Giải pháp phát triển văn hóa Tràng An của người Hà Nội trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Tóm tắt nội dung: Sau khi làm rõ khái niệm “Văn hóa Tràng An của người Hà Nội” về thời gian, không gian và chủ thể của nó, bài viết làm rõ một cách khái lược các đặc trưng của văn hóa Tràng An và yêu cầu cần phát triển văn hóa Tràng An của người Hà Nội hiện nay; từ đó đề xuất các giải pháp phát triển văn hóa Tràng An của người Hà Nội trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Khái lược những vấn đề lý luận và thực tiễn
“Tràng An” là một khái niệm dùng để chỉ địa danh kinh đô/thủ đô Thăng Long - Hà Nội ở nước ta, song không phải là khái niệm được dùng chính thức trong các văn bản pháp luật, hành chính, nên không được ghi vào các từ điển khoa học và thông dụng (Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Tiếng Việt…). Nó là khái niệm vay mượn từ văn hóa Trung Quốc, Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh giải thích, Tràng An là Trường An: “Kinh đô nước Tàu xưa bắt đầu từ đời Hán, hiện nay ở huyện Trường An tỉnh Thiểm Tây. Đời sau người ta gọi kinh đô là Trường An” (theo Hán Việt từ điển, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2009, tr. 747).
Với nghĩa đó, ở Việt Nam người ta đã dùng khái niệm Trường An chỉ kinh đô (và kinh thành) Thăng Long - Hà Nội, nhất là trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và đời sống. Chẳng hạn, trong ca dao Hà Nội có câu “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/Dẫu chưa thanh lịch cũng người Tràng An”. Những người sưu tầm, giới thiệu tục ngữ, ca dao, dân ca Hà Nội chú thích “Tràng An là kinh đô nhà Tây Hán (Trung Hoa). Về sau, Tràng An chỉ kinh đô nói chung. Ở đây, Tràng An chỉ kinh đô Thăng Long” (Tục ngữ, ca dao, dân ca Hà Nội, Nxb. Hà Nội, năm 2010, tr. 239).
Chúng tôi tán thành cách lý giải đó, song cho rằng câu ca dao trên nói đến “Tràng An” không chỉ là “kinh đô” Thăng Long mà còn nói đến cả thành phố Hà Nội khi nhà Nguyễn hạ vị thế kinh đô của Thăng Long xuống vị thế trấn thành (Bắc Thành) sau này. Nếu dùng phạm trù “Văn hóa Tràng An của người Hà Nội” e rằng ý nghĩa của nó rất hạn hẹp khi mới chỉ phương diện hào hoa, thanh lịch của người Hà Nội mà chưa nói hết các đặc trưng khác nữa (phong phú, đa dạng và ưu trội về nhiều phương diện).
Do vậy, trong bài viết này, chúng tôi xin được dùng khái niệm “Văn hóa Thăng Long - Hà Nội” thay cho “Văn hóa Tràng An của người Hà Nội”. Như vậy sẽ mở rộng không gian, thời gian và chủ thể cũng như nội dung, tính chất của văn hóa của người Hà Nội.
Giới thuyết về không gian, thời gian và chủ thể của văn hóa Tràng An (Thăng Long - Hà Nội)
Không gian văn hóa Tràng An tất yếu là văn hóa vùng nội đô 61 phường thời Lý - Trần và 36 phố phường thời Lê, Nguyễn, song không gian văn hóa Thăng Long - Hà Nội còn mở rộng trong vùng văn hóa Thủ đô, văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ và văn hóa Hà Nội mở rộng sau ngày 1/8 năm 2008 (sau khi sáp nhập tỉnh Hà Tây và huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc).
Thời gian văn hóa Thăng Long - Hà Nội tất nhiên như tên gọi của nó, có từ khi Thái tổ Công Uẩn nhà Lý dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình ra đây (năm 1010) và khi nhà Nguyễn lập tỉnh Hà Nội cho đến ngày nay. Song văn hóa Thăng Long - Hà Nội đã hình thành từ hàng nghìn năm trước khi Lý Thái Tổ dời đô, nơi có thế đất “rồng cuộn hổ ngồi”, “cao và thoáng”, “muôn vật tốt tươi”, “thật là chốn hội tụ của bốn phương đất nước”. (Chiếu dời đô, năm 1010).
Không gian, thời gian của văn hóa Tràng An (Thăng Long - Hà Nội) như vậy đã chỉ ra chủ nhân của nó - “người Hà Nội” - vừa là một cộng đồng mang tính đặc trưng “thanh lịch” của Tràng An, vừa mang tính tích hợp (hội tụ) các phẩm chất của dân cư vùng kinh kỳ, vùng đồng bằng Bắc Bộ. Sau này, chủ nhân văn hóa Thăng Long - Hà Nội còn bao gồm tất cả con người ở các vùng, miền trong của nước Việt Nam, thậm chí cả người Trung Quốc (khách Tàu), Ấn Độ (Chà Và) và cả người phương Tây (người Pháp)… Họ đã góp phần tạo nên văn hóa Thăng Long - Hà Nội, vừa mang đặc trưng riêng vừa tiếp thu, tiếp biến văn hóa của nhiều dân tộc khác, hội tụ nên bản sắc độc đáo của “văn hóa Tràng An”.
Khái lược về văn hóa Tràng An của người Hà Nội
Văn hóa Tràng An (hay văn hóa Thăng Long - Hà Nội) được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt từ khi người Pháp thống trị nước ta sau năm 1884 với sự ra đời của trường Viễn Đông bác cổ. Sau Cách mạng Tháng Tám giành lại nền độc lập dân tộc, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định đặt Thủ đô tại Hà Nội và gần đây nhân kỷ niệm 990 năm và 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, văn hóa Tràng An (Thăng Long - Hà Nội) được nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về mọi phương diện. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng Văn hóa Tràng An (Thăng Long - Hà Nội) là văn hóa của chốn kinh kỳ “hội tụ và tỏa sáng” văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Văn hóa Thăng Long - Hà Nội bao quát một kho tàng đồ sộ các di sản văn hóa vật chất (vật thể) và tinh thần (phi vật thể) của “người Hà Nội” nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam nói chung. Văn hóa Thăng Long - Hà Nội có bản sắc độc đáo tiêu biểu cho bản sắc dân tộc: “bao gồm những giá trị bền vững, tinh hoa của cộng đồng dân tộc Việt Nam, được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trong nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…” (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII).
Văn hóa Thăng Long - Hà Nội là “tài sản vô giá” của người Hà Nội trong lịch sử hàng nghìn năm tồn tại và phát triển của chính Thăng Long - Hà Nội. Ngày nay, trong bối cảnh mới khi đất nước đang bước đứng trước ngưỡng cửa kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc hiện nay, văn hóa Thăng Long - Hà Nội cần được phát huy vai trò nguồn lực và động lực nội sinh quan trọng nhất cho phát triển Thủ đô và đất nước như phương hướng và nhiệm vụ phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đề ra: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hóa, con người Việt Nam; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất”[(1)].
Tổng Bí thư Tô Lâm, trong buổi làm việc với Thường vụ Thành ủy Hà Nội gần đây cũng nhấn mạnh tinh thần đó. Để Hà Nội vươn mình cùng đất nước cần phải phát huy và phát triển nguồn lực văn hóa to lớn của Thủ đô, nguồn lực con người Tràng An thông minh và thanh lịch, khơi dậy khát vọng vươn mình, sáng tạo các giá trị văn hóa tạo nên động lực cho phát triển. Năm 2022, Thành ủy Hà Nội đã ra Nghị quyết số 09-NQ/TW nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XVI của Đảng bộ thành phố và chương trình công tác toàn khóa của BCH Đảng bộ khóa XVI, nhằm thúc đẩy phát triển văn hóa, con người theo hướng bền vững đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khát vọng vươn lên trong kỷ nguyên mới. Tinh thần ấy sẽ được bàn thảo trong phần tiếp theo.
Bàn về các giải pháp phát triển văn hóa Tràng An của người Hà Nội trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Cần xuất phát từ những hạn chế, yếu kém, bất cập và những điểm nghẽn, nút thắt phát triển chưa được tháo gỡ về văn hóa, con người Việt Nam hiện nay mà Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng để đề xuất các giải pháp phát triển văn hóa Tràng An của người Hà Nội trong kỷ nguyên mới. Đây là xuất phát điểm mang tính thực tiễn, hiện thực trực tiếp cần được nêu ra như là cơ sở khách quan của các giải pháp.
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV cho rằng: “Văn hóa, con người chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực mạnh mẽ của sự phát triển. Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam chậm được làm rõ. An ninh con người có mặt chưa được bảo đảm. Chưa tạo lập được đồng bộ cơ chế, chính sách môi trường xã hội cần thiết cho sự phát triển toàn diện con người…”[(2)]. Sau đây, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp vừa cơ bản, vừa cụ thể để phát triển Văn hóa Tràng An (Thăng Long - Hà Nội) của người Hà Nội (trong phạm vi Hà Nội hiện tại) trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trước hết và tất yếu phải thực hiện nghiêm túc và đầy đủ 13 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030 mà Dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ ra. Trong đó có những giải pháp gắn trực tiếp đến phát triển văn hóa của cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng như:
- Xây dựng, thực hiện và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc.
- Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới; nâng tầm dân trí, chất lượng đào tạo nhân lực, chú trọng phát triển, trọng dụng nhân tài; xây dựng mô hình xã hội học tập; học tập suốt đời.
- Phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tạo động lực chủ yếu để phát triển lực lượng sản xuất mới; nâng cao [i]năng lực và hiệu quả hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia.
- Quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh xã hội và an ninh con người.
- Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với việc biến đổi khí hậu.
Xét thấy các giải pháp này đều là những giải pháp cơ bản và liên quan trực tiếp đến phát triển văn hóa Việt Nam trong thời đại ngày nay mà Thủ đô Hà Nội cần phải thực hiện để phát triển văn hóa của người Tràng An (Thăng Long - Hà Nội) “trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Song các giải pháp trên cần được cụ thể hóa cho phù hợp với đặc điểm, vị thế và vai trò của Thủ đô Hà Nội nói chung và văn hóa Hà Nội nói riêng đối với sự phát triển của văn hóa đất nước trong kỷ nguyên mới. Sau đây chúng tôi xin nêu ra một số giải pháp cụ thể:
Thứ nhất, Hà Nội cần có chủ trương phù hợp, những chính sách ưu tiên để phát huy vị thế vốn có và đang có của Hà Nội - Thủ đô, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học của đất nước từ ngàn xưa và cho đến hiện nay. Hà Nội có thể tận dụng nguồn lực văn hóa là con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng xã hội (các thiết chế văn hóa, các viện nghiên cứu, các cơ quan nghệ thuật…) của mình và của Trung ương, của cả nước (có mặt trên địa bàn Hà Nội) để phát triển văn hóa. Tức là để sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân, để phát triển con người và để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô và đất nước.
Trước đây, trong xã hội truyền thống Hà Nội vốn đã có sức thu hút, hội tụ văn hóa tứ trấn quanh Thăng Long - Hà Nội một cách tự nhiên để có một “Văn hóa của người Tràng An”. Ngày nay, Hà Nội phải tạo ra sức hút tự giác cao, chủ động và tích cực bằng các chính sách trọng dụng nhân tài, liên kết với các tổ chức, cơ quan văn hóa, giáo dục, khoa học, các doanh nghiệp Trung ương, địa phương, quốc doanh, tư nhân tạo nên nguồn lực cho phát triển văn hóa của Thủ đô.
Về nguồn lực cho phát triển văn hóa Hà Nội, cần có chính sách, phương thức thực hiện chủ trương “Hà Nội vì cả nước, cả nước vì Hà Nội” với vị thế Hà Nội là Thủ đô của đất nước. Hà Nội không chỉ coi mình như một địa phương trong 34 đơn vị tỉnh thành trên cả nước một cách khiêm nhường mà dám tự khẳng định, dám tự đòi hỏi để phát triển “vì cả nước”.
Thứ hai, Hà Nội không chỉ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục về khoa học của cả nước mà còn là đầu mối (hay cầu nối) giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa nước ta với các nước trên thế giới. Do vậy, Hà Nội cần có giải pháp phát huy lợi thế địa - chính trị, địa - kinh tế và địa - văn hóa của mình để phát triển văn hóa theo hướng hiện đại. Vấn đề giao lưu, tiếp biến văn hóa là một quy luật (cùng với quy luật kế thừa) để phát triển văn hóa là một tất yếu khách quan. Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hòa, giao thoa văn hóa giữa các quốc gia dân tộc đặt ra vấn đề phát triển, hoặc tàn lụi, tham gia hay quay lưng lại xu thế đó.
Hà Nội có đủ các lợi thế chủ động tiếp thu và biến đổi các thành tựu văn hóa, văn minh của nhân loại từ các giá trị nhân văn, tiến bộ (dân chủ, tự do, nhân quyền…) đến các giá trị cách mạng, xã hội chủ nghĩa; từ giá trị khoa học, công nghệ đến các giá trị sáng tạo (công nghiệp văn hóa; trí tuệ nhân tạo AI…) vận dụng và phát triển văn hóa, văn minh đô thị của thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong những năm qua, tuy Hà Nội ít nhiều đã bước đầu tiếp cận xu thế trên, song vẫn còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng.
Thứ ba, Hà Nội cần quan tâm phát triển “Văn minh đô thị hiện đại” gắn với đặc trưng văn minh, thanh lịch của người Tràng An ở các khu đô thị, các phường, xã mới sáp nhập sau ngày 01-7-2025. Vấn đề tưởng như hiển nhiên và thường nhật như chúng ta vẫn nói, song cần xuất phát từ đặc điểm có tính đặc thù của Hà Nội. Đầu tiên là địa giới Hà Nội mới được mở rộng từ ngày 01-08-2008 (sau khi sáp nhập tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh - Vĩnh Phúc và bốn xã của tỉnh Hòa Bình vào Hà Nội); tốc độ đô thị hóa nhanh chóng. Cư dân tăng một cách cơ học lên hàng chục lần so với trước ngày giải phóng Thủ đô năm 1954 và trước khi bước vào thời kỳ đổi mới (năm 1986). Thành phần cư dân tăng cơ học chủ yếu là cư dân nông thôn di dời ra đô thị sinh sống (lao động, học tập, công tác và kinh doanh, làm nghề tự do), họ có thể chỉ sau một đêm đã biến thành thị dân Hà Nội. Song họ chưa trải qua quá trình “Hà Nội hóa” để thành người Tràng An “Nhất thanh, nhất lịch” theo hướng văn minh, hiện đại.
Vấn đề vừa xuất hiện sau ngày 01-7-2025 là việc sáp nhập nhiều phường, xã cũ thành phường, xã mới đặt ra đòi hỏi phải xây dựng các cộng đồng văn hóa cơ sở mới. Cộng đồng văn hóa phường, xã mới phải đạt trình độ, chất lượng cao hơn, đáp ứng nhu cầu văn hóa tăng lên, phong phú và đa dạng của người dân. Nó không phải là số cộng giản đơn văn hóa của các phường, xã cũ cộng lại, mà cần góp phần gắn kết cộng đồng mới tạo nên đặc điểm và bản sắc riêng.
Phát triển văn hóa của Hà Nội nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung phải gắn với “Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, kiên quyết tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông và giải phóng mọi nguồn lực, phát huy mọi nguồn lực. Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển đất nước của người Tràng An xưa và Hà Nội hôm nay.
Thứ tư, giải phóng mọi nguồn lực, phát huy mọi nguồn lực, trong đó nguồn lực quan trọng có ý nghĩa to lớn là nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn lực của mỗi cá nhân. Đó là năng lực sáng tạo của cá nhân, giá trị cá nhân, lợi ích cá nhân và nhu cầu phát triển cá nhân. Gần 40 năm đổi mới vừa qua (từ năm 1986 đến nay), đất nước ta đã đạt được “những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử” trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, phải chăng do bước đầu đã giải phóng một phần nhu cầu, lợi ích cá nhân. Trong kinh tế là việc xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu bao cấp, bình quân chủ nghĩa trói buộc nhu cầu, lợi ích cá nhân, năng lực làm giàu chính đáng của cá nhân. Trong các lĩnh vực văn hóa, khoa học, giáo dục là sự “cởi trói” khỏi những nguyên tắc gò bó vốn hạn chế năng lực cá nhân, sức sáng tạo cá nhân và cả quyền tự do, tự chủ của cá nhân.
Đây chính là câu trả lời cho một nghịch lý đặt ra qua nhiều nhiệm kỳ Đại hội của Đảng, bởi câu hỏi: Chúng ta cho rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội (và là “nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển”), vậy mà “so với những thành tựu trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; chưa đủ tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI).
Nếu văn hóa chưa phát triển “tương xứng” với sự phát triển kinh tế - xã hội thì nó có thể là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, là động lực và nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển được không? Chỉ có thể đưa ra sự lý giải sau đây: hoặc là chúng ta chưa ý thức được việc phát huy quyền con người, nguồn lực cá nhân là một bộ phận to lớn của nguồn lực văn hóa, hoặc là chúng ta chỉ coi bộ phận nguồn lực cộng đồng, nguồn lực tập thể duy nhất là nguồn lực văn hóa.
Vấn đề đặt ra là chúng ta cần phát huy cao độ nguồn lực cá nhân song song với nguồn lực cộng đồng để tạo nên nguồn tổng hợp lực để phát triển đất nước trong giai đoạn vươn mình hiện nay. Nghị quyết của Đảng vừa qua về phát triển kinh tế tư nhân, coi kinh tế tư nhân là một mũi nhọn quan trọng của kinh tế đất nước là một nhận thức mới và hoàn toàn đúng đắn nhìn từ góc độ cả kinh tế và văn hóa. Nguồn lực con người và nguồn lực cá nhân của con người Hà Nội trong truyền thống và hiện tại chắc chắn ưu trội hơn các địa phương khác trong cả nước. Nó là nguồn tài nguyên vô tận đòi hỏi những quyết sách đúng đắn để phát huy các giá trị.
Thứ năm, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, phát triển đất nước của người Tràng An (Thăng Long - Hà Nội). Chúng ta biết rằng Thăng Long - Hà Nội là nơi hội tụ và tỏa sáng văn hóa Việt Nam, trong đó giá trị ưu trội nhất là tinh thần yêu nước nồng nàn. Thăng Long - Hà Nội cũng là nơi xuất hiện biểu tượng vươn mình của dân tộc từ mấy ngàn năm trước: hình tượng Thánh Gióng vươn mình thành chàng trai Phù Đổng từ một câu bé ba tuổi trở thành anh hùng cứu nước, khẳng định chủ quyền dân tộc thời dựng nước xa xưa. Hình tượng Thăng Long (rồng hiện lên/bay lên) thể hiện sự vươn mình của dân tộc để bảo vệ chủ quyền, độc lập dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, “đóng đô tại nơi trung tâm đất nước”, nơi đế đô bền vững muôn đời của đế vương như Chiếu dời đô của vua Lý Công Uẩn khẳng định từ ngàn năm trước (năm 1010).
Vậy giải pháp nào để chúng ta khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc của cả dân tộc Việt Nam nói chung và của người Hà Nội nói riêng. Giải pháp cơ bản có tính truyền thống là luôn luôn giáo dục tinh thần yêu nước cho các thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là các thế hệ đang tiếp nối, đảm nhận vai trò chủ nhân của đất nước, của Thủ đô Hà Nội.
Cần làm cho họ nhận thức được yêu nước trong thời đại ngày nay là phải làm cho “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, cần phải vươn lên vượt thoát thách thức của sự nghèo nàn, lạc hậu. Vấn đề phát triển đất nước gắn với mệnh đề “tồn tại hay không tồn tại” của một dân tộc - vấn đề mà thời đại toàn cầu hóa đặt ra. Do vậy, yêu nước phải yêu và phải có trách nhiệm với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vươn lên giàu mạnh và văn minh. Phải chuyển đổi giá trị yêu nước trước đây là chiến đấu cho độc lập dân tộc, “không có gì quý hơn độc lập tự do” thành giá trị mới phấn đấu cho sự nghiệp vươn mình của dân tộc hôm nay về “dân giàu, nước mạnh”.
Muốn vậy, cần gắn lợi ích của độc lập, tự do với lợi ích của mỗi con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: nước độc lập, dân phải được hưởng hạnh phúc, tự do, nếu không thì độc lập, tự do không có ý nghĩa gì. Có như vậy người dân mới chuyển đổi và phát triển tình yêu “độc lập, tự do” thành tình yêu chủ nghĩa xã hội, yêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và yêu Thủ đô, có khát vọng vươn lên, phấn đấu cho lợi ích của bản thân và đất nước như một động lực nội sinh quan trọng nhất để phát triển đất nước và phát triển văn hóa./.
[(1)](1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 34
[(2)](2) Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr. 15-16