Kinh tế và Hội nhập

Kinh tế Việt Nam: Cơ hội và thách thức

Phạm Việt Dũng (TS, Tạp chí Cộng sản) 17/02/2026 14:35

Mặc dù tăng trưởng kinh tế nhanh là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay, nhưng nếu không có tầm nhìn và chiến lược hợp lý, nó có thể kéo theo hàng loạt rủi ro. Do đó, khi theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao, phải chú ý đến chất lượng tăng trưởng. Chính phủ cần duy trì kỷ luật tài khóa chặt chẽ, tập trung đầu tư vào các dự án thực sự hiệu quả thay vì đầu tư dàn trải gây lãng phí.

k1.jpg
Công nhân sản xuất ô tô tại Nhà máy VinFast tại Khu Kinh tế Vũng Áng (tỉnh Hà Tĩnh)_Ảnh: TTXVN

Nhiều điểm sáng, tạo đà cho phát triển

Kinh tế Việt Nam năm 2025 khép lại với những điểm sáng đáng chú ý. Bất chấp những biến động phức tạp của tình hình địa - chính trị toàn cầu và thách thức từ thiên tai, kinh tế Việt Nam năm 2025 ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,02%, khẳng định vị thế dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng trong khu vực Đông Nam Á...

Như vậy, mục tiêu tăng trưởng trên 8% trong năm 2025 đã đạt được. Việt Nam đã kiên định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và giữ niềm tin thị trường.

Không những thế, nền kinh tế thể hiện khả năng phục hồi kiên cường, lạm phát bình quân được kiểm soát ở mức 3,31%; tỷ giá và lãi suất tương đối ổn định, tạo đà cho sản xuất, xuất khẩu và đầu tư phát triển.

Đây chính là “tấm khiên vững chắc” để nền kinh tế đứng vững trước những cơn sóng biến động từ bên ngoài. Cùng với đó, mặt bằng tăng trưởng mới đang dần hình thành với chất lượng được cải thiện trong môi trường đầy biến động.

Theo đó, những tín hiệu tích cực của nền kinh tế trong năm 2025, từ xuất khẩu phục hồi, sản xuất công nghiệp cải thiện, đầu tư công có trọng tâm, tín dụng mở rộng, đến việc hé mở các động lực của tam giác tăng trưởng mới: kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức cho thấy nền kinh tế đang giữ nhịp trong bối cảnh “nhiều lực cản”.

Việt Nam ghi nhận mức tăng rõ rệt trong xuất khẩu hàng hóa, yếu tố này trở thành động lực quan trọng kéo nền kinh tế vượt khó. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17% so với năm trước. Quy mô thương mại không ngừng mở rộng đã góp phần quan trọng thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm, ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ thương mại toàn cầu.

Trong số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, nổi bật là ngành hàng nông, lâm, thủy sản; năm 2025 lập kỷ lục mới, đạt trên 70 tỷ USD. Kết quả này phản ánh sự dịch chuyển rõ nét từ tăng trưởng theo lượng sang nâng cao giá trị, chất lượng và khả năng thích ứng của các ngành hàng chủ lực.

Nền kinh tế Việt Nam còn ghi nhận nhiều kết quả đáng khích lệ: khu vực công nghiệp và xây dựng đạt được những kết quả nổi bật; khu vực doanh nghiệp hoạt động sôi động, dịch vụ du lịch khởi sắc và môi trường vĩ mô ổn định... Cùng với sản xuất công nghiệp, giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục duy trì được tốc độ cao.

Trong tổng số hơn 1,1 triệu doanh nghiệp, riêng năm 2025 đã có khoảng 297,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng hơn 27% so với năm trước. Nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh thấy tự tin hơn vào môi trường đầu tư như được miễn giảm thuế phí, để hỗ trợ với tổng chi phí khoảng 250.000 tỷ đồng.

Cùng với tất cả các ngành hàng khác, tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa của nước ta đã xuất siêu hơn 20 tỷ USD. Thu ngân sách nhà nước năm 2025 cũng ghi nhận mức tăng gần 30%, với tổng giá trị ước đạt hơn 2,65 triệu tỷ đồng. Trong đó, khối doanh nghiệp đóng góp lớn.

Những điểm sáng này là cơ sở bảo đảm, nền tảng quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng của năm 2026.

Thách thức khi tăng trưởng cao

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 được Quốc hội thông qua là phấn đấu đạt từ 10% trở lên, đi kèm với chỉ tiêu GDP bình quân đầu người 5.400 - 5.500 USD và tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 4,5%.

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế cao, nếu không được kiểm soát tốt, có thể dẫn đến các rủi ro lớn nhưlạm phát, bong bóng tài sản (bất động sản, chứng khoán), thâm hụt ngân sách và nợ công, bất ổn vĩ mô, gia tăng bất bình đẳng xã hội (lợi ích tập trung vào nhóm giàu), áp lực lên môi trường và tài nguyên, cùng các thách thức về hạ tầng và nguồn nhân lực, đòi hỏi chính sách vĩ mô đồng bộ để bảo đảm tăng trưởng bền vững.

Cụ thể, các thách thức khi tăng trưởng cao là:

- Lạm phát và bong bóng tài sản: tăng trưởng quá nóng dễ gây áp lực lạm phát, giá cả hàng hóa thiết yếu tăng cao, ảnh hưởng đến đời sống người dân. Dòng tiền ồ ạt có thể chảy vào đầu cơ, tạo bong bóng trên thị trường bất động sản, chứng khoán, hút nguồn lực khỏi sản xuất.

- Bất ổn tài chính và vĩ mô: đầu tư quy mô lớn, chi tiêu công không hiệu quả có thể làm tăng thâm hụt ngân sách, nợ công. Tín dụng vào lĩnh vực rủi ro (như bất động sản) cao có thể làm gia tăng nợ xấu ngân hàng. Lãi suất thấp có thể gây áp lực mất giá đồng nội tệ, ảnh hưởng ổn định kinh tế.

- Bất bình đẳng xã hội: lợi ích từ tăng trưởng thường nghiêng về doanh nghiệp lớn và nhóm thu nhập cao, bỏ lại nhóm thu nhập thấp phía sau.

- Thách thức về môi trường: tăng trưởng nhanh thường đi kèm với gia tăng khai thác tài nguyên, ô nhiễm môi trường, tác động xấu đến sức khỏe và sinh thái. Biến đổi khí hậu trở thành rủi ro lớn, gây thiệt hại nặng nề cho các quốc gia dễ bị tổn thương.

- Áp lực thể chế: thể chế, chính sách chưa theo kịp tốc độ phát triển, gây ách tắc cho đầu tư và kinh doanh.

Nhiệm vụ đặt ra cho năm 2026

Năm 2026, diễn ra trong bối cảnh kinh tế toàn cầu được dự báo giảm tốc. Thương mại quốc tế tiếp tục chịu tác động từ suy giảm nhu cầu, căng thẳng địa - chính trị và xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng.

Với những diễn biến của tình hình thế giới trong những ngày đầu năm 2026, nhiều tổ chức kinh tế đều có chung nhận định tăng trưởng toàn cầu thấp hơn năm 2025, đi kèm sự phân hóa rõ rệt giữa các khu vực.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên mà Quốc hội đã thông qua, Việt Nam cần cải cách mạnh, đồng bộ và thực chất, đồng thời nền kinh tế cần vượt qua một số rào cản lớn.

Thứ nhất, giữ được ổn định vĩ mô. Khi mục tiêu tăng trưởng đặt ở mức rất cao, rủi ro lạm phát và mất cân đối tài chính có thể gia tăng, nhất là nếu tín dụng và đầu tư mở rộng mạnh. Việc nới lỏng quá mức để thúc đẩy GDP có thể gây áp lực lên mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4,5%.

Thứ hai, vượt qua điểm nghẽn năng suất. Việt Nam đã qua giai đoạn dựa chủ yếu vào lợi thế lao động giá rẻ. Muốn đạt tăng trưởng 2 con số, “không thể trông chờ vào mở rộng lực lượng lao động”, thay vào đó, năng suất phải bứt phá nhờ hấp thụ công nghệ, nâng cao chất lượng nhân lực, quản trị doanh nghiệp hiệu quả và phân bổ vốn hợp lý.

Thứ ba, ứng phó kịp thời với các biến số từ bên ngoài. Sự dịch chuyển trong chuỗi cung ứng, thay đổi trong mô hình thương mại quốc tế, rủi ro địa - chính trị, sự không chắc chắn xung quanh giá cả hàng hóa và lạm phát toàn cầu đều có thể ảnh hưởng mạnh tới xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và dòng vốn - những động lực quan trọng của tăng trưởng cao.

Nhiều tổ chức quốc tế cũng đánh giá triển vọng kinh tế toàn cầu các năm tới còn nhiều bất ổn, khiến mục tiêu tăng trưởng cao trở nên thách thức hơn với những nền kinh tế mở như Việt Nam.

Thứ tư, tháo gỡ hiệu quả điểm nghẽn thể chế. Việc cải cách thể chế và môi trường đầu tư cần được nâng cấp hơn nữa, bao gồm tinh gọn thủ tục, nâng cấp hạ tầng, cải thiện chất lượng lao động, minh bạch quản trị.

Một số khuyến nghị

Để vượt qua những rào cản nêu trên, hướng đến mục tiêu tăng trưởng 2 con số, cần lưu ý một số điểm sau:

Một là, ổn định vĩ mô và củng cố hệ thống tài chính. Cần phối hợp chặt chẽ giữa điều hành chính sách tiền tệ - tài khóa, điều hành tỷ giá linh hoạt, đẩy nhanh xử lý nợ xấu và tái cơ cấu tổ chức tín dụng yếu kém, đồng thời xây dựng cơ chế cảnh báo sớm rủi ro để ngân hàng và doanh nghiệp chủ động hơn.

Hai là, khơi thông dòng vốn đầu tư công và hạ tầng chiến lược. Hạ tầng chiến lược (giao thông, năng lượng, số hóa) cần được giải ngân quyết liệt hơn, kèm khung quản trị tiến độ rõ ràng, đầu mối chịu trách nhiệm, công khai dữ liệu giải ngân và đấu thầu công trực tuyến để giảm độ trễ và chi phí.

Ba là, cải cách thể chế, giảm bất định pháp lý. Điều này đòi hỏi phải chuẩn hóa quy định về đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường để doanh nghiệp yên tâm với quyết định đầu tư dài hạn.

Bốn là, điều hành chính sách linh hoạt. Những cú sốc từ căng thẳng Mỹ - Trung Quốc tiếp tục gây ra biến động cho dòng vốn ngắn hạn, gây áp lực trực tiếp lên dự trữ ngoại hối và tạo sức ép lên tỷ giá. Do đó, việc giữ vững nền tảng vĩ mô, theo dõi sát dòng vốn - nhu cầu nhập khẩu và điều hành tiền tệ linh hoạt là rất quan trọng.

Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và công nghệ. Việc thiết lập cơ chế thị trường carbon và ưu đãi cho ngành công nghệ cao sẽ là nền tảng để nâng sức cạnh tranh dài hạn và đáp ứng chuẩn xanh toàn cầu./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Kinh tế Việt Nam: Cơ hội và thách thức
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO