Hình thành các tổ chức khoa học và công nghệ thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng ở tỉnh Quảng Ninh

I. Cơ sở lý luận và pháp lý để hình thành các tổ chức khoa học và công nghệ
1. Khoa học và công nghệ - động lực then chốt của phát triển bền vững trong thời kỳ mới
Trong tiến trình phát triển của nhân loại, khoa học và công nghệ (KH&CN) luôn là nhân tố cốt lõi quyết định năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhiệm vụ của khoa học, kỹ thuật là cực kỳ quan trọng, cho nên mọi ngành, mọi người đều phải tham gia công tác khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động, sản xuất ra nhiều của cải vật chất, để xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi”[1]. Tư tưởng này đã đặt nền tảng cho quan điểm nhất quán của Đảng ta về vai trò đặc biệt của KH&CN trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 – 2030) nhấn mạnh: Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính để tăng trưởng kinh tế[2]. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị về “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” đã đặt KH&CN vào vị trí “quốc sách hàng đầu”, gắn liền với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững.
Sau gần 40 năm đổi mới, KH&CN đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hiện đại hóa sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân và nâng cao vị thế quốc gia. Tuy nhiên, để KH&CN thực sự trở thành động lực trực tiếp của tăng trưởng, cần phải xây dựng hệ thống tổ chức KH&CN năng động, hiệu quả, có khả năng nghiên cứu, ứng dụng, thương mại hóa và lan tỏa tri thức trong toàn xã hội, trong đó, các tổ chức KH&CN đóng vai trò nòng cốt.
2. Cơ sở pháp lý cho việc hình thành và phát triển các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật về KH&CN của Việt Nam không ngừng được hoàn thiện, từng bước tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc hình thành, tổ chức và hoạt động của các tổ chức KH&CN. Theo đó:
Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 xác định rõ: tổ chức KH&CN là tổ chức có chức năng thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN và các hoạt động liên quan nhằm tạo ra, truyền bá và ứng dụng tri thức KH&CN vào đời sống xã hội. Luật cũng khẳng định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN trong hoạt động chuyên môn, tổ chức bộ máy và tài chính[3].
Bên cạnh đó, nhiều văn bản pháp luật đã cụ thể hóa các quy định của Luật KH&CN, tiêu biểu, như Nghị định số 08/2014/NĐ-CP, ngày 27-01-2014, của Chính phủ “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ”, nhấn mạnh cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và khuyến khích thành lập tổ chức KH&CN ngoài công lập; Nghị định số 13/2019/NĐ-CP, ngày 1-2-2019, của Chính phủ “Về doanh nghiệp khoa học và công nghệ”, mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp KH&CN, cho phép chuyển đổi kết quả nghiên cứu thành sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có giá trị kinh tế cao; Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, coi phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những đột phá chiến lược của đất nước; đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế, chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển các tổ chức KH&CN theo mô hình xã hội hóa, gắn nghiên cứu với sản xuất, kinh doanh và thị trường.
Ngoài ra, các luật chuyên ngành, như Luật Chuyển giao công nghệ (năm 2017), Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi năm 2022), Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (năm 2017), cùng các văn bản hướng dẫn đã tạo hành lang pháp lý thống nhất cho hoạt động đổi mới sáng tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp KH&CN.
Như vậy, khung pháp lý về tổ chức KH&CN ở Việt Nam đã hình thành tương đối đầy đủ, theo hướng mở rộng quyền tự chủ, khuyến khích xã hội hóa, thúc đẩy hợp tác công - tư và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, quá trình thực thi còn nhiều bất cập: cơ chế tài chính và đặt hàng nghiên cứu chưa linh hoạt; chính sách đãi ngộ nhân lực KH&CN còn hạn chế; sự liên kết giữa tổ chức KH&CN với doanh nghiệp, địa phương, thị trường còn yếu. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới tổ chức KH&CN cả về thể chế, phương thức hoạt động và cơ chế vận hành.
3. Vai trò của tổ chức khoa học và công nghệ trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế - xã hội
Trong nền kinh tế tri thức, các tổ chức KH&CN giữ vị trí trung tâm trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đây là “đầu nguồn tri thức”, nơi sản sinh các kết quả nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, mô hình ứng dụng và sản phẩm công nghệ mới, đồng thời là cầu nối giữa nghiên cứu, đào tạo, sản xuất, kinh doanh, quản lý. Các tổ chức KH&CN góp phần quan trọng vào quá trình chuyển giao công nghệ, giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, tăng tốc độ thương mại hóa sản phẩm, hình thành doanh nghiệp KH&CN và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Ở cấp độ vĩ mô, hệ thống tổ chức KH&CN mạnh sẽ tạo nên nền tảng tri thức, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần bảo đảm độc lập, tự chủ và an ninh kinh tế.
Đối với cấp địa phương, đặc biệt là những địa phương có tốc độ phát triển nhanh như Quảng Ninh, sự hình thành và phát triển của các tổ chức KH&CN mang ý nghĩa chiến lược. Các tổ chức này vừa là “bà đỡ” công nghệ cho doanh nghiệp, vừa là công cụ hỗ trợ chính quyền địa phương trong hoạch định, đánh giá và điều chỉnh chính sách phát triển. Thông qua hoạt động nghiên cứu, tư vấn, thử nghiệm và chuyển giao, các tổ chức KH&CN giúp nâng cao năng suất lao động, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh - tuần hoàn, xây dựng chính quyền số và đô thị thông minh.
Mặt khác, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, việc hình thành mạng lưới các tổ chức KH&CN có tính liên kết cao sẽ giúp Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng Ninh nói riêng, chủ động hội nhập và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này phù hợp với định hướng phát triển KH&CN và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 mà Đảng và Nhà nước đã xác định.
II. Thực trạng hình thành và hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng
1. Hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Trong gần 40 năm đổi mới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống các tổ chức KH&CN ở Việt Nam đã hình thành và không ngừng được củng cố, mở rộng cả về quy mô, loại hình và hiệu quả hoạt động. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ (2022), hiện nay, cả nước có 444 tổ chức KH&CN công lập thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tổng cục, học viện và các đơn vị tương đương, các đại học quốc gia; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.
Các tổ chức KH&CN công lập thuộc các bộ, ngành (chiếm khoảng 19%) hoạt động trong lĩnh vực lần lượt như sau: khoa học kỹ thuật và công nghệ (38,9%), khoa học nông nghiệp (chiếm 32,7%), khoa học tự nhiên (19,9%), khoa học y dược (6,8%) và khoa học kã hội và khoa học nhân văn (1,78%). Ở khu vực địa phương, lĩnh vực hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập cùng thứ tự tương tự như ở khu vực bộ, ngành, các tổ chức KH&CN công lập chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực: khoa học kỹ thuật và công nghệ (chiếm 72,8%), khoa học nông nghiệp (chiếm 17,6%), khoa học xã hội (chiếm 7,4%), khoa học tự nhiên (chiếm 3,7%), rất ít tổ chức hoạt động trong lĩnh vực khoa học nhân văn và trong lĩnh vực y dược[4].
Các tổ chức KH&CN ngày càng đa dạng về mô hình: từ viện nghiên cứu chuyên ngành, trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN, phòng thí nghiệm trọng điểm, đến các trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ và khu công nghệ cao. Sự ra đời của các mô hình này phản ánh xu thế hội nhập giữa nghiên cứu, đào tạo, sản xuất, kinh doanh, đồng thời cho thấy nhu cầu gắn kết KH&CN với thực tiễn sản xuất và phát triển thị trường KH&CN.
Ở cấp Trung ương, nhiều viện nghiên cứu lớn, như Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam,... đã từng bước đổi mới phương thức hoạt động, chuyển mạnh từ cơ chế hành chính sang cơ chế tự chủ, tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Ở cấp bộ, ngành, hệ thống các viện nghiên cứu chuyên ngành (giao thông vận tải, xây dựng, công thương, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, công an,...) đóng vai trò then chốt trong nghiên cứu triển khai (R&D), góp phần giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn của đất nước.
Ở nhiều địa phương đã thành lập Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN, Trung tâm Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng và các tổ chức KH&CN trực thuộc trường đại học, cao đẳng hoặc doanh nghiệp địa phương. Nhiều địa phương năng động, như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Dương, Bắc Ninh, Quảng Ninh... chủ động hình thành các Trung tâm Đổi mới sáng tạo, Khu công nghệ cao, Vườn ươm doanh nghiệp KH&CN, góp phần đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất và đời sống.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống tổ chức KH&CN ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, như: cơ chế quản lý và tài chính còn mang nặng tính hành chính, thiếu linh hoạt; cơ chế khoán sản phẩm chưa được áp dụng rộng rãi; việc “đặt hàng nghiên cứu” chưa thực sự gắn với nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp. Nguồn nhân lực KH&CN chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng; hiện tượng “chảy máu chất xám”, chuyển dịch lao động chất lượng cao ra khu vực tư nhân hoặc nước ngoài vẫn diễn ra. Liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo còn yếu; sự hợp tác viện - trường - doanh nghiệp - nhà nước chưa trở thành động lực chủ đạo; tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn thấp. Doanh nghiệp KH&CN chiếm tỷ lệ nhỏ; nhiều doanh nghiệp chưa đủ năng lực đầu tư cho R&D, còn trông chờ hỗ trợ của Nhà nước.
Từ thực trạng đó, có thể thấy: mặc dù mạng lưới tổ chức KH&CN ở Việt Nam đã được thiết lập tương đối đầy đủ, song hiệu quả hoạt động chưa tương xứng với tiềm năng. Việc hình thành các tổ chức KH&CN năng động, tự chủ, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp và chính quyền địa phương chính là khâu đột phá để KH&CN thực sự trở thành động lực trực tiếp của tăng trưởng bền vững.
2. Tiềm năng, định hướng và chính sách phát triển khoa học - công nghệ của tỉnh Quảng Ninh
Là một trong những địa phương năng động nhất khu vực phía Bắc, tỉnh Quảng Ninh được xác định là “cực tăng trưởng” của vùng đồng bằng sông Hồng mở rộng và vành đai kinh tế ven biển Bắc Bộ. Nhiều năm liền, tỉnh Quảng Ninh luôn đứng đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI), chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin (ICT Index). Những kết quả đó phản ánh tầm nhìn chiến lược của tỉnh Quảng Ninh trong việc coi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng của phát triển nhanh, bền vững.
Thực hiện chủ trương của Trung ương, ngày 28-4-2023, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU “Về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030”. Nghị quyết xác định: “Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là khâu đột phá để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; là công cụ then chốt để thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu”[5]. Trên cơ sở đó, tỉnh Quảng Ninh đã cụ thể hóa bằng nhiều chương trình, đề án…
Đặc biệt, năm 2023, tỉnh Quảng Ninh đã khai trương Trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và hỗ trợ chuyển đổi số nhằm tạo không gian hỗ trợ đổi mới sáng tạo, đặt tại thành phố Hạ Long, là đầu mối hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ, kết nối nguồn lực tri thức trong và ngoài nước; vận hành Khu nông nghiệp công nghệ cao (CNC) Vineco (tại phường Hoàng Quế) do Tập đoàn Vingroup đầu tư; đồng thời đẩy nhanh tiến độ hình thành các khu nông nghiệp ứng dụng CNC trong lĩnh vực thủy sản, chăn nuôi bò sữa (tại xã Đầm Hà) và giống cây lâm nghiệp (tại xã Tiên Yên); phát triển khu công nghiệp xanh theo tiêu chuẩn ESG (môi trường - xã hội - quản trị),… hướng tới hình thành mạng lưới tổ chức KH&CN đa lĩnh vực, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển của tỉnh.
3. Thực trạng tổ chức và hoạt động khoa học - công nghệ ở Quảng Ninh
Hiện nay, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh quản lý 32 nhiệm vụ chuyển tiếp và phê duyệt 13 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh mới, 100% nhiệm vụ đều có cam kết ứng dụng thực tế[6].
Các đơn vị công lập nòng cốt, gồm Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh - cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN, trực tiếp chủ trì các chương trình nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đổi mới sáng tạo; Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Quảng Ninh - triển khai các dự án chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp, môi trường, năng lượng tái tạo, sản xuất vật liệu mới; Trung tâm Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng - hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn hóa quy trình sản xuất; Đại học Hạ Long - cơ sở đào tạo, nghiên cứu KH&CN chủ lực của tỉnh, có các phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu về công nghệ sinh học, môi trường, du lịch thông minh…; một số viện và doanh nghiệp KH&CN thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Viglacera Hạ Long, Than Hà Lầm, Than Cọc Sáu, Than Mạo Khê… Trong những năm qua, các tổ chức KH&CN của tỉnh Quảng Ninh đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận:
Trong nông nghiệp:triển khai thành công mô hình trồng rau, hoa, dược liệu công nghệ cao tại Đông Triều, Quảng Yên; nuôi trồng thủy sản công nghệ tuần hoàn tại Vân Đồn; ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn giống cây trồng, vật nuôi bản địa.
Trong công nghiệp:nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới trong khai thác than, xử lý chất thải mỏ, tiết kiệm năng lượng; thử nghiệm vật liệu xây dựng thân thiện môi trường, gạch không nung, xi măng ít phát thải CO₂.
Trong dịch vụ và du lịch:triển khai nền tảng “Du lịch thông minh Quảng Ninh”, hệ thống bản đồ số du lịch Hạ Long, xây dựng trung tâm dữ liệu du lịch kết nối với các doanh nghiệp lữ hành; ứng dụng công nghệ số trong quảng bá di sản Vịnh Hạ Long.
Trong quản lý nhà nước:xây dựng cơ sở dữ liệu KH&CN của tỉnh, triển khai hệ thống quản lý hành chính điện tử, chứng thực số trong đăng ký sáng chế, nhãn hiệu, giải pháp hữu ích; tăng cường quản trị số trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường và giáo dục.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu bước đầu, hoạt động của các tổ chức KH&CN tại Quảng Ninh vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục: Quy mô và năng lực nghiên cứu còn khiêm tốn. Nhiều tổ chức thiếu trang thiết bị hiện đại, cơ sở vật chất nghiên cứu còn phân tán, chưa hình thành mạng lưới liên kết hiệu quả. Thiếu cơ chế tài chính đặc thù. Việc tiếp cận vốn hỗ trợ nghiên cứu, quỹ KH&CN còn khó khăn; chính sách đặt hàng nghiên cứu từ doanh nghiệp chưa phổ biến; thiếu nhân lực KH&CN chất lượng cao.
Đội ngũ cán bộ nghiên cứu chủ yếu là cán bộ quản lý hành chính hoặc kỹ thuật viên kiêm nhiệm, chưa có nhiều chuyên gia đầu ngành, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, tự động hóa, công nghệ vật liệu và sinh học. Liên kết viện - trường - doanh nghiệp còn hạn chế. Các tổ chức KH&CN và doanh nghiệp địa phương chưa có nhiều dự án hợp tác cụ thể; hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn yếu; cơ chế khuyến khích chia sẻ lợi ích từ nghiên cứu - chuyển giao chưa rõ ràng…
III. Giải pháp thúc đẩy hình thành và phát triển các tổ chức khoa học và công nghệ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh
1. Hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách đặc thù về khoa học - công nghệ
Để các tổ chức KH&CN phát triển bền vững, cần hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế chính sách đặc thù, phù hợp với điều kiện của tỉnh Quảng Ninh - địa phương đang chuyển mạnh sang mô hình kinh tế tri thức và kinh tế số.
Trên cơ sở Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, Nghị định số 13/2019/NĐ-CP, ngày 20-3-2019, của Chính phủ “Về doanh nghiệp khoa học và công nghệ” và Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, tỉnh Quảng Ninh cần ban hành quy định riêng về phát triển tổ chức KH&CN và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó chú trọng cơ chế đặt hàng - khoán sản phẩm nghiên cứu gắn với các ngành kinh tế chủ lực; ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, đầu tư hạ tầng nghiên cứu; thúc đẩy liên kết công - tư - cộng đồng trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu; đồng thời thành lập Quỹ Đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Ninh để huy động nguồn lực xã hội hóa và quốc tế hỗ trợ nghiên cứu, khởi nghiệp công nghệ.
Đổi mới cơ chế quản lý theo hướng linh hoạt, khuyến khích tự chủ, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị bằng mục tiêu và hiệu quả, bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động và sản phẩm khoa học.
2. Xây dựng và phát triển hệ sinh thái khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp tỉnh
Xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo tỉnh trở thành “hạt nhân kết nối tri thức”, nơi hội tụ các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, khởi nghiệp, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ. Từ trung tâm này, có thể mở rộng mạng lưới liên kết vùng và liên ngành, kết nối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và các trung tâm khu vực ở Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh; tăng cường hợp tác với Đại học Hạ Long, Viện Khoa học Mỏ - Địa chất, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành; đồng thời phối hợp với các tập đoàn, doanh nghiệp lớn trên địa bàn, như Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, Sun Group, Vingroup, Viglacera, Amata,… để hình thành các “cụm đổi mới sáng tạo công - tư”.
Phát triển mạng lưới tổ chức KH&CN các cấp, đặc biệt tại Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái, Quảng Yên, gắn với các khu công nghiệp và khu kinh tế nhằm hỗ trợ doanh nghiệp địa phương đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc kết nối theo mô hình “liên thông đa tầng” sẽ giúp hình thành chuỗi giá trị KH&CN hoàn chỉnh, tạo mối liên kết bền vững giữa nghiên cứu, ứng dụng, sản xuất và tiêu thụ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng hiện đại và bền vững.
3. Phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ chất lượng cao
Xây dựng chiến lược phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao giai đoạn 2025 - 2035, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm, bảo đảm đồng bộ về cơ chế, chính sách và môi trường phát triển. Theo đó, cần đổi mới cơ chế tuyển dụng và trọng dụng nhân tài KH&CN, ban hành chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư công nghệ cao trong và ngoài nước; tạo điều kiện thuận lợi để họ nghiên cứu, giảng dạy, chuyển giao công nghệ tại địa phương, qua đó hình thành đội ngũ chuyên gia gắn bó lâu dài với tỉnh.
Tăng cường hỗ trợ đào tạo và bồi dưỡng nhân lực KH&CN thông qua liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức quốc tế để đào tạo sau đại học, bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu, ứng dụng và quản lý KH&CN; khuyến khích học viên, sinh viên thực hiện các đề tài gắn với nhu cầu thực tiễn của Quảng Ninh. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển nhân lực nghiên cứu và phát triển (R&D) bằng cách hỗ trợ tài chính, thuế, đất đai cho các doanh nghiệp thành lập trung tâm nghiên cứu hoặc phòng thí nghiệm; triển khai chương trình “doanh nghiệp cử chuyên gia đi đào tạo - tỉnh hỗ trợ một phần kinh phí”, nhằm tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo tại chỗ.
Xây dựng Quỹ Tài năng KH&CN tỉnh Quảng Ninh để hỗ trợ học bổng, nghiên cứu sinh, giải thưởng sáng tạo cho nhà khoa học trẻ, đội ngũ kỹ sư và sinh viên tài năng; gắn hoạt động nghiên cứu với các phong trào thi đua yêu nước, sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong sản xuất. Nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội; khơi dậy tinh thần sáng tạo, khởi nghiệp và học tập suốt đời của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, coi đây là nền tảng bền vững cho quá trình xây dựng xã hội học tập và phát triển kinh tế tri thức ở Quảng Ninh.
4. Thúc đẩy chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ mới trong hoạt động khoa học - công nghệ
Xây dựng hạ tầng số đồng bộ phục vụ hoạt động KH&CN, bao gồm cơ sở dữ liệu thống nhất về các tổ chức, nhiệm vụ, sản phẩm KH&CN; nền tảng số dùng chung cho quản lý, điều hành và đánh giá hiệu quả các nhiệm vụ nghiên cứu; cùng với đó là cổng thông tin chuyển giao công nghệ, sáng kiến và sản phẩm KH&CN, tạo kênh kết nối cung - cầu công nghệ công khai, minh bạch.
Thúc đẩy mạnh mẽ việc ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), blockchain, công nghệ thực tế ảo và tự động hóa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, đô thị thông minh, du lịch, logistics, năng lượng, y tế và giáo dục,… gắn với mục tiêu phát triển bền vững, hướng tới mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải.
Ban hành cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi số, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất nông nghiệp, bao gồm hỗ trợ chi phí đầu tư hạ tầng, đào tạo nhân lực số, tư vấn chuyển đổi quy trình sản xuất và tiếp cận các nền tảng công nghệ mở. Việc triển khai rộng rãi chương trình “doanh nghiệp số địa phương” sẽ góp phần hình thành các cụm doanh nghiệp công nghệ cao, tạo môi trường tương tác giữa khu vực sản xuất và khu vực nghiên cứu.
Chủ động xây dựng chiến lược số hóa hoạt động, tăng cường chia sẻ dữ liệu, áp dụng công cụ quản trị điện tử, hướng tới mô hình quản lý thông minh, minh bạch và hiệu quả. Khi hạ tầng số được hoàn thiện và công nghệ mới được ứng dụng sâu rộng, tỉnh Quảng Ninh sẽ hình thành nền tảng tri thức số vững chắc, tạo điều kiện để KH&CN thực sự trở thành động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ chuyển đổi số quốc gia.
5. Tăng cường hợp tác, liên kết và hội nhập quốc tế về khoa học - công nghệ
Chủ động xây dựng chiến lược hợp tác quốc tế về KH&CN gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh và Chiến lược phát triển KH&CN quốc gia. Trọng tâm là mở rộng quan hệ hợp tác song phương và đa phương với các tổ chức quốc tế, cơ quan hợp tác phát triển, các viện nghiên cứu và trường đại học có uy tín trong khu vực và trên thế giới.
Trong đó, ưu tiên hợp tác với các tỉnh Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc) trong nghiên cứu, ứng dụng công nghệ năng lượng tái tạo, xử lý môi trường, khai thác khoáng sản xanh và logistics thông minh; đồng thời thúc đẩy liên kết với các nước ASEAN và các đối tác phát triển, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Australia trong đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo.
Tích cực tham gia các mạng lưới đổi mới sáng tạo khu vực, kết nối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) và các trung tâm đổi mới sáng tạo vùng để chia sẻ kinh nghiệm, tiếp cận các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và đầu tư công nghệ cao. Đại học Hạ Long và các cơ sở đào tạo trong tỉnh cần được khuyến khích ký kết thỏa thuận hợp tác với các trường, viện nghiên cứu nước ngoài, triển khai chương trình trao đổi sinh viên, nghiên cứu sinh, chuyên gia; xây dựng các nhóm nghiên cứu chung về công nghệ biển, du lịch thông minh, công nghiệp xanh, năng lượng tái tạo và kinh tế số.
Tăng cường phối hợp với các tổ chức quốc tế, như UNDP, UNESCO, JICA, KOICA, Ngân hàng Thế giới và Liên minh châu Âu trong việc triển khai các dự án hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và đô thị thông minh. Thông qua các dự án hợp tác này, tỉnh Quảng Ninh có thể tiếp cận nguồn lực tri thức, tài chính và công nghệ tiên tiến, đồng thời giới thiệu các sản phẩm, sáng kiến KH&CN của địa phương ra khu vực và thế giới.
6. Đổi mới công tác tuyên truyền, tôn vinh và khuyến khích sáng tạo khoa học - công nghệ
Xây dựng chiến lược truyền thông KH&CN hiện đại, đa kênh, kết hợp giữa tuyên truyền trên các kênh chính thống và nền tảng số, nhằm phản ánh kịp thời các kết quả nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ của các tổ chức, cá nhân trong tỉnh. Các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình và hệ thống thông tin cơ sở cần dành dung lượng thỏa đáng cho chuyên mục “Khoa học - Công nghệ và Đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Ninh”, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò của KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng chính quyền số và chuyển đổi số toàn diện.
Triển khai các hình thức tôn vinh, khen thưởng xứng đáng cho các nhà khoa học, kỹ sư, doanh nhân công nghệ, cá nhân có sáng kiến, giải pháp kỹ thuật được ứng dụng hiệu quả. Việc tổ chức Giải thưởng Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh hằng năm sẽ tạo cơ chế động viên kịp thời, khích lệ đội ngũ trí thức và các tổ chức KH&CN không ngừng sáng tạo, cống hiến. Ngoài ra, tỉnh Quảng Ninh có thể xây dựng Chương trình tôn vinh “Nhà sáng tạo trẻ Quảng Ninh”, khuyến khích học sinh, sinh viên, thanh niên tham gia nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, từ đó hình thành thế hệ kế cận năng động, sáng tạo, có tư duy toàn cầu.
Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước gắn với sáng tạo khoa học, kỹ thuật và đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh, hành chính công. Các tổ chức chính trị - xã hội, như Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật, Liên đoàn Lao động, Tỉnh đoàn,… cần lồng ghép nội dung sáng kiến, cải tiến kỹ thuật vào các phong trào thi đua, tạo động lực lan tỏa rộng rãi trong đời sống xã hội./.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 14, tr. 97
[2] Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 227
[3] Xem: Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2013/08/29.pdf
[4] Xem: Đỗ Thanh Hương, “Phát triển mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập tại Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ngày 8-11-2023, https://tapchikinhtetaichinh.vn/phat-trien-mang-luoi-to-chuc-khoa-hoc-va-cong-nghe-cong-lap-tai-viet...
[5]Xem: Nghị quyết số 13-NQ/TU, ngày 28-4-2023, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh “Về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030”, https://www.quangninh.gov.vn/bannganh/BanDanVan/Lists/TinTuc/Attachments/1953/so%2013%20NQ-TU%20ngay...
[6] Ngọc Nguyên, “Đẩy mạnh phát triển, đưa KHCN vào cuộc sống”, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, ngày 22-10-2025, https://www.quangninh.gov.vn/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=159503
