tốc độ “một ngày bằng 20 năm” như C. Mác đã từng dự báo.
Bên cạnh các nguy cơ dễ nhận ra đó thì những thách thức hiện hữu về quốc phòng, về an ninh, cả những thách thức truyền thống và phi truyền thống, trong thời đại công nghệ số, thời đại trí tuệ nhân tạo, đòi hỏi chúng ta phải có những đối sách phù hợp, nhanh nhạy và có hiệu quả thật sự cao.
Đảng nhấn mạnh: “phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng kinh tế”2, đồng thời yêu cầu phải “kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”3.
Bởi vì, cơ hội mở ra để chúng ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trong kỷ nguyên số tuy rất lớn, song cũng xuất hiện không ít những nguy cơ và cả những thách thức rất nan giải đối với an ninh quốc gia, nhất là sự chống phá của các thế lực thù định bằng vũ khí công nghệ số, bằng các cuộc tấn công mạng, bằng các chiến dịch thông tin giả mạo. Dễ thấy nhất là việc chúng ta đang phụ thuộc khá nhiều vào một số ít tập đoàn công nghệ quốc tế lớn trên thế giới.
Chính họ đang chi phối nền tảng số, đang nắm nguồn dữ liệu vô cùng lớn có ảnh hưởng đáng kể đến an ninh quốc gia không chỉ của chúng ta mà còn của nhiều nước. Đó là chưa nói đến việc tập đoàn công nghệ đa quốc gia còn có thể can thiệp bằng nhiều cách thức khác nhau vào các vấn đề chính trị, thậm chí cả lĩnh vực an ninh hoặc vấn đề chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải quốc gia.
2- Đứng trước những bối cảnh trong nước và quốc tế, cùng những cơ hội và cả những thách thức đó Thủ đô Hà Nội có thể và cần phải làm gì để cùng với dân tộc bước vào kỷ nguyên mới.
Theo báo cáo của chính quyền thành phố, Hà Nội có diện tích hơn 3.300km2. Như vậy, Hà Nội là một trong số 20 thủ đô trên thế giới có diện tích tự nhiên lớn nhất, với số dân gần 10 triệu người. Năm 2023 quy mô kinh tế của Hà Nội đạt khoảng 55 tỷ USD, chiếm khoảng gần 13% quy mô nền kinh tế của cả nước; thu ngân sách chiếm khoảng 23% nguồn thu của cả nước, trong đó thu nội địa chiếm khoảng 26%.
Đáng chú ý là Hà Nội đang dẫn đầu về kinh tế số; đứng thứ tư về xã hội số và thứ bảy về thể chế số. Thành phố Hà Nội đã đi tiên phong trong việc thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công theo phương châm hoạt động “hành chính thông minh - tận tâm phục vụ”; hướng tới “phi địa giới hành chính, phi trung gian, vật chất”.
Trung tâm này đã nâng cấp gần 1.200 dịch vụ công trực tuyến và tích hợp trên Cổng dịch vụ công quốc gia; sử dụng ứng dụng Chatbot hỗ trợ; triển khai mô hình Đại lý dịch vụ công trực tuyến thông qua hệ thống các doanh nghiệp bưu chính và sắp xếp lại mạng lưới bộ phận “một cửa” tại 30 quận, huyện. Một vài số liệu trên đây cùng với cơ sở vật chất và nguồn nhân lực chất lượng cao hiện có, Hà Nội hoàn toàn có đủ điều kiện để bứt phá với tốc độ nhanh trong kỷ nguyên công nghệ số.
Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 30-12-2022 của Thành ủy Hà Nội về chuyển đổi số, xây dựng thành phố Hà Nội thông minh định hướng đến năm 2030, đặt ra mục tiêu rất rõ ràng là đến năm 2030: “xây dựng Thủ đô Hà Nội cơ bản trở thành thành phố thông minh, hiện đại, từng bước kết nối với mạng lưới đô thị thông minh trong khu vực và thế giới”.
Theo Nghị quyết số 18-NQ/TU, một trong những mục tiêu cụ thể đến năm 2030 về chính quyền số Hà Nội là: Hoàn thành cơ bản chính quyền số, các hoạt động chỉ đạo, điều hành của các quận được thực hiện với sự hỗ trợ tích cực của hệ thống cơ sở dữ liệu số.; phát triển chính quyền điện tử, xây dựng chính quyền số; triển khai 100% thủ tục hành chính có đủ điều kiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến, triển khai trên nhiều phương tiện hiện đại theo kế hoạch của thành phố; phấn đấu đạt 70% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin; hoàn thiện đầy đủ nền tảng dữ liệu phục vụ phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số; các dữ liệu được chia sẻ theo quy định, theo kế hoạch và theo lộ trình của thành phố.
Hà Nội đang rất tích cực, bằng nhiều biện pháp thiết thực và cụ thể khác nhau, để đến hết năm 2025 hoàn thành 15 mục tiêu chuyển đổi số theo Nghị quyết của Thành ủy Hà Nội đã đặt ra đến năm 2030, để Hà Nội cơ bản trở thành một thành phố trên ba trụ cột chính là chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Báo cáo về Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam năm 2023 đã xếp Hà Nội vào vị trí số 1 của cả nước về chỉ số Quản trị điện tử. Theo báo cáo Chỉ số đánh giá chuyển đổi số do Bộ Thông tin và Truyền thông mới công bố, thành phố Hà Nội đã lần đầu lọt vào tốp 10 trong bảng xếp hạng 63 tỉnh, thành phố.
Kết quả này cho thấy những bước tiến của Hà Nội trong lĩnh vực chuyển đổi số nhằm mang lại kết quả thực chất và bền vững, hướng đến xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Có thể nói, đây là một trong những chỉ số đánh dấu bước tiến rất quan trọng về khả năng và triển vọng của Thủ đô trong những năm sắp tới.
Những thông tin có được gần đây còn cho thấy, Hà Nội đang rất khẩn trương để cụ thể hóa sự chỉ đạo từ Trung ương thông qua các kế hoạch và phân công cụ thể cho từng sở, từng ngành, từng địa phương để quyết tâm đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số trên toàn thành phố. Để các nhiệm vụ này được thực hiện hiệu quả và đúng tiến độ thì không chỉ cần sự quyết tâm của các cơ quan và tổ chức nhà nước, mà điều không kém phần quan trọng là rất cần sự chủ động, sự tích cực tham gia của các doanh nghiệp và của người dân.
Bởi vì, chúng ta đều hiểu rằng, chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện thuần túy công nghệ, kỹ thuật đơn thuần mà điều quan trọng hơn nhiều, đó là chuyển đổi số chính là động lực quan trọng kích thích sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện và bền vững của Thủ đô trong kỷ nguyên số. Chuyển đổi số vừa là một thời cơ và cũng là một thách thức không thể chậm trễ. Song, “thời cơ không tự đến mà chủ yếu là do ta chuẩn bị sẵn sàng cho thời cơ, nhạy bén đón bắt đúng thời cơ; vượt qua thách thức chính là thời cơ lớn nhất”4.
Để nắm bắt được thời cơ, để cho công cuộc chuyển đổi số của Thủ đô diễn ra một cách thuận lợi, nhanh chóng và hiệu quả thật sự thiết thực, một mặt, rất cần sự hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông, từ đó mới có thể đáp ứng yêu cầu phát triển chuyển đổi số của thành phố; mới có thể thúc đẩy nhanh sự kết nối và mới có thể chia sẻ được kịp thời và nhanh chóng các dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước của thành phố và của cả nước khi cần cần.
Mặt khác, Hà Nội cần tăng cường phổ cập kỹ năng số, hay là tổ chức các lớp “bình dân học vụ số” cho mọi người dân; tham mưu về việc triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn, tin cậy trong môi trường số. Đồng thời, cần thiết phải có một đầu mối đủ thẩm quyền để tiến hành việc tổng hợp, chỉ huy đôn đốc các sở, các ban, ngành, UBND quận, huyện, thị xã rà soát, thống kê kết quả thực hiện.
Đặc biệt, chính quyền Thủ đô Hà Nội phải coi người dân và doanh nghiệp là trung tâm của công cuộc chuyển đổi số; phải lấy việc đào tạo, bồi dưỡng và phát triển con người, bảo đảm và cải thiện ở mức tốt nhất có thể đời sống của mọi người dân là cái đích phải đạt đến.
Từng bước cần minh bạch hóa và tăng cường sự tham gia của người dân và doanh nghiệp vào hoạt động của chính quyền các cấp; khuyến khích, tận dụng mọi nguồn lực xã hội hiện có để xây dựng, phát triển, thúc đẩy việc sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ nhiệm vụ quản lý và điều hành mọi công việc một cách tốt nhất.
Muốn vậy thì một trong những nhiệm vụ trọng tâm trước mắt của Hà Nội là phải đẩy mạnh chuyển đổi số; tiến hành số hóa tất cả các quy hoạch; nhanh chóng xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, hình thành nguồn tài nguyên số; trên cơ sở đó hướng tới xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành một đầu tàu, một đô thị xanh, thông minh, hiện đại, giàu bản sắc riêng, là nơi đáng sống, nhằm tạo động lực cho sự phát triển nhanh, tạo hiệu ứng lan toả rộng khắp, tạo mối liên kết thật sự vững chắc và thật sự hiệu quả với các vùng và các đô thị phía Bắc và với cả nước.
Nói tóm lại, trong kỷ nguyên số, công nghệ số giữ vai trò là một trong những yếu tố hết sức quan trọng của lực lượng sản xuất hiện đại của xã hội. Quá trình chuyển đổi số đang làm thay đổi nhanh chóng phương thức vận động và phát triển của xã hội, đồng thời cũng đang làm thay đổi cả lối sống và cả các hoạt động của con người dựa trên nền tảng số. Trong bối cảnh đó, Thủ đô Hà Nội có đủ điều kiện và cơ hội để đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số mọi mặt của cuộc sống trên toàn thành phố, để Hà Nội trở thành đầu tàu thúc đẩy và cùng cả nước đi lên trong kỷ nguyên dân tộc vươn mình./.
1 C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 187
2 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 227
3 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 157.
4 Tô Lâm: “Đảng Cộng sản Việt Nam: 95 năm tiên phong vì Tổ quốc và nhân dân”, Tạp chí Cộng sản, số 1053-1054 (1-2025), tr. 8
