Hướng tới nền kinh tế xanh, bền vững trong kỷ nguyên mới: Một số khuyến nghị chính sách cho Hà Nội
Phát triển kinh tế xanh đang nổi lên là xu hướng quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo, nên thu hút sự quan tâm và hành động của các quốc gia trên thế giới. Với lợi thế hiện có của mình, Thủ đô Hà Nội có thể tận dụng các cơ hội để phát triển một nền kinh tế xanh, hướng tới sự phát triển bền vững, hiện thực hóa các mục tiêu, khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

Chủ trương phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam
Có nhiều định nghĩa về kinh tế xanh, nhưng định nghĩa của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc được sử dụng rộng rãi nhất, theo đó: “Nền kinh tế xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái. Nói một cách đơn giản, nền kinh tế xanh có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hướng tới công bằng xã hội”1.
Trong nền kinh tế xanh các thực thể kinh tế phải sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách có trách nhiệm, chú ý đến việc tái sử dụng chúng. Với việc sử dụng và bảo vệ hiệu quả, có trách nhiệm các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xanh bảo đảm cả thế hệ hiện tại và tương lai đều có thể hưởng lợi từ tài nguyên thiên nhiên, đồng thời việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững cho phép phát triển kinh tế một cách công bằng, toàn diện về mặt xã hội.
Cùng với đó, với việc giảm thiểu hoặc loại bỏ các hoạt động kinh tế gây tổn hại đến sức khỏe con người và môi trường, nền kinh tế xanh mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người dân và hỗ trợ hoạt động thương mại, kinh tế.
Muốn đạt được một nền kinh tế phát triển xanh, những phương thức tăng trưởng xanh có ý nghĩa cốt lõi và cũng cần được tuân thủ nghiêm ngặt để tăng trưởng kinh tế luôn đạt hai mục tiêu đồng thời, đó là bảo vệ môi trường sống trong sạch và bền vững.
Bối cảnh mới đã khiến kinh tế xanh trở thành xu hướng tất yếu của các quốc gia nhằm đạt được sự tăng trưởng kinh tế, trong khi vẫn duy trì sự bền vững về môi trường. Không nằm ngoài xu thế đó, trong những năm qua, Việt Nam đã đẩy mạnh triển khai các kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế xanh.
Chủ trương về phát triển bền vững và tăng trưởng xanh đã sớm được đề cập trong các văn kiện của Đảng, trước hết, là quan điểm về phát triển nhanh và bền vững. Lần đầu tiên, vấn đề phát triển bền vững được nêu trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII2. Đại hội IX (năm 2001), Đảng xác định phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”3.
Tại Đại hội lần thứ XI của Đảng (năm 2011), lần đầu tiên đề cập đến vấn đề “phát triển kinh tế xanh”: “Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế; phát triển kinh tế tri thức. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh”4.
Đến Đại hội lần thứ XIII, Nghị quyết của Đảng khẳng định quan điểm phát triển nhanh, bền vững và phát triển kinh tế xanh: “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khoẻ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”.
Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 17-11-2022, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đặt mục tiêu Việt Nam hướng tới nền kinh tế carbon thấp, đồng thời bảo đảm mục tiêu thuộc nhóm nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á vào năm 2045.
Cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch hành động và văn bản chỉ đạo điều hành về phát triển kinh tế xanh, tăng trưởng bền vững và bảo vệ môi trường, như Quyết định số 1393/QĐ-TTg, ngày 25-9-2012, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2050. Đây là chiến lược quốc gia đầu tiên, toàn diện về lĩnh vực phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam; Quyết định số 1670/QĐ-TTg, ngày 31-10-2017, phê duyệt Chương trình mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016 - 2020.
Ngày 1-10-2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1658/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050. Tiếp đến, Nghị quyết số 138/NQ-CP, ngày 25-10-2022, của Chính phủ, về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã đề ra mục tiêu phát triển kinh tế xanh gắn với phát triển bền vững đất nước một cách toàn diện, vừa đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế vừa bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái cho tương lai ở nước ta.
Ngày 26-7-2022, Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050 tại Quyết định số 896/QĐ-TTg, mục tiêu tổng quát của Chiến lược là chủ động thích ứng hiệu quả, giảm mức độ dễ bị tổn thương, tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu; giảm phát thải khí nhà kính theo mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, đóng góp tích cực và trách nhiệm với cộng đồng quốc tế trong bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất; tận dụng cơ hội từ ứng phó biến đổi khí hậu để chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao sức chống chịu và cạnh tranh của nền kinh tế.
Tại Diễn đàn Nhịp cầu phát triển Việt Nam 2024 (Vietnam Connect Forum) lần thứ tư, với chủ đề “Hướng tới nền kinh tế xanh, bền vững: Từ chiến lược, chính sách của Chính phủ tới các sáng kiến, giải pháp của địa phương và doanh nghiệp”, lãnh đạo Chính phủ, các bộ, ngành đã đưa ra thông điệp rõ ràng và nhất quán: Việt Nam lựa chọn kinh tế xanh, bền vững để kiến tạo những thay đổi tiếp theo, với sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp5.
Tại Diễn đàn Kinh tế xanh năm 2024 tổ chức ngày 21-10-2024, tại Thành phố Hồ Chí Minh, với chủ đề "Kiến tạo Tương lai xanh", Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn nhấn mạnh: Việt Nam quyết tâm xây dựng một nền kinh tế xanh và bền vững, đồng thời tham gia vào nỗ lực chung trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu.
Để thực hiện chủ trương này, Chính phủ đã triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, đạt kết quả tích cực trên nhiều mặt. Cụ thể là ban hành các chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm phát thải, chuyển đổi năng lượng, thực hiện cam kết trung hòa carbon, điển hình như Kế hoạch thực hiện Quy hoạch Điện VIII, Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đến 2030; Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp, Bộ chỉ tiêu thống kê tăng trưởng xanh…
Đồng thời, hoàn thiện các chính sách về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, nổi bật là Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước và Luật Điện lực đang được sửa đổi. Cùng với đó, từng bước phát triển các thị trường quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên, tín chỉ carbon… với mong muốn song hành và hội nhập với thế giới trong lĩnh vực xanh. Việt Nam đã ban hành cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo với khách hàng sử dụng điện lớn và dự kiến sẽ triển khai thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon trong năm 2025.
Mục tiêu chung được Chính phủ đặt ra cho tăng trưởng xanh, tiến tới nền kinh tế xanh, với ba nhiệm vụ trọng tâm, đó là: Thứ nhất, giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; Thứ hai, xanh hóa sản xuất; Thứ ba, xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
Nỗ lực phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam
Nhận thức được tầm quan trọng của tăng trưởng xanh hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế xanh, Việt Nam đã triển khai và cụ thể hóa nhiều giải pháp và đã đạt được những kết quả tích cực bước đầu.
Thứ nhất, về giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.
Bằng nguồn lực trong nước, Việt Nam đã có nhiều giải pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong sản xuất và sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo trong các phân ngành công nghiệp năng lượng; sản xuất công nghiệp và xây dựng; giao thông vận tải; gia dụng, nông nghiệp và dịch vụ thương mại.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, thực hiện các biện pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính thông qua ứng dụng các giải pháp quản lý, công nghệ trong trồng trọt, chăn nuôi; cải thiện khẩu phần ăn cho vật nuôi; chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng; thay đổi phương thức sử dụng đất; công nghệ xử lý và tái sử dụng phụ phẩm, chất thải trong sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi; phát triển nông nghiệp hữu cơ. Thực hiện các biện pháp giảm nhẹ phát thải và hấp thụ khí nhà kính trong quản lý đất rừng, đất trồng trọt, đất đồng cỏ, đất ngập nước và các loại đất khác và phát triển các mô hình nông lâm kết hợp để nâng cao trữ lượng các-bon, bảo tồn đất.
Trong lĩnh vực công nghiệp, thực hiện các biện pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính thông qua quản lý, phát triển và áp dụng công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường và chất thải rắn đặc thù nhằm hạn chế phát thải khí nhà kính. Thực hiện các biện pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp hoá chất và quản lý việc tiêu thụ các chất HFCs (Hydrofluorocarbons (HFCs) là một nhóm hóa chất công nghiệp chủ yếu được sử dụng để làm mát và làm lạnh).
Đối với việc sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. Với cam kết đưa ra tại COP26, để hướng tới mục tiêu Net Zero, Việt Nam đã khẩn trương hành động đồng bộ trên tất cả các mặt, cụ thể:
Một là, ban hành Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, với các mục tiêu phù hợp với xu thế chuyển đổi xanh, định hướng đến năm 2050, tỷ lệ năng lượng tái tạo lên đến 67,5 - 71,5% sản lượng điện sản xuất.
Hai là, thúc đẩy mạnh mẽ các giải pháp để sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và giảm phát thải khí nhà kính.
Ba là, triển khai tích cực việc nghiên cứu, khai thác và sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch.
Bốn là, tăng cường quản lý việc khai thác, sử dụng nguyên nhiên liệu đầu vào của hoạt động sản xuất, kinh doanh, giảm thiểu chất thải ra môi trường và tận dụng tối đa các cơ hội áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ.
Với những nỗ lực đó, năm 2021, Việt Nam xếp hạng thứ 31 trong danh sách các quốc gia có độ thu hút cao về các cơ hội đầu tư và triển khai trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Theo số liệu từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tính đến cuối năm 2023, tỷ lệ năng lượng tái tạo (bao gồm điện gió, điện mặt trời, thủy điện) chiếm tỷ trọng 55,3% tổng công suất lắp đặt của hệ thống. Quy mô hệ thống điện Việt Nam hiện đứng đầu khu vực ASEAN.
Bên cạnh đó, vẫn còn một số thách thức đặt ra cho phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo tại Việt Nam như:
- Việc xây dựng kết cấu hạ tầng mới cho năng lượng tái tạo thường đòi hỏi đầu tư lớn vào mặt bằng và các thiết bị mới, gây ra áp lực tài chính đối với doanh nghiệp và chính phủ.
- Ngành công nghiệp năng lượng tái tạo vẫn còn mới mẻ ở Việt Nam, nên còn thiếu hụt nguồn nhân lực có kinh nghiệm và kiến thức về công nghệ và quản lý.
- Các dự án năng lượng tái tạo thường phải đối mặt với các thủ tục pháp lý phức tạp mà khung pháp lý cho phát triển lĩnh vực này ở nước ta chưa hoàn thiện. Cùng với đó, vấn đề giải phóng mặt bằng cũng gặp nhiều khó khăn.
Thứ hai, về xanh hóa sản xuất.
Sản xuất xanh đang là một mắt xích quan trọng giúp Việt Nam hướng tới một nền kinh tế xanh và bền vững. Xanh hóa sản xuất còn đặt ra cho các doanh nghiệp những đòi hỏi, yêu cầu mới phù hợp với xu thế phát triển chung, đồng thời nâng cao vị thế, tăng sức cạnh tranh ở cả thị trường trong và ngoài nước.
Thời gian qua, các doanh nghiệp và cơ quan nhà nước đã nhận thức được tầm quan trọng của việc chuyển đổi sang sản xuất xanh để bảo vệ tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm và tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có ích cho cộng đồng. Những nỗ lực trong việc xanh hóa sản xuất thể hiện ở các mặt sau:
- Chính phủ đưa ra nhiều chính sách ưu đãi và quy định hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện sản xuất xanh, bao gồm việc thúc đẩy sử dụng năng lượng tái tạo, giảm lượng rác thải, phát thải và các biện pháp khác nhằm tăng cường bảo vệ môi trường.
- Các doanh nghiệp đã bắt đầu tích hợp các chiến lược sản xuất xanh vào quy trình kinh doanh của họ. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã và đang chú trọng hơn sử dụng nguồn nguyên vật liệu tự nhiên, nhiên liệu, hóa chất không gây độc hại; đầu tư dây chuyền máy móc, công nghệ, trang thiết bị sản xuất hiện đại theo các tiêu chuẩn quốc tế để cải tiến quy trình, hướng tới sản xuất xanh.
- Sự phát triển của công nghệ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi sang sản xuất xanh. Công nghệ mới như IoT (Internet of Things), AI (Artificial Intelligence), và các giải pháp công nghệ khác đã được áp dụng để tối ưu hóa sản xuất và giảm thiểu lượng chất thải và phát thải gây ô nhiễm môi trường.
- Việt Nam cũng hợp tác chặt chẽ với các tổ chức quốc tế và đối tác kinh tế để chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi về các phương pháp sản xuất xanh tiên tiến.
Tuy nhiên, vẫn còn một số thách thức cần vượt qua, như:
- Việt Nam vẫn chưa có hành lang pháp lý, bộ tiêu chí để nhận diện đánh giá mức độ xanh hóa sản xuất. Việc thực hiện xanh hóa cũng đòi hỏi phải có sự phối hợp chia sẻ, gắn kết các bên liên quan; phải có đội ngũ chuyên gia giỏi; công nghệ tái chế, tái sử dụng tốn kém...
- Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam có công nghệ lạc hậu, lỗi thời, quy mô sản xuất nhỏ lẻ và thiếu nguồn lực đầu tư cho công nghệ tái chế. Để có thể làm thành chuỗi sản xuất sạch, khép kín, liên hoàn, doanh nghiệp cần một nguồn kinh phí không nhỏ để tái đầu tư.
- Sản phẩm xanh của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đáp ứng cho rất nhiều thị trường khó tính, nhưng để làm được điều này đòi hỏi sự đầu tư từ công nghệ đến cách thức sản xuất. Tuy nhiên, sản xuất theo tiêu chí của nhà nhập khẩu không có nghĩa là sẽ bán được giá cao như người sản xuất mong muốn. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp e ngại khi thực hiện thay đổi cách thức sản xuất truyền thống để chuyển sang sản xuất xanh.
- Hiện nay, cơ chế, chính sách khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất sản phẩm xanh còn bộc lộ nhiều mặt bất cập. Nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước để hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ nhằm sản xuất hàng hóa thân thiện môi trường còn ít, mức độ hỗ trợ thấp. Các quy định chính sách hỗ trợ thường tập trung cho khâu sản xuất, chưa hướng mạnh tới người tiêu dùng.
Thứ ba, về xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
Xu hướng tiêu dùng xanh đang phát triển nhanh trên thế giới, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó do nhận thức về tác động của hoạt động cá nhân đến môi trường và xã hội đang tăng lên. Các chủ trương, chính sách, chương trình hành động về tiêu dùng xanh được phát triển ở nhiều địa phương trên cả nước, bước đầu đã đạt những kết quả tốt, thu hút đông đảo người dân tham gia. Xu hướng này thể hiện ở một số điểm sau:
- Người tiêu dùng ở Việt Nam đang trở nên ngày càng nhạy cảm với vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Họ đang tìm kiếm các sản phẩm và dịch vụ mang tính thân thiện với môi trường và xã hội. Nhiều người tiêu dùng ưu tiên các thực phẩm Organic, BiOrganic, thực phẩm không biến đổi gen,… vì sử dụng phương pháp trồng trọt, chăn nuôi truyền thống, không tác động tiêu cực đến môi trường mặc dù chi phí cho các sản phẩm này khá cao.
Đồng thời, xu hướng “xanh hóa” trong xây dựng thương hiệu ngày càng phổ biến, nhiều doanh nghiệp đã nỗ lực đầu tư sản xuất nhằm cho ra đời những sản phẩm bảo đảm yếu tố “xanh” và “sạch”, xây dựng thương hiệu xanh gắn với phát triển bền vững.
- Có một sự gia tăng đáng kể trong các sản phẩm xanh và công nghệ tiết kiệm năng lượng trên thị trường, từ sản phẩm sinh học, đồ gỗ tái chế đến xe điện và các thiết bị tiết kiệm năng lượng.
- Chính phủ cũng áp dụng nhiều chính sách khuyến khích cho người tiêu dùng và doanh nghiệp thúc đẩy lối sống xanh và tiêu dùng bền vững, bao gồm các ưu đãi thuế và hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm xanh.
- Cộng đồng xã hội đang trở nên tích cực hơn trong việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm về lối sống xanh và tiêu dùng bền vững thông qua các cộng đồng trực tuyến, sự kiện xã hội và các hoạt động tình nguyện.
Bên cạnh đó, việc thúc đẩy tiêu dùng xanh, bền vững còn nhiều thách thức, đó là:
- Ý thức trách nhiệm đối với vấn đề bảo vệ môi trường từ phía doanh nghiệp còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa giải quyết thỏa đáng mâu thuẫn giữa mục tiêu lợi nhuận và tăng trưởng xanh, đặc biệt là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp có thể được chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại, nhưng cũng không dễ tiếp nhận vì yếu tố con người, trình độ năng lực còn chưa theo kịp. Việc đầu tư, chi phí ban đầu lớn, đã tác động rất nhiều đến việc tiếp cận công nghệ xanh.
- Thiếu chính sách hỗ trợ phát triển xanh, các chính sách hướng đến phát triển tiêu dùng xanh còn thiếu đồng bộ. Các chính sách thúc đẩy sản xuất sản phẩm, dịch vụ xanh chưa tạo động lực mạnh mẽ cho các doanh nghiệp. Chính sách hỗ trợ chưa đủ mạnh để thu hút được các doanh nghiệp đầu tư thay đổi dây chuyền công nghệ, chưa tạo ra được sự chuyển biến đáng kể để doanh nghiệp đổi mới công nghệ và quy trình sản xuất.
- Chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm xanh thường lớn hơn nhiều so với loại hàng hóa tương tự, nên giá thành cao và khó cạnh tranh trên thị trường (mức giá trung bình của các hàng hóa xanh thường cao hơn 20 - 40% so với các loại hàng hóa tiêu dùng cùng loại).
- Mặc dù đã có nhiều bước tiến, tuy nhiên, tiêu dùng xanh là khái niệm khá mới và tương đối xa lạ với số đông người tiêu dùng cũng như các đơn vị sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam.
Một số khuyến nghị chính sách cho phát triển kinh tế xanh tại Hà Nội
Có thể khẳng định, tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, xanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu. Phát triển kinh tế xanh và bền vững là xu thế tất yếu hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh thế giới đứng trước những thách thức của biến đổi khí hậu, thiên tai. Cộng đồng quốc tế đã đạt được nhận thức sâu sắc, và quyết tâm cao trong hợp tác và hành động vì một nền kinh tế xanh và bền vững.
Việt Nam nói chung, Thủ đô Hà Nội nói riêng ngày càng hội nhập và gắn kết sâu rộng với kinh tế thế giới - không thể nằm ngoài xu hướng phát triển đó. Vấn đề đặt ra là tận dụng tốt mọi cơ hội, vượt qua thách thức, khơi thông các nguồn lực để đạt được mục tiêu đề ra.
Thời gian qua, Hà Nội đang nỗ lực phát triển kinh tế xanh, hướng tới một đô thị hiện đại, bền vững và thân thiện với môi trường. Thành phố tập trung vào chuyển đổi số, phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, đồng thời thúc đẩy các giải pháp toàn diện để bảo vệ môi trường.
Thành phố đã và đang triển khai nhiều chính sách về tăng trưởng xanh, phát triển bền vững. Điển hình là Kế hoạch số 149/KH-UBND, về Hành động tăng trưởng xanh của thành phố đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Kế hoạch số 228/KH-UBND, của UBND thành phố, về Triển khai thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu trên địa bàn thành phố Hà Nội; các chương trình trồng cây xanh, lắp đặt điện mặt trời áp mái, phát triển phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch...
Ngày 13-5-2025, UBND thành phố tiếp tục ban hành Kế hoạch số 131/KH-UBND, về Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong quản lý chất thải đến năm 2030 trên địa bàn thành phố Hà Nội. Bên cạnh đó, Hà Nội tăng cường công tác quản lý môi trường và thực hiện kế hoạch tăng trưởng xanh; Thiết lập hệ thống kiểm tra nội bộ định kỳ tại các phường, xã về chất lượng không khí, tiếng ồn, xả thải; Xây dựng Cổng thông tin môi trường Hà Nội, công khai dữ liệu chất lượng không khí theo giờ, hiện đang có hơn 40 trạm quan trắc không khí cố định và 5 trạm lưu động trên toàn địa bàn.
Kể từ khi Luật Thủ đô sửa đổi có hiệu lực vào đầu năm 2024, Hà Nội đã chủ động tích hợp mục tiêu phát triển xanh vào đồ án Quy hoạch Thủ đô giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050. Trong đó, các chỉ tiêu cụ thể được lồng ghép như: 100% dự án phát triển đô thị phải dành tối thiểu 15% diện tích cho cây xanh, mặt nước; Ưu tiên giao đất, vốn và quỹ đầu tư công cho các dự án giao thông công cộng và hạ tầng xử lý môi trường; Quy định bắt buộc sử dụng vật liệu xanh (gạch không nung, sơn không chì…) trong các công trình công cộng.
Trong thời gian tới, để cho Hà Nội phát triển theo hướng chuyển đổi xanh, trở thành nơi đáng sống, cần tập trung vào một số giải pháp sau:
Một là, tiếp tục cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, các chiến lược đã có trong lĩnh vực kinh tế - xã hội thành các chương trình hành động, kế hoạch cụ thể. Trên thực tế, một số nghị quyết của Đảng trong lĩnh vực này triển khai còn chậm, thậm chí chưa có chương trình hành động cụ thể. Rà soát, đánh giá thực chất kết quả triển khai các nhiệm vụ trong Kế hoạch số 149/KH-UBND về Hành động tăng trưởng xanh của thành phố đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó đặc biệt lưu ý về kết quả triển khai các nhiệm vụ về xây dựng và hoàn thiện thể chế.
Hai là, tăng cường năng lực công nghệ nhất là công nghệ xanh trong mọi lĩnh vực của sản xuất và đời sống. Xác định khoa học và công nghệ là yếu tố nền tảng để đạt được các mục tiêu quan trọng của tăng trưởng xanh. Ưu tiên đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ, vì đây là nội dung quan trọng trong việc thiết lập các cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn để xây dựng cơ chế, chính sách, các giải pháp quản lý, đóng góp tích cực vào việc dự báo, phòng ngừa, cải tạo, phục hồi, xử lý ô nhiễm môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học. Đồng thời, cần có các chính sách ưu đãi đủ mạnh để khuyến khích các doanh nghiệp chuyển đổi sang công nghệ tiên tiến, góp phần nâng cao năng suất sản xuất, tiết kiệm nguyên liệu, đáp ứng tiêu chuẩn của nền kinh tế xanh.
Để thúc đẩy tăng trưởng xanh gắn với phát triển bền vững, cần chú trọng liên kết phát triển KH&CN của Hà Nội với phát triển KH&CN của vùng và khu vực; thay đổi, cải tiến các mô hình tăng trưởng cũ, lỗi thời bằng các mô hình phát triển kinh tế phù hợp với xu thế toàn cầu hướng tới nền kinh tế tăng trưởng xanh; nâng cao hiệu suất, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên năng lượng dựa trên nền tảng KH&CN, ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số.
Ba là, phát triển nguồn nhân lực xanh. Để phát triển nhân lực cho kinh tế xanh, đầu tiên và quan trọng nhất là đầu tư vào giáo dục và đào tạo trong lĩnh vực kinh tế xanh. Đào tạo các chương trình học liên quan đến năng lượng tái tạo, quản lý môi trường, và công nghệ sạch. Điều này có thể bao gồm việc phát triển các khoá học, chương trình đại học và sau đại học, cũng như các khóa đào tạo ngắn hạn và chuyên sâu. Chính phủ có thể hợp tác với các doanh nghiệp để xây dựng các chương trình đào tạo và thực tập, cung cấp cơ hội cho sinh viên và nhân viên các công ty để họ có thể thực hành và học hỏi trực tiếp từ thực tế ngành công nghiệp xanh.
Cùng với đó, tạo điều kiện cho các tổ chức nghiên cứu và đại học tiếp tục nghiên cứu và phát triển các công nghệ và giải pháp xanh. Chính quyền có thể cung cấp hỗ trợ tài chính và chính sách khuyến khích cho các dự án nghiên cứu và phát triển có thể áp dụng vào thực tiễn. Tạo ra môi trường thuận lợi để khuyến khích sự đổi mới và sáng tạo trong lĩnh vực kinh tế xanh. Điều này có thể bao gồm việc tạo ra các chính sách khuyến khích và hỗ trợ cho các doanh nghiệp và cá nhân có ý tưởng sáng tạo và tiên tiến trong lĩnh vực này.
Bốn là, huy động các nguồn lực cho tăng trưởng xanh. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Báo cáo điểm lại Kinh tế Việt Nam (tháng 8-2023), tổng nhu cầu tài chính phát sinh thêm của Việt Nam để xử lý những thách thức liên quan đến biến đổi khí hậu và chuyển đổi xanh có thể lên đến khoảng 701 tỷ USD trong giai đoạn 2022 - 2040, tương đương 6,8% GDP mỗi năm.
Theo ước tính của Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), để thực hiện cam kết phát thải ròng về 0 vào năm 2050, Việt Nam cần khoảng 330 - 370 tỷ USD. Theo ước tính, nhu cầu tài chính cho các biện pháp giảm phát thải trong từng lĩnh vực theo cam kết môi trường của Việt Nam đến năm 2030 là khoảng 68,75 tỷ USD. Trong đó, nguồn quốc gia tự thực hiện dự báo khoảng 24,722 tỷ USD, chiếm 36% và nhu cầu đối với nguồn lực hỗ trợ của quốc tế dự kiến khoảng 44,028 tỷ USD, chiếm 64%6. Với Hà Nội, nguồn lực chắc chắn không nhỏ.
Để thu hút được các nguồn lực vào lĩnh vực này, các chính sách về môi trường cần được điều chỉnh và hoàn thiện để tăng cường thu hút mọi nguồn lực từ tất cả các thành phần kinh tế, trong đó cả nguồn vốn nước ngoài. Việc thu hút nguồn vốn nước ngoài không chỉ góp phần phát triển kinh tế xanh mà còn giúp doanh nghiệp trong nước học hỏi được kinh nghiệm từ phía doanh nghiệp nước ngoài.
Phát triển các cơ chế tài chính đổi mới như trái phiếu xanh, ưu đãi đầu tư và quan hệ đối tác với các tổ chức quốc tế để thu hút đầu tư của khu vực tư nhân vào các dự án xanh.
Tăng cường hợp tác công - tư (PPP), thu hút đầu tư từ các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp công nghệ xanh trong lĩnh vực môi trường đô thị. Tăng cường đầu tư công và tư nhân vào các dự án kết cấu hạ tầng xanh, như nhà máy điện mặt trời, trang trại gió, hệ thống quản lý chất thải và sáng kiến phủ xanh đô thị.
Năm là, tuyên truyền nâng cao nhận thức và tạo sự đồng thuận xã hội. Cần tuyên truyền, giáo dục về vai trò và xu hướng tất yếu của kinh tế xanh, từ đó nâng cao nhận thức về môi trường, góp phần nâng cao tính hiệu quả của các chiến lược, chương trình, kế hoạch hành động mà Chính phủ cũng như thành phố Hà Nội đã đề ra, tiến đến nền kinh tế xanh, phát triển xanh và bền vững. Phổ biến rộng rãi các kế hoạch, chương trình, thực hiện theo chức năng nhiệm vụ để có cơ sở tổ chức, triển khai thực hiện phát triển kinh tế xanh, phát triển bền vững theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh đó tăng cường truyền thông, vận động mạnh mẽ từ cấp thành phố đến từng phường, xã. Từ việc quản lý rác thải đến quy hoạch hạ tầng xanh, từ hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất sạch hơn đến thúc đẩy tiêu dùng bền vững - tất cả đều thể hiện một quyết tâm rõ ràng: Hà Nội phải là nơi “đáng sống” cho cả thế hệ hôm nay và tương lai./.
1 Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, Kinh tế xanh cho phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H. 2018, tr. 32
2 Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1996, tr. 20
3 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr. 162
4 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr. 107
5 Xem: Tạp chí Kinh tế Việt Nam, số 16, ngày 15-4-2024, tr. 14
6 Nguồn lực tài chính thúc đẩy tăng trưởng xanh ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính online, ngày 1-3-2024
https://tapchitaichinh.vn/nguon-luc-tai-chinh-thuc-day-tang-truong-xanh-o-viet-nam.html