Hội thảo

Giải pháp tăng cường nguồn lực khoa học công nghệ để xây dựng Hà Nội xứng đáng là Thủ đô trong kỷ nguyên mới

PGS.TS. Phạm Thị Thanh Bình - Th.s. Phạm Quang Chính, Đại học Mở Hà Nội - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 25/12/2025 09:22

Trong kỷ nguyên mới, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong đó, khoa học công nghệ (KHCN) là nền tảng, đổi mới sáng tạo (ĐMST) là động lực, chuyển đổi số là kết nối, con người là chủ thể trung tâm. Những tư tưởng này thể hiện rất rõ trong Nghị quyết 57 - NQ/TW (2024) của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (CĐS) quốc gia. Nghị quyết số 57 - NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là kim chỉ nam cho sự phát triển KHCN của Hà Nội trong kỷ nguyên mới.

hoi-thao.jpg

Li thế và tim năng trong phát trin ngun lc khoa hc công nghNi

Mặc dù chỉ chiếm 1% diện tích và 8,5% dân số nhưng đóng góp trên 16% GDP, hơn 18,5% thu ngân sách, khoảng 20% nguồn thu nội địa và 8,6% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước (năm 2024), Hà Nội do đó không chỉ là trung tâm chính trị mà còn là động lực kinh tế quan trọng của Việt Nam. Mục tiêu được đặt ra Hà Nội trở thành trung tâm khoa học công nghệ hàng đầu châu Á, dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo trong khu vực, thu hút 2 - 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở nghiên cứu và phát triển tại Hà Nội nhằm biến Thủ đô thành điểm đến hấp dẫn các doanh nghiệp công nghệ cao thế giới.

Để KHCN phát triển cần phải có nguồn lực KHCN đủ mạnh, Hà Nội có tiềm năng, lợi thế rất lớn về khoa học công nghệ, có trụ sở của hầu hết các tổ chức khoa học công nghệ với 65% các nhà khoa học sinh sống tại Thủ đô. Đội ngũ cán bộ khoa học của Hà Nội đã khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng, nhiều sản phẩm có giá trị ứng dụng công nghệ mới ra đời, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô.

Đóng góp của KHCN cho phát triển kinh tế xã hội được thể hiện qua năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP -Total Factor Productivity) đóng góp gần 46% cho tăng trưởng GRDP của Thủ đô, cao hơn cả nước (44,3%). Năng suất lao động đạt 258,3 triệu đồng/lao động (cao gấp 1,65 lần cả nước). Kết quả nghiên cứu KHCN thông qua số công bố khoa học quốc tế của Hà Nội dẫn đầu cả nước với 15.646 công bố (2015 - 2019), cao hơn gần 2.000 công bố so với TP. Hồ Chí Minh.

Tiềm năng và lợi thế của đội ngũ các nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học trên địa bàn Thủ đô không địa phương nào có được. Đây là nguồn lực vô giá của Hà Nội để phát triển KHCN. Đặc biệt, sự ra đời của Nghị quyết 57-NQ/TW, không chỉ là cơ hội, mà còn là điều kiện cần để Hà Nội hiện thực hóa khát vọng phát triển Thủ đô trở thành trung tâm khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực.

Cùng với Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia, Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân là 2 nghị quyết đã tạo thành một cặp “song hành chiến lược” đặc biệt quan trọng. Nghị quyết 68 sẽ trở thành “kim chỉ nam” cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Để phát triển tiềm lực KHCN, Hà Nội đã phối hợp các bộ, ngành tăng cường thu hút đầu tư vào các dự án KHCN; xây dựng và đưa vào hoạt động Vườn ươm Doanh nghiệp công nghệ thông tin đổi mới sáng tạo Hà Nội, dự án Trung tâm Nghiên cứu chuyển giao công nghệ và giám định công nghệ tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc.

Hà Nội rất chú trọng phát triển nguồn lực KHCN, đặc biệt phát triển nhân lực chất lượng cao, coi nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế. Hà Nội tập trung hơn 70% tổ chức KHCN, trường đại học, viện nghiên cứu và 82% phòng thí nghiệm của cả nước (trong đó có 14 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia), hơn 65% nhà khoa học đầu ngành của cả nước đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội.

Lợi thế có nhiều trường đại học và viện nghiên cứu trên địa bàn (khoảng trên 80 trường đại học và viện nghiên cứu) chính là nguồn lực chất xám quan trọng cho quá trình ĐMST, phát triển Thủ đô. Đại học Quốc gia Hà Nội thuộc nhóm 1.000 trường đại học hàng đầu thế giới với 12 trường đại học thành viên, 5 viện nghiên cứu, 213 phòng thí nghiệm và 45 nhóm nghiên cứu mạnh, đang sở hữu nguồn lực KHCN hàng đầu Việt Nam.

Năm 2025, Đại học Quốc gia Hà Nội thành lập hàng loạt trung tâm nghiên cứu xuất sắc trực thuộc Công viên, như: Viện Ứng dụng Trí tuệ nhân tạo, Viện Công nghệ Bán dẫn và Vật liệu tiên tiến, Viện Tế bào gốc và Y học tái tạo, Viện Công nghệ Môi trường và Viện Nghiên cứu Lượng tử… Đây đều là những mũi nhọn công nghệ tương thích với định hướng phát triển của thế giới và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Công viên thực hiện ba nhiệm vụ chiến lược:

Th nht, thu hút nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển, ươm tạo, đào tạo nhân lực công nghệ cao, chuyển giao tri thức, ĐMST và sản xuất thử nghiệm công nghệ cao.

Th hai, Công viên là môi trường lý tưởng để thu hút chuyên gia trong nước và quốc tế, nâng cao năng lực nội sinh về khoa học công nghệ, hướng tới xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại.

Th ba, Công viên đóng vai trò kết nối giữa viện nghiên cứu - trường đại học - doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy mối liên kết giữa nghiên cứu - đào tạo - sản xuất để tạo ra các sản phẩm công nghệ có sức cạnh tranh toàn cầu. Công viên sẽ trở thành điểm đến tin cậy của các nhà khoa học, doanh nghiệp, các tổ chức đầu tư và ĐMST trong và ngoài nước. Công viên không chỉ là nơi ươm tạo các công trình khoa học có giá trị mà còn là nơi hiện thực hóa khát vọng “vươn mình” của Việt Nam trong sáng tạo, đổi mới và làm chủ công nghệ.

Hà Nội sở hữu nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học với hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, phục vụ cho sự phát triển KHCN. Các cơ sở thí nghiệm được đặt tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Trung Tâm nhiệt đới Việt Nga.

Hệ thống phòng thí nghiệm tiên tiến với kinh phí hàng trăm tỷ đồng, đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế, phục vụ nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, như khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, ứng dụng toán học trong khoa học máy tính, công nghệ hạt nhân, công nghệ hoá học, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu….

Luật Thủ đô (sửa đổi) năm 2024 tạo môi trường thuận lợi cho ĐMST và phát triển khoa học công nghệ. Luật cho phép thử nghiệm công nghệ, sản phẩm và mô hình kinh doanh mới dưới sự kiểm soát đặc biệt từ các cơ quan nhà nước. Đây là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, giúp các doanh nghiệp, tổ chức có thể triển khai ý tưởng sáng tạo. Luật cũng quy định các lĩnh vực khoa học công nghệ trọng điểm mà Hà Nội sẽ tập trung phát triển, bao gồm công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, vật liệu mới, tự động hóa và các giải pháp công nghệ môi trường nhằm giảm phát thải carbon và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ sẽ nhận được sự hỗ trợ về máy móc, thiết bị và ưu đãi tài chính từ ngân sách Hà Nội, tương tự như các doanh nghiệp công nghệ cao. Luật cũng tạo cơ hội cho các trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và tổ chức khoa học công lập được thành lập hoặc tham gia góp vốn vào doanh nghiệp để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, giúp kết nối giữa nghiên cứu và thực tiễn, thúc đẩy ứng dụng khoa học vào đời sống và phát triển kinh tế.

Trong 2 năm 2023 - 2024, Hà Nội đều dẫn đầu cả nước về Chỉ số ĐMST cấp địa phương (PII – Provincial Innovation Index). Hà Nội có hơn 1.000 doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST (chiếm 26% cả nước); thu hút hơn 300 dự án đầu tư lĩnh vực công nghệ cao, với tổng vốn đầu tư lên tới hơn 8 tỷ USD. Hà Nội tiên phong trong phát triển khu đô thị thông minh, tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo AI, dữ liệu lớn (big data) và Internet kết nối vạn vật vào quản lý hạ tầng đô thị, giao thông và y tế, góp phần tạo ra những đột phá trong năng lực cạnh tranh của thành phố.

Năm 2023, Hà Nội lần đầu tiên vào danh sách 200 thành phố có hệ sinh thái khởi nghiệp tốt nhất toàn cầu (đứng thứ 174, theo Startupblink.com). Năm 2024, kết quả công bố của tổ chức Startupblink.com, Hà Nội tăng 17 bậc so với năm trước, xếp hạng 157 về hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, tiếp tục dẫn đầu cả nước về số lượng (180/800) doanh nghiệp khoa học và công nghệ (chiếm hơn 21% cả nước).

Bng: Mc tiêu phát trin KHCN ca Ni, giai đon 2025 - 2045

Mục tiêu
2021-2025
2030
2045
KHCN
Trung tâm KHCN &ĐMST hàng đầu khu vực Đông Nam Á
Trung tâm KHCN & ĐMST hàng đầu châu Á
Thu nhập GRDP/người (USD)
8.300 - 8.500
12.000 - 13.000
36.000
Sở hữu công nghệ thế giới
Phát triển các trung tâm hỗ trợ công nghệ và ĐMST
Có 1-2 tập đoàn lớn của thế giới
Có 2-3 tập đoàn lớn của thế giới
Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP (%)
30
40
50
Đầu tư cho KHCN (% GRDP)
>1,0
1,5 -2,0
Tổng thu NSNN (triệu tỷ VNĐ)
1,4
4
Hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST
Dẫn đầu cả nước
Nhóm dẫn đầu khu vực ASEAN
Nhóm dẫn đầu ở châu Á
Chỉ số Đổi mới sáng tạo (ĐMST)
Dẫn đầu cả nước
Trên 50% doanh nghiệp có hoạt động ĐMST
Đạt trình độ quốc tế

Ngun: Ni ng dng khoa hc - công ngh trong xây dng thành ph thông minh hưng ti phát trin bn vng - Tp chí Cng sn (tapchicongsan.org.vn); Ni đt mc tiêu to đt phá v khoa hc công ngh - Báo Nhân Dân (nhandan.vn).

Mt s hn chế phát trin ngun lc khoa hc công nghNi

Hà Nội là nơi hội tụ hơn 70% các tổ chức khoa học, công nghệ, trường đại học, và viện nghiên cứu của cả nước, cùng với 82% phòng thí nghiệm và nhiều chuyên gia đầu ngành. Hà Nội cũng là điểm kết nối giữa các trung tâm nghiên cứu trong và ngoài nước. Tuy nhiên, lợi thế của Hà Nội chưa được khai thác hết tiềm năng. Số doanh nghiệp có sản phẩm thương mại từ kết quả khoa học công nghệ còn ít, chỉ chiếm vài chục trong số hơn 325.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trên địa bàn thành phố. Nguyên nhân là do:

Th nht, nhn thc ca đi ngũ ca các nhà nghiên cu khoa hc, các nhà qun lý hn chế. Sự kết nối hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai liên kết với thị trường, với doanh nghiệp còn mờ nhạt. Các nhà quản lý chưa chấp nhận rủi ro và chưa tin tưởng người làm nghiên cứu khoa học.

Do đó, trên thực tế, không chỉ việc sử dụng nguồn lực của Nhà nước gặp khó khăn mà cả trong quá trình chuyển giao kết quả nghiên cứu và tài sản hình thành qua các nhiệm vụ KHCN sử dụng ngân sách Nhà nước cũng gặp lúng túng. Do đó, cần phải có sự đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương pháp quản lý, chấp nhận rủi ro để thúc đẩy triển khai ứng dụng công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới dựa trên KHCN.

Sự không tin tưởng của các nhà nghiên cứu khoa học với các nhà đầu tư cũng là vấn đề quan trọng. Sự nhận thức, gặp gỡ trao đổi giữa những người có bí quyết khoa học công nghệ và các nhà đầu tư tài chính, các doanh nghiệp cần có sự tin tưởng, hỗ trợ lẫn nhau. Đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ tuy có tăng về số lượng nhưng chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thiếu tập thể khoa học mạnh, các chuyên gia đầu ngành có khả năng dẫn dắt các hướng nghiên cứu mới và chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ quốc gia ở trình độ quốc tế. Hiệu quả hoạt động của các tổ chức khoa học - công nghệ công lập chưa cao. Hợp tác quốc tế chưa đi vào chiều sâu, thiếu trọng tâm, chưa chú trọng đến chuyển giao, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến.

Th hai, th tc hành chính phc tp, thiếu cơ chế chính sách h tr thúc đy phát trin th trưng khoa hc công ngh. Các nhà khoa học mất khoảng 50% thời gian, công sức để làm thủ tục hành chính. Cơ chế chinh sách chưa đáp ứng yêu cầu khuyến khích, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện đổi mới, chuyên giao, nâng cao trình độ công nghệ.

Hoạt động kết nối nghiên cứu giữa các nhà khoa học với thị trường và doanh nghiệp nhìn chung còn yếu. Thị trường khoa học công nghệ ở Thủ đô còn nhiều hạn chế, thiếu thông tin và các sản phẩm có giá trị, vai trò của các tổ chức trung gian, tư vấn chuyển giao công nghệ mờ nhạt, nhất là các tổ chức có chức năng xúc tiền, định giá công nghệ.

Hành lang pháp lý và cơ chế, chính sách thiếu đồng bộ, chưa thực sự tạo động lực cho phát triển KHCN và ứng dụng kết quả KHCN vào sản xuất. Đặc biệt, các chính sách kinh tế (chính sách đầu tư, thuế, đấu thầu) đang cản trở sự hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp. Cơ chế, chính sách chưa tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các sản phẩm KHCN trong nước và nước ngoài được trao đổi, mua bán trên thị trường.

Thiếu những cơ chế, chính sách thực sự khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới, nhập khẩu công nghệ, nhất là đối với những ngành, lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn để nhanh chóng ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh tạo ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao. Các trung tâm dịch vụ KHCN chưa thực sự phát huy hiệu quả trong việc thúc đẩy dịch vụ chuyển giao, tư vấn, định giá, giám định công nghệ.

Th ba, đu tư cho khoa hc công ngh hn chế. Tỷ lệ chi cho KHCN trên GDP chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế của đất nước. Tỷ trọng chi cho hoạt động khoa học công nghệ chưa thực sự hợp lý, chi đầu tư còn thấp, chi thường xuyên cao. Nguồn lực dành cho khoa học công nghệ hạn chế, kinh phí cho nghiên cứu phát triển chưa đến 0,7% GDP, trong khi mức trung bình các nước phát triển là 2% GDP, có nước 5% GDP. Mức chi cho một số nhiệm vụ KHCN phục vụ thiết thực cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội chưa tới ngưỡng. Đầu tư công cho khoa học, công nghệ chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra.

Đầu tư cho khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước mặc dù đã được tăng, bình quân mỗi năm tăng 16%, đạt 2% tổng chi ngân sách nhà nước nhưng vẫn là một con số quá thấp so với nhu cầu của hoạt động khoa học công nghệ. Các nước tiên tiến đầu tư cho phát triển KHCN, đặc biệt là nghiên cứu các sản phẩm khoa học ứng dụng luôn đạt từ 3 – 5% ngân sách. Rõ ràng sự chênh lệch về vốn đầu tư cho KHCN cũng đã là một thách thức lớn cho KHCN Việt Nam nói chung và KHCN Thủ đô.

Cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị cho hoạt động KHCN còn thiếu và chưa đồng bộ. Ngân sách đầu tư phát triển cho KHCN còn được phân bổ, sử dụng chưa đúng mục đích; máy móc, trang thiết bị của các trung tâm ứng dụng tiến bộ KHCN, trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng nghèo nàn và lạc hậu, chưa được đầu tư, mua sắm kịp thời và đồng bộ.

Th tư, chưa khuyến khích đưc các nhà khoa hc và các doanh nghip nghiên cu, ng dng KHCN. Chưa tạo điều kiện và khuyến khích được các nhà khoa học và các doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng KHCN cũng như chưa tạo ra được thị trường KHCN. Hoạt động KHCN của Thủ đô nhìn chung còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng. KHCN và đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động, khả năng cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô.

Chưa hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư thực hiện đổi mới, chuyển giao, nâng cao trình độ công nghệ; chưa tạo tính tự chủ cho các tổ chức nghiên cứu khoa học; vai trò của các tổ chức trung gian, tư vấn chuyển giao công nghệ còn mờ nhạt, nhất là các tổ chức có chức năng định giá công nghệ, xúc tiến và môi giới chuyển giao công nghệ.

Th năm, thiếu chuyên gia gii đu ngành, trình đ công ngh ca các doanh nghip thp, còn khong cách so vi nhóm đu khu vc Đông Nam Á. Trừ một số lĩnh vực có tốc độ đổi mới công nghệ khá nhanh như công nghệ thông tin - viễn thông, dầu khí, hàng không, tài chính - ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới. Năng lực hấp thụ công nghệ, đổi mới công nghệ, ĐMST của doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế. Năng lực nghiên cứu ứng dụng của các viện nghiên cứu, trường đại học còn khiêm tốn.

Lực lượng cán bộ khoa học công nghệ tuy gia tăng về số lượng nhưng thiếu các chuyên gia giỏi đầu ngành trong nhiều lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực mũi nhọn. Chưa tạo được phong trào đổi mới sáng tạo mạnh mẽ, KH&CN chưa thực sự gắn chặt với thị trường. Các công trình nghiên cứu tầm cỡ quốc tế, có đóng góp đột phá đối với phát triển kinh tế - xã hội còn ít.

Khoa học công nghệ chưa thực sự trở thành động lực và nền tảng cho phát triển kinh tế xã hội, cho tăng trưởng, tái cơ cấu kinh tế và tăng năng suất lao động xã hội. Nhiều kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và địa phương chưa dựa trên cơ sở khoa học chuyên sâu, dẫn đến đầu tư dàn trải, thiếu tính khả thi. Một số nhiệm vụ nghiên cứu chưa bám sát yêu cầu sản xuất và đời sống.

Gii pháp tăng cưng ngun lc khoa hc công ngh cho phát trin Th đô trong k nguyên mi.

Hà Nội hiện có 110 doanh nghiệp KHCN, đứng thứ 2 cả nước. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp KHCN còn khiêm tốn so với tiềm năng và lợi thế vốn có của Thủ đô. Năm 2024, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW được xem như “khoán 10” trong lĩnh vực khoa học công nghệ, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 03/NQ-CP (2025) nhằm thực hiện chương trình hành động của Nghị quyết 57, Hà Nội đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để tăng cường nguồn lực khoa học và công nghệ trong kỷ nguyên mới.

Thứ nhất, tăng cường nguồn ngân sách đầu tư để phát triển hệ thống giáo dục đại học tiệm cận trình độ quốc tế. Khoa học công nghệ là “chìa khóa vàng” để phát triển thịnh vượng. Cần giành ít nhất 3% ngân sách để phát triển khoa học công nghệ, tiếp tục nâng tỷ lệ chi cho khoa học công nghệ lên 2% GDP trong 5 năm tiếp theo (2025-2030). Để phát triển nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao cần phải có đầu tư cho giáo dục đại học.

Giáo dục đại học nếu chỉ dựa vào học phí mà không nhận được sự đầu tư của Nhà nước, thì các trường đại học có thể xa rời sứ mệnh phát triển nền tảng nhân lực, nền tảng khoa học công nghệ. Khi đó, cả hệ thống giáo dục đại học đứng trước nguy cơ thiếu một loạt ngành thiết yếu (nhưng kém hấp dẫn trong tuyển sinh) như: Vật liệu, luyện kim, ô tô, vật lý hạt nhân - những ngành đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của KHCN. Khi không có đội ngũ nhà giáo, đội ngũ chuyên gia, không có nguồn lực tạo nên nền tảng khoa học - công nghệ, rất khó làm đường sắt cao tốc, sản xuất điện hạt nhân, chế tạo ô tô điện.

Những ngành này không chỉ thúc đẩy sự phát triển của KHCN mà còn góp phần vào ĐMST và nâng cao chất lượng cuộc sống. Đội ngũ nhân lực cũng là yếu tố quyết định trong việc tái khởi động dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, cũng như các dự án năng lượng trọng điểm khác của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Hiện nhân lực công nghệ hạt nhân vẫn là một “khoảng trống” lớn, đặc biệt là trong các lĩnh vực quan trọng, như: Lò phản ứng hạt nhân, vật liệu và nhiên liệu hạt nhân, máy gia tốc.

Hà Nội cần tăng cường ngân sách để nâng cao chất lượng đào tạo, giúp sinh viên tiếp cận công nghệ tiên tiến và phát triển kỹ năng chuyên môn. Hà Nội đã dành 49 nghìn tỷ đồng trong ngân sách để phát triển ba lĩnh vực quan trọng: giáo dục, y tế và văn hóa. Một phần ngân sách được sử dụng để nâng cấp cơ sở vật chất trường học, cải thiện chất lượng đào tạo và hỗ trợ các chương trình giáo dục tiên tiến. Nhiều trường đại học tại Hà Nội đang có xu hướng tự chủ tài chính và công bố mức tăng học phí mới cho năm học 2025-2026, tăng từ 2 - 15% nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu.

Th hai, tiếp tc hoàn thin môi trưng pháp lý, th chế h tr phát trin th trưng khoa hc công ngh Th đô. Trong bối cảnh nguồn lực đầu tư cho KHCN còn hạn hẹp, giải pháp hữu hiệu nhất là có hành lang pháp lý thực sự đổi mới để thúc đẩy các nhà khoa học phát huy năng lực sáng tạo, đóng góp thiết thực cho sự phát triển đất nước. Nếu luật pháp không đủ mạnh, không tạo đột phá, sẽ không thể huy động được chất xám và tiềm lực trí tuệ trong và ngoài nước. Đề cao tính minh bạch, khách quan trong quản lý các đề tài và nhiệm vụ KHCN.

Ưu tiên cao nhất cho công tác hoàn thiện thể chế chính sách về KHCN, ĐMST; tập trung kiện toàn sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết 18 đưa thể chế thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Rà soát và sửa đổi các quy định về xét duyệt, quản lý và đánh giá các nhiệm vụ KHCN theo hướng công khai, minh bạch, khách quan cùng với đơn giản hóa các thủ tục hành chính. Đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh cải cách hành chính, thay đổi phương pháp quản lý theo hướng giảm thiểu thủ tục hành chính.

Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản lý nhiệm vụ KHCN. Đẩy mạnh đặt hàng từ các cơ quan, sở, ngành của thành phố. Thành tựu của tất cả các ngành đều có dấu ấn của KHCN và ĐMST. Do đó, tạo được hành lang pháp lý phù hợp chính là “chìa khóa” mở cánh cửa cho KHCN và đổi mới sáng tạo thêm sức bật, thật sự trở thành động lực chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô.

Hoàn thiện thể chế cho phát triển giáo dục đại học với mục tiêu tháo gỡ các điểm nghẽn, giải phóng các nguồn lực, phát huy tiềm năng của tự chủ đại học, phát triển các cơ sở giáo dục đại học thành các trung tâm nghiên cứu, ĐMST mạnh. Bên cạnh đó là các chính sách ưu đãi thuế, tiếp cận vốn vay với các cơ sở giáo dục đại học và các nhà đầu tư cho giáo dục đại học, chính sách hỗ trợ tài chính cho người học, chính sách hỗ trợ đào tạo và thu hút giảng viên, đặc biệt là chuyên gia nước ngoài.

Th ba, tăng cưng và trng dng ngun nhân lc cht lưng cao, nhân tài đáp ng yêu cu phát trin KHCN và chuyn đi s. Phát triển nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ trọng tâm được nêu trong Nghị quyết số 57-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, ĐMST và CĐS quốc gia. Trọng dụng nhân tài và xác định nhân tài phải được dựa trên 3 tiêu chí: i) có tư cách, phẩm chất đạo đức, tinh thần cống hiến. ii) có trình độ, năng lực vượt trội. iii) có sản phẩm và sản phẩm hữu ích cho cuộc sống, đóng góp hiệu quả, thiết thực cho sự phát triển của Thủ đô.

Nhân lực khoa học công nghệ đóng vai trò quyết định, động lực chủ yếu, yếu tố đột phá cho tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước nhanh, bền vững. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bắt đầu từ đột phá trong phát triển giáo dục đại học. Các cơ sở giáo dục đại học không chỉ là cái nôi đào tạo nhân lực chất lượng cao, nuôi dưỡng và phát triển nhân tài khoa học, công nghệ, mà còn là trung tâm nghiên cứu lớn, đi đầu trong chuyển giao công nghệ và ĐMST.

Xây dựng kế hoạch bổ sung nhân lực, cũng như đào tạo, bồi dưỡng nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu khoa học, hỗ trợ khoa học và kỹ thuật phục vụ phát triển nguồn nhân lực điện hạt nhân, nguồn nhân lực ngành bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây. Hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo điều kiện cho các nhóm nghiên cứu trẻ; có cơ chế, chính sách ưu tiên, đột phá, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để thu hút nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài tham gia phát triển khoa học, công nghệ và ĐMST đóng góp vào sự phát triển trong nước.

Th tư, nâng cao cht lưng sn phm nghiên cu khoa hc và phát trin công ngh. Mục tiêu đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động KHCN trên tất cả các lĩnh vực, góp phần phát triển toàn diện, bền vững kinh tế - xã hội. Tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và cải thiện môi trường làm việc chuyên nghiệp để đáp ứng nhiệm vụ phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới.

Chú trọng quản lý và tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc liên quan đến thủ tục; Quan tâm phát triển thị trường khoa học công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp thúc đẩy, chuyển giao, làm chủ công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ hiệu quả hơn, theo hướng xã hội hóa và gắn kết với sản xuất, kinh doanh.

Nâng cao chất lượng sản phẩm nghiên cứu, tăng tính thực tiễn, gắn với việc ứng dụng kết quả nghiên cứu; tạo thuận lợi, hỗ trợ cho đơn vị nghiên cứu, chuyển giao công nghệ phù hợp với cơ chế thị trường. Đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa kết quả nghiên cứu, gắn kết nghiên cứu khoa học với sản xuất, kinh doanh.

Thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo có tập hợp của 3 nhà: nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp. Lựa chọn các sản phẩm chủ lực về KHCN, chọn các sản phẩm KHCN trọng điểm Hà Nội có thế mạnh, như vi mạch, chip AI… và lựa chọn một số đơn vị để thí điểm toàn bộ các cơ chế sản xuất. Khi thành công thì mở rộng mô hình đó ra các đơn vị khác. Với Luật Thủ đô đã được sửa đổi đây sẽ là thí điểm thử nghiệm có kiểm soát.

Th năm, tăng cưng đu tư h tng cho KHCNCĐS. Tăng cường đầu tư hạ tầng cho KHCN và CĐS là chiến lược mang tính nền tảng, trong đó hạ tầng đóng vai trò là yếu tố cốt lõi để tạo đà bứt phá cho phát triển. Thực hiện đầu tư đồng bộ, liên kết mạnh mẽ giữa các ngành, các lĩnh vực. Ưu tiên phát triển hạ tầng số với phương châm “hạ tầng số phải luôn đi trước một bước”, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.

Hạ tầng khoa học công nghệ là nền tảng để thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế như: công nghiệp chế biến, chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch, dịch vụ..., góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Triển khai đồng bộ hạ tầng số tại các khu công nghiệp và Khu Công nghệ cao, bao gồm phát triển mạng 5G, hạ tầng băng rộng cố định (mạng cáp quang) và các trung tâm dữ liệu. Song song đó là các giải pháp tạo lập thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số cung cấp dịch vụ, giải pháp công nghệ cho quá trình chuyển đổi số của các đơn vị trên địa bàn Thủ đô, đồng thời xây dựng các chính sách thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ số và vi mạch bán dẫn.

Th sáu, khuyến khích các doanh nghip và khu vc tư nhân đu tư mnh m cho hot đng KHCN, ĐMST và CĐS. Khuyến khích khu vực tư nhân và doanh nghiệp đầu tư mạnh mẽ cho KHCN và ĐMST nhiều hơn. Huy động hiệu quả mọi nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển thị trường KHCN. Các doanh nghiệp sẽ là “chủ đầu tư” lớn nhất trong lĩnh vực đầu tư phát triển KHCN, do đó cần các cơ chế để khơi thông nguồn đầu tư của doanh nghiệp.

Với lợi thế có nhiều trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu trên địa bàn - đây chính là nguồn lực chất xám quan trọng cho quá trình ĐMST, phát triển Thủ đô. Hà Nội cần tiên phong trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm, đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo. Luật Thủ đô 2024 cho phép Hà Nội được thí điểm thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách nhà nước để hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ cao và khởi nghiệp sáng tạo.

Các quỹ đầu tư tư nhân cũng đang tích cực rót vốn vào các start-up trẻ, đặc biệt là những dự án liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và CĐS. Những khoản đầu tư này sẽ giúp Hà Nội trở thành trung tâm ĐMST hàng đầu, thu hút nhân tài và nguồn vốn từ trong nước lẫn quốc tế.

Th by, tăng cưng hp tác trong nưc và quc tế trong phát trin KHCN, ĐMST CĐS. Hợp tác là nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ và CĐS. Đại học Bách khoa Hà Nội đã hợp tác với VinFast và Viettel để đào tạo nhân lực chất lượng cao, giúp sinh viên có cơ hội thực hành và làm việc trong môi trường công nghệ hiện đại. Hợp tác quốc tế giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng với thế giới, nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng những tiến bộ công nghệ tiên tiến.

Hà Nội đặt mục tiêu xây dựng các chiến lược hợp tác quốc tế toàn diện, nâng cao vị thế của Việt Nam trong các tổ chức và diễn đàn quốc tế. Chủ động hội nhập hợp tác quốc tế, tranh thủ trao đổi, tiếp nhận những thành tựu của thế giới, tận dụng tối đa cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.

Tóm lại, sự ra đời của Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ là cơ hội, mà còn là điều kiện cần để Hà Nội hiện thực hóa khát vọng phát triển Thủ đô trở thành trung tâm KHCN và ĐMST đầu khu vực Đông Nam Á vào năm 2030 và trở thành trung tâm khoa học, công nghệ hàng đầu châu Á, dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế tri thức và ĐMST, trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Xây dựng hệ thống ĐMST của Hà Nội đạt trình độ quốc tế, trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của Hà Nội trên trường quốc tế. Tiềm năng và lợi thế của Hà Nội để hiện thực hoá mục tiêu, đó là đội ngũ các nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học trên địa bàn thủ đô - Những nguồn lực vô giá cho phát triển khoa học công nghệ Hà Nội. Nếu không tập trung xây dựng cơ chế đột phá để KHCN và ĐMST phát triển mạnh mẽ, đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam khó trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Tài liu tham kho chính:

Tổng Bí thư: Khoa học công nghệ là “chìa khóa vàng” để thịnh vượng - Báo VnExpress

Ngô Thế Chi (2025), Phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đưa đất nước phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới | Tạp chí Kinh tế và Dự báo

Nguyễn Cung (2025), Phát huy nguồn lực khoa học, công nghệ để phát triển Thủ đô | VTV.VN

Kim Dung (2025), Thủ đô Hà Nội điểm sáng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Phạm Kiên (2025), Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ

Tùng Linh (2025), Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng vai trò then chốt, là động lực mạnh mẽ để Việt Nam phát triển tăng tốc, bứt phá, bền vững

Thu Hằng (2025), Hà Nội thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo

Gia Huy (2025), https://thanglong.chinhphu.vn/cu-hich-de-ha-noi-tan-dung-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-103250116160854288.htm

Hương G (2025), Hà Nội tập trung nguồn lực để thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ | Báo Pháp luật Việt Nam điện tử

Xuân Quảng (2025), Hà Nội: Khai thác, phát huy các nguồn lực khoa học, công nghệ để phát triển | Vietnam+ (VietnamPlus)

Minh Thư (2025), https://vnexpress.net/9-nhiem-vu-trong-tam-nganh-khoa-hoc-cong-nghe-nam-2025-4834164.html

    Nổi bật
        Mới nhất
        Giải pháp tăng cường nguồn lực khoa học công nghệ để xây dựng Hà Nội xứng đáng là Thủ đô trong kỷ nguyên mới
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO