Chọn chuyên mục

Kinh nghiệm lịch sử thu hút và trọng dụng nhân tài vì phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội và của đất nước

GS, TS Phạm Hồng Tung, Đại học Quốc gia Hà Nội 28/12/2025 16:20

hoi-thao.jpg

Đặt vấn đề

Nói đến kinh đô Thăng Long xưa hay Thủ đô Hà Nội ngày nay không ai không biết tới Văn Miếu - Quốc tử Giám - trường đại học đầu tiên của đất nước ta được xây dựng từ thế kỷ XI dưới triều Lý. Đó là biểu tượng của nền giáo dục Nho học, cũng là biểu tượng của truyền thống trọng dụng hiền tài của dân tộc Việt Nam, với những dòng chữ được Thân Nhân Trung tuân mệnh Hoàng đế Lê Thánh Tông khắc trên tấm bia tiến sĩ dựng năm 1484: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết.”1

Do vị thế là thủ phủ quốc gia của mình và nhờ vào truyền thống trọng dụng nhân tài nên trong suốt chiều dài lịch sử, Thăng Long - Hà Nội luôn luôn là chốn anh tài quần tụ và chính ở đó tài năng của họ được thăng hoa và được trọng dụng, góp phần to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Từ tháng 9 năm 1945, Hà Nội trở thành Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dẫu trong những năm tháng trải qua chiến tranh khốc liệt hay trong thời bình dựng xây cuộc sống mới, Hà Nội vẫn tiếp tục là nơi tụ hội đông đảo nhất đội ngũ trí thức, chuyên gia của nước Việt Nam hiện đại. Đặc biệt là trong thời kỳ Đổi mới, lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng như lãnh đạo thành phố Hà Nội luôn luôn đề cao chính sách thu hút, tôn vinh, trọng dụng nhân tài.

Bắt đầu từ năm 2002, Hà Nội là nơi đầu tiên trong cả nước vinh danh các thủ khoa tốt nghiệp các trường đại học và học viện trên địa bàn Thủ đô. Sau 22 năm tổ chức liên tục, đến năm 2024 đã có 2.256 thủ khoa xuất sắc được tuyên dương, ghi danh vào Sổ vàng truyền thống2. Noi gương Hà Nội, nhiều địa phương cũng tổ chức vinh danh và công bố chính sách thu hút nhân tài.

Không chỉ vinh danh thủ khoa, từ năm 2013 Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 14/2013/NQ-HĐND “về chính sách trọng dụng nhân tài trong xây dựng, phát triển Thủ đô”.3 Trong Luật Thủ đô (Luật số: 39/2024/QH15 được Quốc hội ban hành ngày ngày 28 tháng 6 năm 2024), việc thu hút, trọng dụng nhân tài cũng được quy định rõ tại Điều 16.

Gần đây nhất, sau khi Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược trung ương ngày 24-2-2025, có chỉ đạo về việc “Thực hiện chính sách thu hút nhân tài vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước và chính sách đặc biệt đối với cán bộ, công chức đạt thành tích tốt trong công việc”4, ngày 5-3-2025 Thủ tướng Chính phủ đã gửi Công văn số 1767/VPCP-TKBT tới lãnh đạo các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và lãnh đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo việc triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư.

Ngày 13-3-2025, Chủ tịch UBND thành phố. Hà Nội đã ban hành văn bản chỉ đạo việc triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư và của Thủ tướng Chính phủ tại Hà Nội, trong đó có việc rốt ráo “Thực hiện chính sách thu hút nhân tài vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước và chính sách đặc biệt đối với cán bộ, công chức đạt thành tích tốt trong công việc”5.

Như vậy, về phương diện thể chế, trong suốt hơn 10 năm vừa qua Hà Nội đã có hệ thống chính sách khá hoàn bị, với hiệu lực pháp lý cao nhất để thu hút, trọng dụng đội ngũ nhân tài phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững của Thủ đô. Đây là một trong những thuận lợi rất cơ bản đối với chiến lược thu hút và trọng dụng đội ngũ chuyên gia, trí thức, văn nghệ sĩ tài năng ở Thủ đô.

Tuy nhiên, những gì mà Thủ đô Hà Nội đạt được trong quá trình triển khai chính sách và luật pháp nói trên cho đến nay (2025) là rất hạn chế, với hiệu quả không cao. Điển hình nhất là chính sách vinh danh và thu hút các thủ khoa đại học và học viện vào làm việc trong các đơn vị công ở Hà Nội. Cụ thể như sau: “Từ năm 2013 đến năm 2022, chỉ có 55 thủ khoa xuất sắc ở các trường đại học về làm việc tại Hà Nội, trong đó, 43 công chức, 12 viên chức. Quá trình công tác, 9 công chức từng là thủ khoa xuất sắc xin chuyển công tác ra ngoài và 5 công chức xin thôi việc6.

Có thể nói thẳng ra là chính sách này đã cơ bản thất bại. Nhiều tỉnh và thành phố cũng gặp phải tình trạng như Hà Nội, cho dù đã “trải thảm đỏ” với nhiều loại ưu đãi khác nhau mà vẫn không thu hút được nhân tài, nhất là vào các khu vực công. Vậy, những nguyên nhân nào đã dẫn đến sự thất bại của chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài của Hà Nội trong thời gian hơn 10 năm qua và chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài của Hà Nội nói chung?

Chúng tôi cho rằng có những nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan bắt nguồn từ những vấn đề đương đại, nhưng cũng có những nguyên nhân có cội nguồn sâu xa từ trong lịch sử Thủ đô và lịch sử đất nước. Vì vậy, việc xem xét vấn đề từ cả chiều cạnh truyền thống và hiện đại sẽ là rất hữu ích. Do khuôn khổ nghiên cứu có hạn, chúng tôi chủ yếu tập trung vào khảo nghiệm vấn đề này trong các thời kỳ lịch sử Việt Nam trung đại và cận đại

Kinh nghiệm thu hút và trọng dụng nhân tài trong lịch sử Hà Nội và lịch sử Việt Nam trung đại và cận đại

Kinh đô Thăng Long - nơi quy tụ nhân tài trong kỷ nguyên quân chủ độc lập

Năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi, lập ra nhà Lý và năm 1010 Lý Thái Tổ quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư đến thành Đại La và đặt tên mới cho kinh thành là Thăng Long. Từ đây đất nước bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên văn minh Đại Việt rực rỡ văn trị võ đức với nhiều thành tựu vĩ đại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong đó, kinh thành Thăng Long luôn luôn là nơi hội tụ nhân tài, nơi tinh thần và trí tuệ dân tộc được bồi tụ, thăng hoa mạnh mẽ.

Nhìn một cách khái quát, đội ngũ nhân tài quy tụ về kinh thành Thăng Long trong suốt gần 9 thế kỷ, từ đầu thế kỷ X đến cuối thế kỷ XVIII, bao gồm bốn nhóm lớn: 1) các trí thức - quan lại; 2) các võ quan; 3) Nghệ nhân - thợ thủ công tài hoa và 4) văn nhân tài tử.

l đông đo nht và ni tiếng nht là nhóm th nht: các nhân tài - trí thc - quan li. Trong thời gian đầu, từ giữa thế kỷ X đến khoảng cuối thế kỷ XIII, là khoảng thời gian mà đội ngũ trí thức Phật giáo chiếm ưu thế cả về số lượng và tầm mức ảnh hưởng trong đời sống dân tộc; và giai đoạn sau, từ đầu thế kỷ XIV đến cuối thế kỷ XIX, là giai đoạn mà đội ngũ trí thức Nho học chiếm ưu thế về mọi mặt.

Trong giai đon th nht, tiếp nối truyền thống từ thời kỳ Hoa Lư, nhân tài - trí thức dưới triều Lý và đầu triều Trần chủ yếu là tăng sĩ Phật giáo. Dưới hai triều đại này Thăng Long không phải là trung tâm Phật giáo duy nhất, nhưng chắc chắn là một trung tâm lớn nhất. Ngay từ thời vua Lý Thái Tổ, sử gia Lê Văn Hưu đã nhận xét: “Xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật lộng lẫy hơn cung vua… dân chúng quá na làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa chiền…”7.

Đến khoảng cuối thế kỷ XII, Đàm Dĩ Mông - một đại thần của triều vua Lý Cao Tông lại tấu trình, rằng: “Hiện nay, số sư sãi đã gần ngang với số phu dịch”8. Sang triều Trần, đạo Phật cũng vẫn rất thịnh, số lượng người quy y, xuất gia làm tăng vẫn không ngừng tăng lên, chỉ trong vòng 16 năm, từ 1313 đến 1329, đã có tới 15.000 người được cấp Độ điệp9.

Về tầm mức ảnh hưởng, có thể khẳng định Phật giáo nói chung và đội ngũ trí thức Phật học nói riêng có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống quốc gia - dân tộc. Nhiều bậc cao tăng đã được các triều đình Lý và Trần đặc biệt trọng dụng. Họ được phong những chức vị như Quốc sư, Tăng thống, và tiếp tục được tham dự triều chính trong vai trò như là “cố vấn đặc biệt” của nhà vua và triều đình.

Trong giai đon th hai, từ khoảng đầu thế kỷ XIV đến cuối thế kỷ XIX, chắc chắn trí thức Nho học chiếm số lượng áp đảo và tầm mức ảnh hưởng trong đời sống dân tộc của họ cũng vượt trội, mặc dù Phật giáo, Đạo giáo và những trí thức gắn với hai tôn giáo này vẫn còn có những ảnh hưởng nhất định.

Thực ra Nho giáo đã được du nhập vào Việt Nam ngay từ thời Bắc thuộc, có thể từ thời “Nam Giao học tổ” Sĩ Nhiếp (187 - 226), và những cá nhân, những nhóm trí thức Nho học cũng đã xuất hiện từ khoảng thời gian đó. Trong thời gian đầu kỷ nguyên độc lập, Nho giáo và trí thức Nho học chưa có vị trí ưu trội trong đời sống dân tộc nhưng cũng không ngừng phát triển và củng cố vị thế. Nho học và khoa cử Nho học đã được tổ chức ngày càng quy củ hơn dưới triều Lý, và nhất là dưới triều Trần. Từ năm 1247, nhà Trần đã hoàn chỉnh căn bản chế độ khoa cử, đặt lệ lấy tam khôi (trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa).

Điều quan trọng nhất diễn ra trong triều Trần là việc trí thức Nho học từng bước lấn lướt trí thức Phật học, bước vào và chiếm giữ vị trí ưu trội trong đời sống chính trị nói riêng và đời sống tinh thần dân tộc nói chung. Bước chuyển này được sử cũ ghi nhận diễn ra dưới thời Hoàng đế Trần Minh Tông. Ngô Sỹ Liên và các sử thần nhà Hậu Lê đã ca tụng ông như sau: “Vua đem văn minh sửa sang đạo trị nước, làm rạng rỡ công nghiệp của người xưa”10.

Thực ra, từ trước đó một số trí thức Nho học tài năng đã được trọng dụng, nhưng phải đến triều vua Trần Minh Tông thì hầu hết những vị trí trọng yếu của triều đình mới được giao cho đội ngũ này. Sử cũ ghi: “Bấy giờ, quan trong triều như bọn Trần Thì Kiến, Đoàn Nhữ Hài, Đỗ Thiên Hư, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Dũ, Phạm Mai, Phạm Ngộ, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Lê Duy (Duy người xã Cổ Định, huyện Nông Cống), Trương Hán Siêu, Lê Cư Nhân nối nhau vào triều, nhân tài rộ nở”11.

Từ đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, dưới các triều đại Hậu Lê, Mạc, Tây Sơn và Nguyễn, Nho giáo đã chiếm được vị trí độc tôn, vừa là cơ sở tư tưởng - chính trị của các triều đại, vừa là “khuôn vàng thước ngọc” cho các ứng xử xã hội, là “rường cột” để các quan hệ xã hội vận hành, và cũng là cơ sở triết lý đạo đức cho toàn bộ chế độ giáo dục, khoa cử, đào tạo và tuyển dụng nhân tài cho triều đình quân chủ.

Một nghiên cứu cho biết: trong khoảng 8 thế kỷ (1075 - 1919), nền giáo dục và khoa cử Việt Nam đã tổ chức được 184 khoa thi Hội, lấy đỗ 2.887 tiến sĩ (và tương đương), trong đó có 47 trạng nguyên12.

Trong thời gian nói trên, có những lúc Thăng Long - Hà Nội đã tạm thời bị mất vị thế kinh thành - thủ đô của đất nước, như dưới triều Hồ (1400 - 1407), thời Minh thuộc (1407 - 1428). Dưới triều Mạc thì đặt kinh đô ở Dương Kinh rồi chuyển lên Cao Bằng, triều Tây Sơn và Nguyễn, kinh đô là Phú Xuân - Huế (1789 - 1945).

Trong những khoảng thời gian bị mất vị thế kinh đô, cho dù vẫn luôn luôn là một trọng trấn, nơi nhân tài hội tụ, nhưng rõ ràng khi triều đình bị thiên di đi nơi khác thì đội ngũ nhân tài - trí thức - quan lại không còn tụ họp đông đảo ở Thăng Long và sau này, dưới triều Nguyễn là Bắc Thành và Hà Nội nữa. Đây là một đặc điểm rất đáng chú ý trong lịch sử dân tộc và lịch sử Hà Nội.

Nhìn một cách tổng quát, tuy có lúc thăng, trầm khác nhau, nhưng Nho giáo và trí thức Nho giáo đã có 4 đóng góp rất to lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vào lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đó là:

Th nht, Nho giáo và trí thức Nho học đã giúp cho dân tộc Việt Nam trở thành mt trong nhng dân tc hay ch nht trên b mt hành tinh này - nói theo cách của sử gia Alexander B. Woodside13. Nhận xét đó quả thật không có gì là cường điệu, nếu người ta nhìn vào những di sản văn tự vô cùng đồ sộ mà giới Nho sĩ Việt Nam đã để lại cho hậu thế.

Th hai, Nho giáo và trí thức Nho học đã góp phần rất quan trọng vào quá trình xã hội hóa chính trị cho hệ thống chính trị quân chủ tập quyền Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập, tự chủ, nhất là từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX. Thông qua Nho giáo và đội ngũ trí thức Nho học, các giá trị cốt lõi, các nguyên tắc cơ bản của văn hóa chính trị quân chủ chuyên chế tập quyền (trung, hiếu, lễ, nghĩa, trí, tín) và ý thức yêu nước, tinh thần nhân ái, tục thờ cúng tổ tiên, tinh thần nhân ái, đoàn kết quốc gia - dân tộc đã hòa quyện được với nhau, tạo nên bệ đỡ văn hóa chính trị bền vững cho sự trường tồn của quốc gia - dân tộc.

Th ba, nền giáo dục và khoa cử Nho học đã đào tạo và tuyển chọn để cung cấp cho hệ thống chính trị Việt Nam một đội ngũ quan cai trị chuyên nghiệp, thế tục mà không thế tập, góp phần khiến cho hệ thống chính trị quân chủ ở Trung Quốc, và sau này ở cả Việt Nam thời kỳ trung đại, trở thành một hệ thống Meritocracy (trọng dụng nhân tài) chứ không phải là Aristocracy (quân chủ quý tộc) như ở phương Tây14. Nền giáo dục và khoa cử Nho học, vì vậy, là nền giáo dục và khoa cử đào luyện và tuyển chọn “hiền tài”, là bệ đỡ cho nền chính trị “trọng hiền”. Hiền tài, vì thế, được coi là “nguyên khí quốc gia” và “trọng hiền” được coi là một dấu hiệu, một chỉ báo quan trọng nhất của “văn hiến”.

Đóng góp th tư ca giáo dc Nho hc vào lch s chính tr - xã hi Vit Nam là góp phn to nên h thng di đng xã hi theo chiu dc (vertical social mobility). Về nguyên tắc, nền giáo dục và khoa cử Nho học là mở ra cơ hội tiến thân bình đẳng cho tất cả mọi thần dân thuộc giới nam, bất kể họ xuất thân từ giai tầng xã hội nào, chỉ trừ con em nhà “xướng ca vô loài” hay “nghịch phản”. Vì thế mà những kẻ hiền tài, dù là con nhà chăn trâu, kiếm củi, như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Sinh Sắc,... cũng có cơ hội gia nhập vào tầng lớp “quý tộc có học” và được bổ dụng làm quan. Chính việc khai thông được hệ thống di động xã hội theo chiều dọc thông qua giáo dục và khoa cử Nho học đã góp phần tạo nên xã hội quân chủ hài hòa, tương đối ổn định, trong đó, tầng lớp “sĩ”, tức là Nho sĩ, chính là “liên lạc viên”, là nhịp cầu đối thoại giữa “làng” với “nước”, giữa vua và thần dân.

Cho nên các vị hoàng đế ở Việt Nam, nếu họ là những bậc “chúa thánh” thì bao giờ cũng chăm lo đến việc học hành khoa cử để tuyển dụng “tôi hiền”, và nhờ trong triều đình có nhiều “tôi hiền” nên hoàng đế, cho dù vốn có thể không thật tài ba, nhưng vẫn có thể trở thành “chúa thánh”. “Chúa thánh, tôi hiền” chính là sứ mệnh, là mục đích tối hậu của Nho học và trí thức Nho học.

Nhóm nhân tài th hai t hi kinh thành Thăng Long là nhóm nhân tài quân s, bao gm các tưng lĩnh, binh sĩ tài ba và nhng nhà ch huy kit xut.

Năm 1010, Giảng Võ điện là một trong những điện được vua Lý Thái Tổ cho xây dựng trong hoàng thành Thăng Long cùng với những cung, điện đầu tiên của kinh thành15. Tiếp đó, đến năm 1070, cùng với việc xây dựng Văn Miếu, triều Lý cho xây dựng Xạ Đình là nơi thao luyện cho tướng sĩ.

Dưới triều Trần, từ năm 1253 Giảng Võ trường cũng được xây dựng thành nơi huấn luyện của các tướng sĩ. Việc đào tạo và huấn luyện nhân tài quân sự luôn được các triều đình quân chủ Việt Nam đặc biệt quan tâm, tương xứng với nhu cầu to lớn và luôn thường trực của sự nghiệp chống ngoại xâm, mở mang bờ cõi và duy trì thống nhất, trật tự của vương quốc.

Cho nên, bên cạnh hệ thống khoa cử nhằm đào tạo và tuyển dụng nhân tài - trí thức - quan lại, một hệ thống võ cử rất quy mô bài bản cũng từng bước được phát triển16. Tuy nhiên, mỗi triều đại lại có phương thức tổ chức quân đội thường trực, đào tạo, tuyển chọn và sử dụng đội ngũ nhân tài quân sự khác nhau.

Trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hàng nghìn năm của dân tộc, vùng đất ngày nay là Thủ đô Hà Nội đã là nhiều bậc tài năng quân sự xuất chúng sinh trưởng và đem tài năng của mình cống hiến cho quê hương, đất nước. Có thể nhắc đến tên tuổi của một số vị anh hùng dân tộc kiệt xuất nhất sau đây, như Phạm Tu (476 - 545), Phùng Hưng và em là Phùng Hải (thế kỷ thứ VIII), Ngô Quyền (898 - 944), Lý Thường Kiệt (1019 - 1105), Trần Quốc Tuấn (?-1300) tức là Hưng Đạo Đại Vương, Quốc Công Tiết chế nhà Trần.

Cũng trong thời Trần còn xuất hiện nhiều nhân tài quân sự xuất chúng khác như Trung Vũ Đại Vương Trần Thủ Độ, Chiêu Minh Đại Vương Thái Sư Trần Quang Khải, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản, Điện Súy Phạm Ngũ Lão, Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng… Phạm Văn Xảo (?-1430) cũng là một trong những nhân tài quân sự nổi bật, một khai quốc công thần của nhà Lê Sơ.

Trong các triều đại Mạc, Tây Sơn và Nguyễn cũng có những nhân tài quân sự xuất thân vùng đất Thăng Long - Hà Nội, song họ không còn tụ hội ở nơi này mà phụng sự triều đình và xã tắc ở các vùng miền khác.

Nhóm nhân tài th ba t hi vùng đt Thăng Long - Ni và có đóng góp vô cùng to ln vào s phát trin ca vùng đt này, góp phn to nên din mo và bn sc ca chn Kinh K - K Ch chính là đi th th công và doanh nhân tài năng.

Là một trung tâm đô thị có bề dày hơn một nghìn tuổi, Thăng Long - Hà Nội là chốn đô hội bậc nhất của cả nước, nơi hội tụ, buôn bán của nổi tiếng trong suốt nhiều thế kỷ. Nếu khu vực kinh đô tạo nên vị thế của một trung tâm chính trị và là nơi quần tụ của nhân tài chính trị, quân sự, ngoại giao thì khu vực “thị”, mà về cơ bản tương ứng với phần phía Đông của thành phố - khu vực là quận Hoàn Kiếm và một phần quận Hai Bà Trưng ngày nay, lại là nơi quần tụ trăm hay ngàn khéo của bốn phương để tạo nên diện mạo và bản sắc riêng của thành phố.

Có lẽ từ trước khi Lý Thái Tổ dời kinh đô đến vùng đất này thì thành Đại La đã sớm trở thành một trung tâm đô thị trọng yếu và trù phú. Nhưng chắc chắn, việc trở thành kinh đô là một bước ngoặt lớn trong lịch sử quy tụ nhân tài, quy tụ tinh hoa bốn phương của Thăng Long - Hà Nội. Bản thân các triều đình quân chủ cũng luôn luôn có nhu cầu rất lớn đối với đội ngũ thợ thủ công, các nhà kiến trúc, điêu khắc, xây dựng tài hoa để xây dựng kinh thành, các cung diện, chùa chiền, đền miếu và đặc biệt là sản xuất các vật dụng theo yêu cầu của vua quan, binh lính trong hoàng thành.

Để đáp ứng nhu cầu của kinh thành, các triều đình đều duy trì chế độ “công tượng” với những hình thức khác nhau. Thông thường, triều đình “sức” cho quan cai trị các địa phương tìm những người thợ khỏe mạnh, có tay nghề cao, nhất là các thợ cả rồi mời/bắt họ đem đến kinh đô. Ở đó họ sẽ được tổ chức thành những đội, nhóm làm việc phục vụ cho triều đình, từ các công việc xây dựng, trang trí các cung điện, phủ đệ, đền miếu vv cho tới sản xuất những vật phẩm là “ngự dụng” của vua, hoàng tộc và đồ dùng của các gia đình quan lại, quyền quý.

Có những người thợ đi phục vụ triều đình theo chế độ “công tượng” một thời gian rồi quay trở về quê cũ, nhưng cũng có những người, những nhóm thợ ở lại kinh đô, bên ngoài hoàng thành. Họ tụ họp nhau lại cùng sản xuất những vật phẩm mà họ đã quen tác tạo để bán cho dân chúng ở kinh thành và các lái buôn xa gần. Họ chính là những người tiên phong, “cắm chốt”, làm điểm tựa để những cá nhân, hộ gia đình cùng làng quê với họ tìm đến, lập nên những “chi nhánh” mới của làng nghề, tạo nên những phố nghề ở Thăng Long.

Khi kinh thành là nơi dồi dào hàng hóa thì sẽ tạo nên sức hút thương lái gần xa tới, và chính việc họ tạo nên hệ thống giao thương kết nối Thăng Long với những thị trường, những trung tâm sản xuất và buôn bán khác, đến lượt nó, lại kéo thêm nhiều làng nghề ở khắp các vùng miền đến Thăng Long lập cơ sở sản xuất và buôn bán. Cứ thế, Thăng Long trở thành nơi quy tụ trăm hay ngàn khéo của cả nước và thậm chí của cả những khu vực và quốc gia gần xa. Một hình thái kết nối giữa làng - với phố, phố với làng ngày càng thêm bền chặt như một cơ chế sinh tồn và vận hành của hai không gian sản xuất - không gian sáng tạo làng nghề và phố nghề.

Trong thời kỳ tiền cận đại, giai đoạn hưng thịnh nhất của hoạt động sản xuất và buôn bán hàng hóa chắc chắn là vào khoảng thế kỷ XVII - XVIII, khi kinh đô Thăng Long được kết nối với hệ thống thương mại toàn cầu trong “kỷ nguyên thương” (“Age of Commerce” - chữ dùng của Anthony Reid)17, khi mà Thăng Long - Kẻ Chợ đã nổi tiếng trong câu ngạn ngữ th nht Kinh K, th nhì Ph Hiến.

Mặc dù đóng vai trò rất quan trọng về nhiều phương diện, nhưng trong cấu trúc xã hội “tứ dân” truyền thống ở Việt Nam, địa vị những người thợ thủ công và những người làm nghề buôn bán không cao. Dù tài hoa và giàu có đến đâu họ cũng chỉ đứng thứ ba và thứ tư trong thang bậc sĩ - nông - công - thương. Vì thế, sách sử thơ văn ngày xưa rất ít khi ghi chép hay tôn vinh những nhân tài thuộc nhóm này. Tuy nhiên, trong xã hội, họ tự khẳng định vị thế của mình bằng sự ưu trội trong kỹ năng nghề nghiệp: “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”; “của bề bề không bằng nghề trong ta” còn cộng đồng, dân gian lại có cách tri ân và tôn vinh những bậc nhân tài này theo cách riêng của mình: tôn vinh và thờ phụng tổ nghề.

Trên vùng đất Hà Nội ngày nay có hàng trăm vị tổ nghề được các làng nghề và các phố nghề thờ phụng. Riêng trong khu vực phố cũ - phố cổ Hà Nội đã ghi nhận còn đang tồn tại 14 nơi thờ phụng các vị tổ nghề18. Đây chính là cách các tài năng trong lĩnh vực sản xuất thủ công nghiệp và kinh doanh buôn bán được chính quyền và nhân dân Thăng Long - Hà Nội trọng dụng, tôn vinh.

Nhóm nhân tài th tư t hi vùng đt Thăng Long - Ni xưa chính là nhóm văn nhân - tài t, ngh sĩ tài hoa.

Cho đến nay chưa có công trình nào chuyên khảo cứu về đội ngũ này, nhưng những gì được phản ánh tản mát trong nhiều nguồn tài liệu thì đều cho thấy họ đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống thành phố với những đóng góp rất đặc biệt.

Người nổi tiếng bậc nhất trong nhóm nhân tài này, là một trong 6 người Việt Nam được UNESCO vinh danh là danh nhân văn hóa, chính là nữ sĩ Hồ Xuân Hương, người sống ở Thăng Long vào khoảng cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX19. Xuất thân trong một gia đình giàu truyền thống Nho học gốc ở làng Quỳnh Đôi, tỉnh Nghệ An, cuộc đời bà trải lắm truân chuyên, ngang trái. Nhưng những sóng gió cuộc đời lại càng khiến cho người phụ nữ tài hoa xuất chúng đó hiểu thấu hơn muôn lẽ nhân tình thế thái và càng làm cho tài năng của bà thêm tỏa sáng.

Ngay cạnh Hồ Tây (Thăng Long), bà lập ra C Nguyt Đưng - một hình thức giống như “câu lạc bộ” văn nhân - tài tử, tụ hội bạn hữu bốn phương để cùng giao lưu thơ phú, chia sẻ tâm tư. Chưa có ai từng nghiên cứu để khôi phục diện mạo của Cổ Nguyệt Đường và những hội quán tương tự, nhưng chắc chắn ở Thăng Long xưa, cũng như các trung tâm văn hóa khác, đây hẳn là những không gian sáng tạo không gian văn hóa rất đặc sắc. Cổ Nguyệt Đường do Hồ Xuân Hương làm chủ đã ghi nhận nhiều danh sĩ thường lui tới giao lưu, trong đó có Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ, Phạm Quý Thích, Nguyễn Hầu, Cự Đình...

Đương nhiên, trên vùng đất đô hội “nghìn năm văn vật” như Thăng Long - Hà Nội thì trước và sau Hồ Xuân Hương còn biết bao nhiêu bậc kỳ tài, kỳ nhân, dị sĩ, nhưng mà tên tuổi, hành trạng của họ hầu như hoàn toàn vắng bóng trong các bộ thư tịch, sử ký và cả trên các văn bia do kết quả của những cái nhìn nặng tính kỳ thị với những gì bị coi là “phi chính thống” của những triều đình và của cả giới trí thức Nho - Phật - Lão trước kia. Thậm chí một bộ phận nghệ nhân tài hoa thuộc lĩnh vực âm nhạc, ca hát, sân khấu còn bị coi là hạng “xướng ca vô loài”, bị đặt ra bên lề của xã hội “tứ dân”.

Mặc dù vậy, nhiều nguồn thông tin cho biết ở kinh thành Thăng Long và các vùng phụ cận có rất nhiều gánh hát, “phường trò”. Bên cạnh việc phục vụ nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân thì họ cũng thường biểu diễn theo yêu cầu phục vụ của triều đình và các phủ đệ của vương thất, quan lại, cho dù triều đình cũng có riêng những đội ngũ nhạc công và vũ công phục vụ riêng cho các nghi lễ của hoàng cung. Sử cũ còn ghi nhiều dịp mừng thọ vua hoặc các thành viên cao cấp của hoàng tộc, triều đình cho dựng núi giả, gọi là Nam Sơn hoặc Vạn Tuế Nam Sơn, đào sông, hồ giả rồi cho mời gọi các phường trò vào biểu diễn góp vui20.

Nhiều môn nghệ thuật biểu diễn đã ra đời từ sớm và đóng vai trò quan trọng trong đời sống của kinh thành, từ hoàng cung cho tới khu phố thị và trong các làng xã. Chẳng hạn, môn hát Chèo, tương truyền đã ra đời từ thời nhà Đinh mà bà tổ nghề chính là Phạm Thị Trân quê gốc ở Hồng Châu (Hải Dương ngày nay). Chính nhà vua đã mời bà đến kinh đô Hoa Lư, nhờ bà dạy cho quân lính múa hát để giải trí, tăng thêm sức mạnh tinh thần21. Từ sau khi kinh đô được dời về Đại La, nghệ thuật hát Chèo ngày càng phát triển và bốn Chiếng Chèo đã hình thành ở các vùng phụ cận kinh thành: Chèo Đông, Chèo Đoài, Chèo Nam, Chèo Bc. Tương truyền, từ thế kỷ XVI, Hoàng đế Lê Thánh Tông đã chính thức cho tổ chức biểu diễn Chèo ở trong cung điện.

Cùng với Chèo, Ca trù (còn gọi là hát Ả đào, hát Nhà tơ, hát Cô đầu) cũng ra đời từ sớm, [22] đến thế kỷ XV thì đã trở thành một môn nghệ thuật biểu diễn rất được hâm mộ ở cả trong dân gian và trong cung đình. Một nét truyền thống độc đáo của Ca trù là: nhiều Nho sĩ nổi tiếng đã say mê loại hình ca hát này và chính họ đã tham gia viết nên những bài Ca trù hay, được lưu truyền qua nhiều thế kỷ23. Có thể thấy, trong thời đại quân chủ độc lập, kinh đô Thăng Long đã thực sự là nơi quy tụ nhân tài, tiêu biểu nhất cho trí tuệ, tài năng và toàn bộ nền văn hiến Đại Việt.

Trong nhiều nghiên cứu trước đây người ta thường chỉ nhấn mạnh vai trò và những đóng góp của hai nhóm nhân tài là trí thức - quan lại và nhân tài quân sự. Kết quả khảo sát lịch sử Thăng Long nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung cũng xác nhận thực tế lịch sử, rằng hai nhóm nhân tài nói trên là hai nhóm đông đảo nhất về số lượng, đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình kiến tạo nên nền văn hiến Thăng Long - Hà Nội, cũng như trong quá trình dựng nước và giữ nước nói chung. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là ở Thăng Long - Hà Nội trong thời đại quân chủ - độc lập chỉ có hai nhóm nhân tài nói trên.

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng cùng với hai nhóm trên thì ở kinh đô Thăng Long còn có ít nhất hai nhóm nhân tài khác cũng khá đông đảo và có vai trò quan trọng với những đóng góp rất to lớn và có ý nghĩa và việc kiến tạo nên đời sống văn hóa sôi động, phong phú, đậm chất kinh kỳ. Đó là nhóm những nghệ nhân - thợ thủ công tài hoa và những doanh nhân tài giỏi và nhóm nhân tài là những văn nhân - tài tử, nghệ sĩ tài hoa. Theo cách riêng của mình, mỗi nhóm này đều đóng vai trò vô cùng quan trọng và có đóng góp rất to lớn vào sự phát triển của thành phố trong suốt chiều dài lịch sử gần 900 năm. Chính họ đã góp phần quyết định kiến tạo nên bản sắc văn hóa - văn hiến của đất Thăng Long - Hà Nội truyền thống.

Phải hiểu đúng cấu trúc đội ngũ nhân tài quy tụ trên đất kinh đô Thăng Long trong suốt gần 9 thế kỷ của thời đại quân chủ độc lập, chúng ta mới có cơ sở khoa học và thực tiễn đầy đủ hơn, vững chắc hơn cho chiến lược phát triển bền vững của Thủ đô Hà Nội ngày nay trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.

Nhân tài hội tụ trên đất Hà Nội thời cận đại

Hà Nội rơi vào tay thực dân Pháp ngày 25-4-1882, sau khi nỗ lực phòng thủ kiên cường của Tổng đốc Hoàng Diệu và binh sĩ nhà Nguyễn bị thất bại. Hai năm sau, ngày 6-6-1884 triều đình Huế ký hiệp ước Patenôtre chấp nhận đặt toàn bộ đất nước dưới quyền thống trị của thực dân Pháp. Ngày 19-7-1888, Tổng thống Pháp Marie François Sadi Carnot ra sắc lệnh thành lập Thành phố Hà Nội. Sau đó, ngày 01 tháng 10 năm 1888, Hoàng đế Đồng Khánh ban đạo Dụ hợp thức hóa sắc lệnh nói trên của Tổng thống Pháp, tuyên bố cắt toàn bộ huyện Thọ Xương và một phần huyện Vĩnh Thuận của tỉnh Hà Nội làm nhượng địa để người Pháp lập thành phố. Đến năm 1902, Hà Nội trở thành thủ phủ của toàn bộ Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Phải đến tận tháng 7 năm 1945, Hà Nội mới được quân đội Nhật Bản trao trả lại cho Việt Nam Đế quốc dưới thời của Hoàng đế Bảo Đại và Nội các Trần Trọng Kim.

Việc Hà Nội bị trở thành một thành phố nhượng địa là hậu quả trực tiếp và nhục nhã của họa mất nước của dân tộc Việt Nam hồi nửa sau thế kỷ XIX, nhưng việc Hà Nội trở thành thủ phủ của Liên bang Đông Dương lại là một cơ hội mới trong lịch sử phát triển của thành phố. Trong thời cận đại diện mạo, cấu trúc, công năng, đời sống, tính chất và vai trò của của Hà Nội đã hoàn toàn thay đổi24. Với vị thế đặc biệt của mình, Hà Nội vẫn tiếp tục là nơi hội tụ nhân tài - trí tuệ của cả nước, nhưng cấu trúc và tính chất của đội ngũ nhân tài này đã khác nhiều so với thời kỳ trước.

Nhóm nhân tài đông đo nht, có nh hưng sâu rng nht đi vi đi sng dân tc nói chung và đi sng Hà Ni nói riêng chính là nhóm nhân tài - trí thc.

Từ góc nhìn lịch sử, có thể thấy Hà Nội thời cận đại từng là nơi quy tụ của hai nhóm trí thức lớn, ở hai giai đoạn lịch sử khác nhau. Đầu thời kỳ cận đại, khoảng từ 1884 cho tới 1918, Hà Nội là nơi quy tụ đông đảo nhất trí thức Nho học, và trong giai đoạn ngắn ngủi, từ khoảng 1905 đến 1908, nhân tài - trí thức Nho học cấp tiến. Hoạt động tiêu biểu nhất của nhóm này đã làm rung chuyển cả xứ thuộc địa Đông Dương và tạo nên một biểu tượng sáng ngời trong lịch sử dân tộc, đó chính là Trưng Đông Kinh nghĩa thc năm 190725.

T sau Chiến tranh thế gii th I đến tháng 8 năm 1945 Hà Ni là nơi sn sinh ra và quy t đông đo đi ngũ nhân tài - trí thc Vit Nam mi, thưng gi là lp Trí thc tân hc đ phân bit vi đi ngũ trí thc cu hc truyn thng, hoc h cũng đưc gi là đi ngũ trí thc Tây hc do tính cht ca nn hc vn mà h đưc th hưng, khác vi đi ngũ trí thc Nho hc trưc kia.

Xét v ngun gc, phần lớn họ là sản phẩm của hệ thống giáo dục thuộc địa do người Pháp lập ra ở Việt Nam. Ở Hà Nội, nổi tiếng nhất là Đi hc Đông Dương được thành lập theo Nghị định số 1514a ngày 16-5-1906 của Toàn quyền Paul Beau26. Đây là cơ sở giáo dục đại học theo mô hình phương Tây đầu tiên được thành lập ở Việt Nam. Sau một thời gian khó khăn ban đầu, từ năm 1917 trường hoạt động liên tục và đã đào tạo được hàng nghìn người ở trình độ đại học thuộc các lĩnh vực khoa học cơ bản, sư phạm, canh nông, xây dựng, kiến trúc, thương mại, y học, hội họa... Một nguồn thông tin cho biết, trong khoảng thời gian từ năm 1920 đến năm 1924 tổng số sinh viên của Đại học Đông Dương hằng năm dao động từ 433 đến 492 người.

Tuy nhiên, đến thời kỳ 1939-1944, số sinh viên tăng lên rất nhanh, dao động từ 688 đến 981, riêng năm học 1943-1944 số sinh viên tăng lên tới 1.111 người27. Như vậy, tổng số sinh viên được đào tạo ở cơ sở này trong thời gian từ 1906 đến 1945 ước tính ít nhất cũng phải đạt con số khoảng từ 10.000 đến 15.000 người - một con số tương đối lớn đối với một xứ thuộc địa có tổng dân số khoảng 25 triệu người.

Các thế hệ sinh viên tốt nghiệp Đại học Đông Dương, cùng với khoảng mấy trăm người khác được đào tạo từ các trường đại học ở Pháp và các nước khác đã tạo nên cơ sở đầu tiên của đội ngũ trí thức Việt Nam hiện đại. Trong số sinh viên của Đại học Đông Dương có rất nhiều người về sau đã trở thành những nhà lãnh đạo xuất sắc, nhà khoa học nổi tiếng và những văn nghệ sĩ tài hoa, có ảnh hưởng to lớn trong lịch sử dân tộc.

Tiêu biểu như Nguyễn Thái học, Phạm Tuấn Lâm, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn An Ninh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hòe, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Đặng Thai Mai, Dương Quảng Hàm, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Phan Chánh, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Đỗ Cung, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Hoàng Minh Giám, Dương Đức Hiền...

Cùng với Đại học Đông Dương, Trường Trung học Bảo hộ (Collège du Protectorat, còn gọi là Trường Bưởi, thành lập năm 1908) và một số ngôi trường khác như Trường Nữ học An Nam (Trường Đồng Khánh, thành lập năm 1917), Trương tư thục Thăng Long (thành lập năm 1929) vv cũng là những cái nôi quy tụ nhân tài với đội ngũ giáo viên và học sinh rất nổi tiếng.

Một nét khác biệt lớn giữa Hà Nội cận đại so với Thăng Long - Hà Nội thời kỳ truyền thống là sự xuất hiện của báo chí - xuất bản đã biến đô thị này thành một trung tâm văn hóa - thông tin lớn nhất xứ sở, không thua kém Sài Gòn ở phía Nam. Ngay từ đầu thế kỷ XX, Đăng cổ tùng báo đã trở thành một tờ báo có uy tín. Về sau đã xuất hiện ở Hà Nội một số cơ quan báo chí xuất bản là nơi thực sự quy tụ nhân tài - trí thức với ảnh hưởng mạnh mẽ trong toàn xứ.

Trước hết phải kể đến hai tờ tạp chí là Đông Dương tp chí (1913-1919) và Nam Phong tp chí (1917-1934). Đây là hai cơ quan báo chí quy tụ nhiều nhà trí thức nổi tiếng nhất như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Dương Bá Trạc, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Tố, Tản Đà, Phan Kế Bính... Mặc dù giữ lập trường chính trị thân chính quyền thuộc địa, những đóng góp của họ trên phương diện văn hóa và học thuật là rất đáng ghi nhận.

Tiếp theo phải kể đến nhóm trí thức - nhân tài quy tụ xung quanh hai tờ báo Phong Hóa (1932-1936) và Ngày Nay (1935-1940) với hạt nhân là nhóm T lc văn đoàn bao gồm những nhà văn, nhà báo nổi tiếng như Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo, Tứ Ly), Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), Trần Khánh Giư (Khái Hưng, Nhị Linh), Hồ Trọng Hiếu (Tú Mỡ), Nguyễn Gia Trí và Nguyễn Thứ Lễ (Thế Lữ, Lê Ta). Về sau, khoảng từ năm 1936, Tự lực văn đoàn có thêm thành viên mới là nhà thơ Ngô Xuân Diệu (Xuân Diệu).

Cùng thời với nhóm Phong hóa - Ngày nay, Tiu thuyết th by cũng là nhóm nhà báo - nhà văn rất có ảnh hưởng với những tác giả nổi tiếng như Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Triệu Luật, Ngọc Giao, Thanh Châu… Sau một thời gian nhiều cây bút trẻ xuất sắc là Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,… cũng gia nhập vào nhóm này. Linh hồn của nhóm này chính là Vũ Đình Long, nhà văn, giám đốc Nhà xuất bản Tân Dân.

Trong thời kỳ cận đại, nếu như Đăng C tùng báo (1907) và Nam Đng Thư(1925 - 1927) cũng đã từng là nơi quy tụ trong một thời gian ngắn các trí thức yêu nước, thì sau này hiện tượng đó lại tái sinh trong một giai đoạn khá ngắn ngủi, nhưng rất sôi nổi, từ khoảng tháng 9-1936 đến tháng 9-1939. Do chính sách khá cởi mở của Chính phủ bình dân Pháp mà ở Đông Dương các chiến sĩ yêu nước và cộng sản có thể xuất bản báo chí công khai. Ngay lập tức một số cơ quan báo chí, xuất bản khi bằng tiếng Pháp, khi bằng tiếng Việt, đã xuất hiện ở Hà Nội và trở thành nơi quy tụ các trí thức yêu nước và cách mạng, thậm chí còn trở thành cơ quan chỉ đạo của phong trào quần chúng sục sôi ở toàn Bắc Kỳ.

Tiêu biểu nhất là các tòa báo Le Travail (Lao động)28 với trụ sở đặt tại nhà số 24 phố Phạm Phú Thứ (nay là phố Nguyễn Quang Bích). Quy tụ xung quanh tòa soạn báo này là các cán bộ - trí thức xuất sắc của Đảng Cộng sản Đông Dương như Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Đặng Châu Tuệ, Tống Phúc Chiến, Khuất Duy Tiến, Nguyễn Văn Minh… Tiếp đó là tờ báo Tin tc rất nổi tiếng29. Tòa soạn báo đặt ở nhà số 105 phố Henri d’Orléan (nay là phố Phùng Hưng), ngay giữa trung tâm Hà Nội, là nơi quy tụ đông đảo các cán bộ xuất sắc của Đảng đang hoạt động công khai ở Bắc Kỳ khi đó, như Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Trần Đình Long, Trần Huy Liệu, Đào Duy Kỳ, Trần Đình Tri, Trần Đức Sắc (Văn Tân), Khuất Duy Tiến, Nguyễn Thượng Khanh, Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam)…

Nhóm nhân tài th hai quy t Ni chính là nhóm trí thc - nhà khoa hc đa quc tch, trong đó đông đo nht là các nhà khoa hc và ngh sĩ tài ba ngưi Pháp. Nhiều người trong số họ làm việc tại các cơ sở nghiên cứu khoa học. Tiêu biểu nhất là Viện Viễn Đông bác cổ (École française d'Extrême-Orient - EFEO) được thành lập năm 1900 ở Sài Gòn, đến năm 1902 thì dời ra Hà Nội. Đây chính là nơi khai sinh ra ngành khảo cổ học ở Việt Nam với những phát hiện đặc biệt có ý nghĩa về thời đại đồ đá (núi Đọ, văn hóa Hòa Bình,…) và thời đại kim khí (đặc biệt là Văn hóa Đông Sơn) trong lịch sử Việt Nam. EFEO cũng là nơi khai sinh ra ngành Đông phương học với nhiều nhà khoa học nổi tiếng như Madelaine Colani, Paul Pelliot, Henri Maspero, Paul Demiéville, Louis Finot, George Cœdès, Henri Parmentier và Paul Mus...

Nhiều nhà khoa học Pháp đã tham gia giảng dạy tại Đại học Đông Dương, trong đó có những người rất nổi tiếng như họa sĩ Victor Tardieu, nhà vi trùng học nổi tiếng thế giới Alecxandre Yersin, nhà sử học Maybon vv. Có những người phục vụ cho các cơ quan nghiên cứu - quản lý và các công trình của họ cũng rất nổi tiếng, như Pierre Gourou, Paul Bernard...

Dù có thể đến làm việc và khảo cứu ở Việt Nam với lập trường “khai hóa văn minh”, nhưng sự tụ hội của nhóm nhân tài - trí thức này là một nét đặc sắc của Hà Nội cận đại, và những đóng góp của họ thực sự có vai trò quan trọng và có ý nghĩa rất to lớn.

Nhóm nhân tài th ba t hp Ni thi cn đi chính là nhóm doanh nhân - nhng nhà tư sn dân tc. Họ là những người đã mạnh dạn tham gia vào vòng quay của nền kinh tế thuộc địa với những định chế của kinh tế thị trường - một môi trường kinh doanh không hề có trong xã hội Việt Nam truyền thống. Trong thế bất lợi về nhiều mặt, họ vừa phải cạnh tranh với các đối thủ người Pháp, người Hoa, người Ấn Độ,… vừa phải cạnh tranh với nhau. Trong bối cảnh đó, nhiều người đã trưởng thành và tự khẳng định được sự thành đạt của họ. Những tên tuổi doanh nhân còn lưu mãi ở Hà Nội cận đại là cô Tư Hồng (Trần Thị Lan), Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Hữu Thu, Trịnh Văn Bính, Đỗ Đình Thiện... Họ không chỉ là những doanh nhân thành công trong kinh doanh, nhiều người khi có điều kiện đã tích cực tham gia và có đóng góp lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Bài học lịch sử có giá trị ứng dụng cho chiến lược thu hút nhân tài của Hà Nội trong kỷ nguyên mới

Lịch sử của Thăng Long - Hà Nội khi được quán chiếu lại theo hướng thu hút và trọng dụng nhân tài đã mang lại cho chúng ta những nhận thức và bài học có giá trị ứng dụng cao trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Bài hc th nht là: do v thế ca mình, Thăng Long - Hà Ni luôn luôn là nơi qun t nhân tài.

Nghiên cứu này đã chỉ ra rất rõ ràng, rằng trong suốt hơn 1.000 năm lịch sử, vùng đất Thăng Long - Hà Nội luôn luôn là nơi tụ hội nhân tài của nước Đại Việt - Việt Nam. Điều này trước hết là do vị thế của vùng đất với tính cách là thủ phủ của quốc gia, vừa là trung tâm chính trị, lại cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa của cả nước. Nhu cầu khách quan đối với nhân tài trước hết bắt nguồn từ các thể chế chính trị, dù đó là nhà nước quân chủ độc lập hay có những khi vùng đất này được các thế lực ngoại bang chọn đặt trị sở, thì vị thế trung tâm - đầu não chính trị cũng là nguyên nhân tạo ra nhu cầu to lớn đối với việc sử dụng nhân tài.

Tuy nhiên, vị thế thủ phủ quốc gia cũng tạo ra nhu cầu không nhỏ đối với nhân tài trong các lĩnh vực kinh tế, kinh doanh, vui chơi giải trí, tôn giáo và văn hóa. Nhờ thế mà nhiều nhân tài thuộc các lĩnh vực này cũng được thu hút về Thăng Long - Hà Nội. Hơn nữa, chính đời sống của cư dân ở vùng đất này cũng dần dần tạo thêm những nhu cầu đối với cả bốn nhóm nhân tài nói trên. Trong đó, nhu cầu lớn nhất lại trái ngược với nhu cầu của nhà nước: trọng số trước hết rơi vào nhóm nhân tài kinh tế - kinh doanh, nghệ sĩ, nghệ nhân rồi mới đến nhóm trí thức quan phương và quân sự.

Một thực tế lịch sử cần lưu ý là: ngay từ sớm và xuyên suốt chiều dài lịch sử, nhân tài được thu hút đến Thăng Long - Hà Nội không chỉ có người có nguồn gốc Việt Nam mà còn có nhiều người đến từ phương xa, là người ngoại quốc, ngoại tộc. Đây cũng là một nét đặc trưng của các trung tâm tụ hội nhân tài khác trên thế giới. Nhưng dù có nguồn gốc thế nào thì tài năng của họ cũng đáng trân trọng và việc họ có đóng góp được tích cực cho đất nước nói chung và Hà Nội nói riêng hay không phụ thuộc một phần lớn vào bản thân đức hạnh của họ, nhưng cũng phụ thuộc vào chính sách và thái độ của nhà nước và nhân dân Hà Nội đối với họ.

Bài hc th hai là: du nhân tài luôn luôn qun t Thăng Long - Ni, nhưng không phi lúc nào vai trò ca đi ngũ đó cũng đưc phát huy tt đ h thc s có nhng đóng góp xng tm và hu ích cho s phát trin ca Th đô và đt nưc.

Mức độ ứng dụng tài năng của nhóm nhân tài đông đảo nhất là trí thức chủ yếu là giúp cho các thể chế cầm quyền trị nước, an dân, chống giặc ngoại xâm và đảm bảo an toàn cho chế độ. Ngay cả đội ngũ nhân tài khá khiêm tốn trong các lĩnh vực kinh tế, kinh doanh và văn hóa được thu hút đến kinh thành cũng trước hết nhằm phục vụ triều đình và thỏa mãn những nhu cầu của giới quan lại ở kinh kỳ. Chính vì vậy, những đóng góp của đội ngũ nhân tài, nhất là nhóm trí thức và quân sự vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô thường không cao và thực tế là kém hiệu quả.

Bài học này đặc biệt có giá trị đối với Hà Nội ngày nay. Phải đổi mới triệt để quan niệm về “nhân tài”. Không nên tiếp tục kéo dài thêm nữa quan niệm sai lầm của quá khứ quá chỉ nhất mực đề cao tầng lớp nhân tài - “kẻ sĩ”, những kẻ vốn cố tu luyện thành tài để thoát ly cuộc sống, nhất là cuộc sống sản xuất, để làm quan “vinh thân phì gia”, hoặc chui vào các loại “tháp ngà” của thi ca ngâm vịnh hay học thuật hàn lâm. Phải quan niệm đầy đủ, thực tiễn hơn, thực chứng hơn về nhân tài. Có như thế mới có thể thu hút được những nhân tài thực sự cần cho Hà Nội, có thể đóng góp có hiệu quả vào sự phát triển nhanh và bền vững của Thủ đô trong kỷ nguyên mới.

Bài hc th ba là đ phát huy tt vai trò ca đi ngũ nhân tài quy t trên đt Thăng Long - Ni thì vic quan trng nht là phi làm rõ nhu cu phát trin ca Th đô đang cn thiết nhng loi hình nhân tài nào, trên cơ s đó to điu kin đ nhân tài cng hiến tài năng ca h mt cách phù hp nht.

Trong mỗi thời kỳ lịch sử đất nước và Thủ đô chắc chắn có nhu cầu khác nhau đối với từng nhóm, từng loại nhân tài - xét về lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp và xét cả về tầm vóc của nhân tài. Chẳng hạn, trong thời kỳ chiến tranh, đất nước và Hà Nội chắc chắn cần nhiều nhân tài trong lĩnh vực quân sự hơn, nhưng trong các thời kỳ hòa bình thì nhu cầu đối với đội ngũ nhân tài trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lãnh đạo, quản lý và văn hóa nghệ thuật sẽ lớn hơn. Vì vậy, điều tối quan trọng đối với Hà Nội ngày nay là phải xây dựng được chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên mới, trong đó có chiến lược phát triển nhân tài. Chiến lược này trước hết phải chỉ ra được nhu cầu thực tế của Hà Nội đối với đội ngũ nhân tài cần có, cả về cấu trúc nghề nghiệp, chuyên môn và chất lượng, tầm vóc của họ. Không có một chiến lược khoa học để phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nhân tài nói riêng thì mọi giải pháp thu hút, trọng dụng nhân tài đều thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn cho nên chắc chắn không đạt được kết quả như mong đợi.

Bài hc th tư là có nhng hình thc đãi ng và tôn vinh phù hp đi vi nhng đóng góp ca nhân tài.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy cha ông ta đã có nhiều hình thức để tôn vinh nhân tài và những đóng góp của họ: trao cho những danh hiệu cao quý (ban tước, ban quốc tính…), thông qua những nghi lễ đặc biệt để tôn vinh (lễ xướng danh, ghi tên bảng vàng, khắc tên vào bia đá để lưu danh, vinh quy bái tổ…), khen thưởng khi còn sống và sức cho dân thờ làm thành hoàng sau khi họ đã chết, truy phong bằng các đạo “sắc” của Hoàng đế, phong làm “phúc thần”, “thượng đẳng phúc thần”...

Nhân tài, nhất là những người có đóng góp đặc biệt cũng được nhà nước quân chủ và cộng đồng dành cho những chế độ đãi ngộ đặc biệt, cả về vật chất (thưởng lụa, vàng hoặc kỷ vật quý, cấp ruộng, cấp lương bổng cao…) và tinh thần (thông qua chế độ tôn vinh).

Trong thời gian gần đây, Hà Nội và một số địa phương khác cũng có chính sách thu hút và đãi ngộ đặc biệt nhằm thu hút nhân tài. Về tôn vinh, có hoạt động tuyên dương, ghi tên vào sổ vàng các thủ khoa đại học, tặng các bằng khen và các danh hiệu đặc biệt, như “Công dân ưu tú của Thủ đô”, đặt tên cho các con phố bằng tên các danh nhân... Về đãi ng, nhiều tỉnh đã công bố mức tiền đãi ngộ một lần khi các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ được thu hút về địa phương làm việc, từ vài trăm triệu đồng đến vài tỉ đồng. Có địa phương còn cấp đất ở hoặc nhà ở như một khoản đãi ngộ vật chất nữa.

Tuy nhiên, hầu như các hình thức tôn vinh và đãi ngộ này đều không phát huy được tác động tích cực. Số nhân tài mà Hà Nội và các địa phương thu hút được không nhiều và cũng chưa chứng tỏ được tài năng của họ bằng những đóng góp thiết thực, nổi bật vào sự phát triển của Hà Nội và các địa phương.

Rõ ràng là cần phải nghiên cứu, đổi mới chính sách tôn vinh, đãi ngộ nhân tài cho phù hợp thì mới có thể thu hút được và phát huy được vai trò của nhân tài trong sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới.

Giải pháp

Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu ở đây, chúng tôi xin gợi ý cho lãnh đạo Thành phố Hà Nội một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chiến lược phát triển nguồn nhân lực nói chung và chiến lược phát triển nhân tài nói riêng của Thủ đô trong kỷ nguyên mới.

Về nhận thức, cần phải đổi mới căn bản nhận thức về nhân tài trong kỷ nguyên mới

Bước vào kỷ nguyên mới, cần phải đổi mới căn bản nhận thức về nhân tài. Dân tộc Việt Nam tham gia ngày càng sâu sắc và toàn diện hơn vào quá trình toàn cầu hóa và buộc phải vượt lên trong cuộc cạnh tranh toàn cầu để làm chủ những tiến bộ về khoa học và công nghệ. Bn cht ca cuc cnh tranh đó chính là cnh tranh v tc đ đi mi tri thc khoa hc cơ bn và tc đ rút ngn vòng đi công ngh. Nếu thất bại trong cuộc cạnh tranh này, Việt Nam sẽ bị tụt hậu ngày càng xa về khoảng cách trình độ phát triển, sẽ trở thành thuộc địa văn hóa của ngoại bang và thành “bãi rác của khoa học công nghệ và luôn luôn tụt hậu” - như nhận định của Tổng Bí thư Tô Lâm30. Yếu tố cốt lõi để đảm bảo thắng lợi trong cuộc cạnh tranh khốc liệt đó chính là yếu tố con người, đặc biệt là nhân tài.

vy, trong nhn thc v nhân tài, cn phi đc bit nhn mnh rng: trong k nguyên vươn mình, dân tc Vit Nam nói chung và Th đô Hà Ni nói riêng cn nht, cp bách nht là đi ngũ nhân tài đnh cao v khoa hc - công ngh đi mi sáng to. Đây là nhóm nhân tài cn ưu tiên tuyt đi đ phát trin, trưc tt c các nhóm nhân tài khác. Đây cũng là tinh thần cốt lõi của Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024, của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Nhóm nhân tài đỉnh cao về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo này bao gồm ít nhất có 4 nhóm nhỏ hơn, là: 1) Nhân tài đnh cao v khoa hc cơ bn, bao gồm cả trong KHXH&NV và KHTN. Nhóm này trước mắt chưa cần đông đảo, nhưng phải thực sự tài năng để tham gia vào cuộc đối thoại tri thức toàn cầu, đủ sức dẫn đạo cuộc cạnh tranh của giới khoa học Việt Nam trong cuộc chạy đua đổi mới tri thức khoa học cơ bản trên tầm mức toàn cầu; 2) Nhóm nhân tài đnh cao v các lĩnh vc công ngh mi. Nhóm này cần không những tài giỏi mà còn phải đông đảo cả về đội ngũ, đủ sức làm chủ và tiên phong sáng tạo công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ nguồn trong các lĩnh vực phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; 3) Nhóm nhân tài đnh cao trong lĩnh vc công nghip văn hóa và sáng to. Đây là nhóm nhân tài đặc biệt cần kíp để Hà Nội có thể triển khai thành công chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa và sáng tạo theo Nghị quyết số 09 của Thành ủy và Kế hoạch 217 của UBND Thành phố đã được ban hành trong những năm vừa qua; và 4) Nhóm nhân tài đnh cao trong lĩnh vc qun tr phát trin bn vng đô th hin đi. Thế giới ngày nay đang xuất hiện những xu hướng phát triển đô thị bền vững có tầm ảnh hưởng toàn cầu, có thể giúp cho Hà Nội hội nhập và cất cánh thành công trong kỷ nguyên mới, giải quyết được hiệu quả, bền vững những vấn đề nan giải hiện nay. Đây cũng là một nhóm nhân tài đỉnh cao cực kỳ cần thiết đối với Hà Nội.

Đc bit, cn phi quán trit sâu sc nguyên tc: phát hin, đào to và trng dng nhân tài phc v s nghip phát trin bn vng ca Th đô là trách nhim ca toàn Đng, toàn dân c nưc, nhưng trưc hết đó là trách nhim ca chính quyn thành ph Ni. Đây chính là quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trình bày rất rõ ràng trong bức thư ngỏ Tìm ngưi tài đc của Người, ngày 20-11-1946:

“Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhiều nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào, chắc không thiếu người có tài, có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa đổi điều đó và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra, nơi nào có người tài đức, có thể làm những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết. Báo cáo phải nói rõ tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó. Hạn trong một tháng các cơ quan, địa phương phải báo cáo cho đủ”31.

Cuối cùng, chính bn thân các cá nhân nhân tài, dù là người Việt Nam hay là người nước ngoài, dù đang làm việc ở Hà Nội hay ở nơi khác, muốn được trọng dụng để phát huy được tâm huyết và tài năng của mình, họ cn ch đng làm cho tài năng ca mình đưc bc l, đưc đánh giá, ghi nhn và đưc Hà Ni trng dng. Nếu vì bất kỳ lý do gì mà người tài không biết cách làm cho tài năng của mình được tỏa sáng và được đắc dụng, thì thực ra họ chưa thật sự là nhân tài.

Về chỉ đạo, trước hết cần xây dựng và triển khai có hiệu quả Chiến lược nhân tài của Thủ đô

Để có thể thu hút, phát triển bền vững và sử dụng có hiệu quả đội ngũ nhân tài phục vụ cho sự nghiệp phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới, điều quan trọng nhất cần làm là xây dựng cho Hà Nội một Chiến lưc phát trin nhân tài thực sự khoa học, khả thi. Thiếu một chiến lược như vậy thì mọi chính sách, giải pháp tôn vinh, thu hút trọng dụng nhân tài của Hà Nội đều bế tắc và không thể đạt được kết quả như mong đợi. Chiến lược phát triển nhân tài phải trở thành một cơ sở, một nội dung và một mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển chung của Thủ đô cũng như chiến lược phát triển bền vững của từng địa phương, ngành và lĩnh vực. Tiếp theo nó phải được thể chế hóa thành các văn bản chính sách có giá trị pháp lý, có hiệu lực điều hành thực tiễn, thường xuyên được theo dõi, giám sát, đánh giá và hiệu chỉnh cho phù hợp hơn với yêu cầu của thực tiễn.

Về thể chế, một “nút thắt” khác cũng cần được tháo gỡ, đó chính là giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa Trung ương với địa phương và phát huy tốt nhất vai trò của đội ngũ nhân tài hiện có ở Hà Nội

Với vị thế thủ phủ quốc gia, không ở đâu như trên đất Hà Nội tập trung nhiều cơ quan Trung ương và các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức thuộc Trung ương. Sự thật là phần lớn những nhân tài được quy tụ về Hà Nội, trong lịch sử cũng như hiện nay, là để phục vụ nhu cầu của các thiết chế Trung ương đó. Trong khi đó, đội ngũ nhân tài thực sự của Hà Nội, do Hà Nội và vì Hà Nội không đông đảo về số lượng và cũng không hẳn đều thuộc nhóm những nhân tài đỉnh cao ở tầm quốc gia, quốc tế.

Một trong những “điểm nghẽn” trong suốt hàng chục năm qua các cơ quan của Hà Nội và các cơ quan “trung ương” tìm các tháo gỡ mà chưa thành công, đó là thiết lập được cơ chế phù hợp để đội ngũ nhân tài tại chỗ, nhưng “thuộc trung ương” đem tài năng của họ cống hiến cho sự nghiệp phát triển của Thủ đô. Thực tế là hầu như hàng trăm trường đại học và viện nghiên cứu, trong đó có những cơ sở nghiên cứu và đào tạo danh tiếng nhất của cả nước, đang đứng chân trên đất Hà Nội, nhưng lại hầu như hoàn toàn đứng ngoài quá trình phát triển của Hà Nội. Rõ ràng vấn đề ở đây là xây dựng được những cơ chế, chính sách phù hợp để phát huy tốt nhất, hiệu quả nhất vai trò của đội ngũ nhân tài hiện có, đang đứng chân trên đất Hà Nội. Đây là việc cần làm trước khi tìm cách thu hút nhất tài ở nơi khác về Hà Nội.

Cần có cơ chế phù hợp để “giữ đầu” nhân tài cho Hà Nội

Một vấn đề thường xuyên được thảo luận khi bàn đến chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài ở Hà Nội là làm thế nào để “giữ chân” nhân tài. Thực tế là nhiều nhân tài, bao gồm cả nhiều thủ khoa đại học, đã lặng lẽ ra đi sau một thời gian làm việc ở Thủ đô. Tuy nhiên, việc nhân tài “dứt áo ra đi” không đáng lo ngại bằng hiện tượng “chảy máu chất xám tại chỗ”. Trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa ngày nay, với sự hỗ trợ của internet và các công nghệ cao khác, người ta hoàn toàn có thể ở một nơi mà tham gia vào thị trường lao động toàn cầu, cùng một lúc làm việc cho nhiều nơi, nhiều công ty, nhiều quốc gia. Và do vậy, quan trọng hơn là “giữ đầu” chứ không phải là “giữ chân” nhân tài; thu hút nhân tài bản chất là thu hút tài năng, tạo điều kiện để nhân tài ở khắp nơi trên thế giới đem tài năng của họ giúp cho việc giải quyết các vấn đề trong thực tiễn phát triển của Thủ đô Hà Nội.

Với cách tiếp cận này, chắc chắn chúng ta sẽ có tầm nhìn mới, chính sách mới, cơ chế mới để “giữ chân”, để “thu hút” nhân tài và tài năng của họ phục vụ cho sự phát triển bền vững của Hà Nội.

Phát huy tác động tích cực của cơ chế thị trường, thông qua “đặt hàng” nhiệm vụ để phát huy vai trò của nhân tài một cách thiết thực và hiệu quả hơn

Hiện nay cơ chế thị trường đang tác động lên và chi phối nhiều lĩnh vực trong đời sống đất nước ta, từ sản xuất đến lưu thông phân phối, từ kinh tế tới xã hội, văn hóa và khoa học công nghệ. Vì vậy, chúng ta cần phát huy cao độ các mặt tích cực, chủ động hạn chế những mặt tiêu cực trong thực tiễn triển khai Chiến lược nhân tài cho Hà Nội.

Một tác động tích cực quan trọng nhất của cơ chế thị trường là tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và công bằng về năng lực, chất lượng và hiệu quả giải quyết vấn đề của các nhân tài. Thông qua cạnh tranh sẽ sàng lọc và giúp cho Hà Nội có được người thực tài, thực sự phù hợp với những đóng góp trúng, đúng, thiết thực và hiệu quả.

Phương thức áp dụng và phát huy tốt nhất các mặt tích cực của cơ chế thị trường chính là xác lập cơ chế “đặt hàng” và “đấu thầu” thực hiện nhiệm vụ. Có chế này sẽ giúp cho Hà Nội xác định được chính xác nhu cầu thực tế của địa phương trong sử dụng tài năng của nhân tài trong quá trình phát triển; căn cứ vào cơ chế này, Hà Nội có thể huy động trí tuệ, tài năng của nhân tài bốn phương, kể cả người nước ngoài tham gia vào việc giải quyết các “bài toán” thực tiễn của Hà Nội. Đồng thời, cơ chế này cũng gây sức ép lành mạnh đối với đội ngũ nhân tài hiện có, buộc họ phải luôn cố gắng làm việc tốt hơn, cống hiến tốt hơn, nếu không sẽ bị “thua trên sân nhà” và bị loại bỏ.

Cuối cùng cơ chế này chính là cơ sở rất tốt cho chính sách tôn vinh, đãi ngộ nhân tài của Hà Nội, tránh được việc tôn vinh lấy lệ, đãi ngộ tượng trưng hoặc thiếu công bằng. Chắc chắn, nhưng nhân tài chân chính sẽ hoàn toàn ủng hộ cơ chế này./.

1 Bia Tiến sĩ khoa thi Nhâm Tuất (1442), dựng và khắc văn bia năm 1884.

2 https://daibieunhandan.vn/ha-noi-tuyen-duong-100-thu-khoa-dai-hoc-hoc-vien-tot-nghiep-xuat-sac-post392198.html. Truy cập ngày 25-3-2025.

3 Xem: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Nghi-quyet-14-2013-NQ-HDND-trong-dung-nhan-tai-xay-dung-phat-trien-Thu-do-Ha-Noi-202816.aspx. Truy cập ngày 25-3-2025.

4 https://baochinhphu.vn/ket-luan-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-buoi-lam-viec-voi-ban-chinh-sach-chien-luoc-trung-uong-102250228152644318.htm. Truy cập ngày 26-3-2025.

5 https://laodongthudo.vn/ha-noi-thuc-hien-thu-hut-nhan-tai-va-co-co-che-dua-can-bo-khong-du-nang-luc-ra-khoi-bo-may-186412.html. Truy cập ngày 26-3-2025.

6 https://tienphong.vn/ha-noi-uu-dai-thu-hut-nhan-tai-con-han-che-vi-sao-post1566819.thành phốo. Truy cập ngày 26-3-2025.

7 Lời bình của Lê Văn Hưu, ghi trong Đi Vit S ký Toàn thư, tập I, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 242.

8 Đàm Dĩ Mông, Phán tăng đồ, htthành phốs://www.thivien.net/%C4%90%C3%A0m-D%C4%A9-M%C3%B4ng/Ph%C3%A1n-t%C4%83ng-%C4%91%E1%BB%93/poem-utZh12gq967uY_D6whYF7A, truy cập ngày 3-3-2023.

9 Theo: Thích Minh Trí, Quan h nhà nưc quân ch - Trn vi Pht giáo, Nxb. Tôn giáo, 2012, tr. 229.

10 Đi Vit S ký toàn thư, tập II, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 100.

11 Đi Vit S ký toàn thư, tập II, sđd, tr. 108.

12 Theo: Ngô Đức Thọ (chủ biên), Các nhà khoa bng Vit Nam (1075-1919), Nxb. Văn học, Hà Nội, 2006, tr. 825 - 831. Riêng nhà Nguyễn không lấy đỗ trạng nguyên. Nhà Tây Sơn chỉ tổ chức được một khoa thi Hương, chưa tổ chức được khoa thi Hội nào.

13 Woodside, Alexander B (1976), Community and Revolution in Modern Vietnam, Houghton Miffin Company, Boston, tr. 1.

14 Xem: Weber, Max (1998), Gesammelte Aufsätze zur Religionssoziologie I. Tübingen, Paul Beck, tr. 212 - 226.

15 Đi Vit S ký toàn thư, tập I, sđd, tr. 241.

16 Xem: Nguyễn Thúy Nga, c và ngưi đ võ khoa nưc ta, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2019.

17 Xem: Reid, Anthony, Southeast Asia in the Age of Commerce, 1450-1680. Volume one: The Land below the Winds, Yale University Press, 1988.

18 Xem: https://dantri.com.vn/van-hoa/nhung-ngoi-dinh-co-o-36-pho-phuong-dang-dan-bien-mat-20201226033712516.htm. Truy cập ngày 02-04-2025.

19 Cho đến năm 2025 Việt Nam có sáu người được UNESCO vinh danh là “danh nhân văn hóa” (Great Man of Culture) là: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Nguyễn Đình Chiểu và Hồ Xuân Hương.

20 Truyền thống này đã bắt đầu từ thời kinh đô còn ở Hoa Lư, dưới triều vua Lê Hoàn. Đến thời Lý và các đời vua sau cũng tổ chức với những quy mô và hình thức khác nhau. Ở kinh thành Thăng Long, Hoàng đế Lý Thái Tổ chính là người tiếp nối truyền thống này vào năm 1053. Xem: Đi Vit S ký toàn thư, tập I, sđd, tr. 223; Đi Vit S ký toàn thư, tập II, 252.

21 Xem: https://phunutoday.vn/chuyen-ve-ba-to-cua-nghe-thuat-hat-cheo-viet-nam-d19215.html. Truy cập ngày 3-4-2025.

22 Có ý kiến cho rằng Ca trù ra đời từ thời Lý mà cái nôi đầu tiên là làng Lỗ Khê (trước thuộc huyện Đông Ngàn, Bắc Ninh, nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội). Xem: https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/ca-tru-di-san-doc-dao-cua-ong-cha-ta-598672; https://dantocmiennui.vn/lang-lo-khe-dat-to-ca-tru-post152767.html. Truy cập ngày 4-4-2025.

23 Có thể kể đến việc các nhà trí thức Nho giáo – quan lại đã tham gia sáng tác Ca trù như: Cao Bá Quát với T tình, Hơn nhau mt ch thì, Phn hng nhan có mong manh, Nhân sinh thm thot…: Nguyễn Công Trứ với Ngày tháng thanh nhàn, Kiếp nhân sinh, Chơi xuân ko hết xuân đi, Trn ai ai d biết ai…: Dương Khuê với Hng Hng, Tuyết Tuyết tức Gp đào Hng đào Tuyết vv; Chu Mạnh Trinh với Hương Sơn phong cnh ca; Nguyễn Khuyến với Hi phng đá, Duyên n; Nguyễn Thượng Hiền với Chơi chùa Thy.

24 Xem: Phạm Hồng Tung - Trần Viết Nghĩa, Lch sNi cn đi (1883-1945), Nxb. Hà Nội, 2019.

25 Phạm Hồng Tung - Trần Viết Nghĩa, Lch sNi cn đi (1883-1945), sđd, tr. 248 – 260

Xem thêm: Phạm Hồng Tung, “Tìm hiểu thêm về triết lý giáo dục của Trường Đông Kinh Nghĩa thục”, Nghiên cu Lch s, số 9 (377), 2007, tr. 24 - 33.

26 Xem: Đại học Quốc gia Hà Nội, Mt thế k phát trin và trưng thành, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006, tr. 12 - 13.

27 Đại học Quốc gia Hà Nội, Mt thế k phát trin và trưng thành, sđd, tr. 29.

28 Báo Le Travail ra hằng tuần, số 1 ra ngày 16-9-1936, số cuối (số 30) vào ngày 16-4-1937.

29 Tin tc xuất bản hằng tuần ở Hà Nội, sau đó có lúc ra một tuần hai đến ba số. Báo ghi rõ là “Cơ quan của Mặt trận Dân chủ”. Trường Chinh (Đặng Xuân Khu) làm Giám đốc, Trần Huy Liệu làm Chủ bút. Người sáng lập (danh nghĩa) là Lương Văn Tuấn. Người Quản lý là Trịnh Hoài Đức. Báo ra số 1 ngày 2-4-1938. Số cuối cùng là số 43, ra ngày 15 và 19-10-1938.

30 xem: https://nhandan.vn/tong-bi-thu-to-lam-lua-chon-cong-nghe-khong-chon-re-ma-phai-di-tat-don-dau-post860115.html. Truy cập ngày 15-4-2025.

31 Báo Cu quc, số 410, ra ngày 20-11-1946.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Kinh nghiệm lịch sử thu hút và trọng dụng nhân tài vì phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội và của đất nước
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO