Phóng sự - Điều tra - Ghi chép

Giữ hồn đất xưa ân tình

Phong Điệp 21/02/2026 08:38

Những ngày cận tết nguyên đán, khi sương sớm còn bảng lảng trên mặt kênh, ấp Đầu Doi, xã Hòn Đất, tỉnh An Giang đã trở nên tấp nập. Ghe chở hàng nối đuôi nhau cập bến, tiếng gọi nhau í ới vang lên giữa mùi đất sét và khói trấu nồng nàn. Những lò nung đỏ lửa suốt ngày đêm, kịp cho ra những mẻ nồi niêu, cà ràng (loại bếp lò đất nung truyền thống, có hình dáng độc đáo, thường giống số 8),... để kịp giao cho thương lái vào vụ tết.

Thuyền chở các sản phẩm của làng đất nung về phố_Ảnh: Phong Điệp
Thuyền chở các sản phẩm của làng đất nung về phố_Ảnh: Phong Điệp

Với người dân Khmer nơi đây, nhịp sống náo nhiệt ấy báo hiệu một vụ mùa bước vào thời gian cao điểm. Ký ức trăm năm của một làng nghề lặng lẽ bám rễ bên dòng phù sa bỗng như bừng thức...

Dưới nắng chiều vàng sánh, ấp Đầu Doi hiện ra bình dị với những dãy nồi niêu, lò đất xếp chồng bên nhau, soi mình bên bến nước. Đất nung ở đây không tráng men lộng lẫy, không hoa văn cầu kỳ, mà mang vẻ mộc mạc rất riêng, như bản chất thuần hậu của những người con miền sông nước.

Nghề nặn nồi đất ở Đầu Doi được hình thành từ khoảng cuối thập niên 20 của thế kỷ XX, khi những hộ người Khmer sinh sống lâu đời tại đây lấy đất sét ven sông tạo tác thành những chiếc nồi đất nung qua lửa dùng để nấu cơm, kho cá phục vụ sinh hoạt gia đình. Từ nhu cầu mang tính tự cung tự cấp, nghề dần lan rộng, trở thành kế sinh nhai, rồi phát triển thành làng nghề truyền thống, được ông bà, cha mẹ truyền lại cho con cháu.

Mỗi khi có dịp, các bậc cao niên trong ấp lại nhắc nhớ con cháu về thuở hưng thịnh, cả làng rực lửa suốt 12 tháng trong năm. Trên bến dưới thuyền, nồi niêu, cà ràng từ Đầu Doi theo ghe thương hồ đi khắp miền Tây, qua cả miền Đông Nam Bộ.

Có thời điểm, toàn vùng có hàng trăm hộ gia đình gắn bó với nghề, tạo nên một không gian lao động sản xuất náo nhiệt. Nghề đất nung không chỉ nuôi sống con người, mà còn định hình lối sống, nếp sinh hoạt, gìn giữ ký ức cộng đồng của người Khmer trên địa bàn.

Không giống những làng gốm nổi tiếng ở miền Bắc như Bát Tràng hay Phù Lãng, đất nung Đầu Doi mang đậm dấu ấn phù sa đồng bằng sông Cửu Long. Đất sét được đem phơi, đập nhỏ rồi nhào trộn cho thật nhuyễn, loại bỏ sạn cát, tạp chất.

Trong ấp, đàn ông đảm nhiệm những công đoạn nặng nhọc như khuân đất, nhồi trộn, dựng lò; phụ nữ phát huy sự khéo léo để tạo dáng nồi niêu và vẽ nên các họa tiết trang trí. Không bàn xoay, không khuôn đúc hiện đại, mọi sản phẩm đều được “đo” bằng cảm giác, bằng kinh nghiệm truyền đời. Mỗi chiếc nồi tròn đều, thành mỏng vừa phải, miệng cân xứng, gửi gắm ân tình của người thợ mà không máy móc nào thay thế được.

Sau khi tạo hình, sản phẩm được phơi nắng tự nhiên khoảng 3 - 4 ngày cho se lại, rồi xếp vào lò nung. Rơm, cỏ tranh phủ ngoài làm mồi, trấu cháy âm ỉ bên trong. Theo các thợ giầu kinh nghiệm truyền lại, lửa phải “nuôi” đều tay 3 đến 4 ngày đêm, không quá gắt để tránh nứt, cũng không quá yếu để sản phẩm bị non, dễ sứt vỡ.

Người thợ canh lò được ví như trông con trẻ vì chỉ cần lơ là, sơ ý chút là mẻ nung có thể hỏng. Gần đây, để tăng độ bền và đáp ứng nhu cầu thị trường, một số hộ đã cải tiến máy nhào đất, lò nung, tiết giảm thời gian, tăng năng suất nhưng tính chất thủ công truyền thống vẫn được giữ nguyên nhằm giữ bản sắc riêng có của làng đất nung Đầu Doi.

Trong đời sống hiện đại, khi bếp từ, bếp gas, nồi inox, nồi điện dần phủ kín căn bếp tại nhiều gia đình, những chiếc nồi đất, bếp cà ràng tưởng chừng đã chấp nhận lùi vào dĩ vãng. Thế nhưng, nồi đất và bếp đất nung vẫn hiện diện bền bỉ trong nhiều gia đình miền Tây và ngày càng được ưa chuộng tại các nhà hàng, quán ăn đặc sản.

Cá kho niêu, cơm niêu, thịt kho nồi đất,... không chỉ là món ăn, mà là ký ức vị giác của người Việt. Lửa than liu riu, nồi đất giữ nhiệt lâu, giúp món ăn chín từ tốn, thấm đều gia vị, tạo nên hương vị đậm đà rất riêng mà nồi kim loại khó sánh bằng.

Nhiều đầu bếp và chủ nhà hàng cho rằng, nồi đất không chỉ là dụng cụ nấu ăn mà còn là “gia vị văn hóa”. Chính sự mộc mạc ấy làm nên bản sắc cho món ăn Việt, nhất là trong bối cảnh ẩm thực truyền thống ngày càng được nhìn nhận như một thành tố quan trọng của công nghiệp văn hóa. Chính bởi vậy, không ít nhà hàng tại các thành phố lớn đã tìm về Đầu Doi đặt hàng nồi đất, cà ràng để phục vụ thực khách, như một cách kể câu chuyện văn hóa thông qua ngôn ngữ của ẩm thực.

Tuy vậy, phía sau những đơn hàng hối hả chuyển đi khắp miền, những người làm nghề vẫn còn nhiều tâm tư, trăn trở. Bởi đất sét ngày càng khan hiếm, chi phí vận chuyển tăng, trong khi giá bán sản phẩm không thể tăng quá cao vì sẽ giảm sức cạnh tranh. Thu nhập từ nghề vì thế giảm dần, lao động lại vất vả, quanh năm lấm lem, không đủ hấp dẫn lớp trẻ.

Tại nhiều gia đình dù cha mẹ vẫn giữ nghề truyền thống nhưng thế hệ con cháu lần lượt rời làng đi làm công nhân, làm thuê nơi khác, thu nhập tốt hơn. Hiện nay, trong ấp Đầu Doi, những hộ kiên trì bám trụ với nghề, chủ yếu là người lớn tuổi và phụ nữ. Lửa lò không còn đỏ quanh năm, mà chỉ rải rác các tháng, chỉ xôm tụ nhất là vào dịp tết.

Ông Nguyễn Văn Hội - sinh năm 1965, một người làm lò đất lâu năm ở Đầu Doi - cho biết, trung bình mỗi ngày ông làm được 100 chiếc cà ràng. Có việc làm đều đều là ông thấy vui rồi. Với ông, mỗi mẻ nồi ra lò là một lần gìn giữ ký ức của ông bà, tổ tiên. Cả cuộc đời ông gắn bó với nghề, cực nhọc, vất vả, nhưng cũng nhờ nghề này ông nuôi được các con khôn lớn.

Chị Nguyễn Thị Lê - sinh năm 1987, con ông Hội - hiện vẫn theo nghề của cha. Hai cha con mở xưởng làm cạnh nhau, vừa đỡ đần, hỗ trợ và tiện chăm sóc nhau vì mẹ mất sớm. Tháng tết, đơn hàng nhiều hơn, chị Lê thuê thêm 4 - 5 thợ, làm công nhật, lương trả theo sản phẩm.

Chị Nguyễn Thị Ngọc Thạch - sinh năm 1995, một nhân công làm thuê ở xưởng kế bên - cho biết, trung bình thu nhập mỗi ngày được 200.000 đồng, cũng đủ trang trải chi tiêu, sinh hoạt. Mùa cao điểm ở làng đất nung thường kéo dài từ tháng 9 đến tết. Ai chăm chỉ, làm được nhiều thì thu nhập sẽ tốt hơn.

Với nhiều người dân làng đất nung, việc giữ nghề không chỉ là mưu sinh mà còn là cách để giúp giữ lại mùi khói, mùi bếp, mùi của gia đình, của ký ức với ông bà, tổ tiên. Bởi vậy, việc giữ nghề đất nung truyền thống ở Đầu Doi không đơn thuần là câu chuyện kinh tế, mà là câu chuyện văn hóa - xã hội.

Trong từng thao tác nhào đất, tạo dáng cho sản phẩm, hay từng đêm canh lửa lò nung,... là sự nối dài của ký ức cộng đồng, là cách người dân tự gìn giữ bản sắc xứ sở giữa dòng chảy hiện đại.

Thời gian qua, chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực trong công tác bảo tồn và phát triển làng nghề đất nung. Hiện nghề làm nồi đất ở đây đã được Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang công nhận là làng nghề truyền thống, cùng với đó, các chương trình hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai nhằm cải thiện sinh kế, ổn định đời sống người dân.

Chính quyền địa phương cũng đề xuất quy hoạch vùng nguyên liệu đất sét, hỗ trợ kỹ thuật cải tiến lò nung, khuyến khích đa dạng hóa mẫu mã để phù hợp hơn với nhu cầu thị trường hiện đại.

Một hướng đi đang nhận được sự quan tâm từ các cấp, ngành đến người dân đó là gắn bảo tồn làng nghề với phát triển du lịch cộng đồng. Đầu Doi được định hướng trở thành điểm dừng chân trong các tour kết nối Rạch Giá - Hòn Đất - Phú Quốc, nơi du khách không chỉ mua sản phẩm, mà còn được trải nghiệm nặn nồi, nhóm lửa, nghe kể chuyện làng nghề bên bếp trấu thơm nồng.

Trong bối cảnh du lịch trải nghiệm, du lịch văn hóa ngày càng được ưa chuộng, đây được xem là cơ hội để làng nghề đất nung tìm thêm sinh khí mới.

Song song đó, việc giữ gìn môi trường sinh thái cũng được đặt ra như một yêu cầu tất yếu. Nghề đất nung ở Đầu Doi sử dụng trấu, rơm - những phụ phẩm nông nghiệp - làm nhiên liệu nung, góp phần hạn chế phát thải và tận dụng tài nguyên bản địa.

Nhiều hộ đã chủ động cải tiến quy trình sản xuất, giảm khói bụi, giữ gìn dòng kênh, bến nước - không gian sống gắn liền với nghề. Đó là cách người dân Đầu Doi tự điều chỉnh để nghề truyền thống tồn tại hài hòa trong định hướng phát triển bền vững.

Chiều buông trên bến sông, những chiếc nồi đất xếp hàng chờ chuyến ghe cuối ngày. Thoảng trong không gian thơm thơm hương của những chiếc nồi đất nung mới ra lò, thân thương và ấp áp, như một lời cam kết về sự bền bỉ của con người nơi đây.

Giữa dòng chảy hiện đại, làng đất nung Đầu Doi không ồn ào níu kéo quá khứ, mà lặng lẽ giữ lấy những giá trị tinh túy để từ đó bước tiếp. Hồn đất xưa vẫn âm ỉ cháy, trong từng mẻ nồi, trong từng bữa cơm niêu đậm đà và trong khát vọng gìn giữ bản sắc của những con người gắn đời mình với đất và lửa./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Giữ hồn đất xưa ân tình
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO