Hội thảo

Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của kinh tế Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương 31/12/2025 10:46

hoi-thao.jpg

I- Một số nét về thực trạng kinh tế Hà Nội hiện nay

1- Hà Nội hiện đang là một trung tâm kinh tế, một động lực tăng trưởng của cả nước. Về quy mô GDP, hiện Hà Nội vẫn đứng thứ 2 (sau khi hợp nhất còn 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), sau Thành phố Hồ Chí Minh, vượt xa địa phương thứ 3 là thành phố Hải Phòng; về GRDP/người, Hà Nội đứng thứ 4 (khoảng hơn 150 triệu đồng); về thu nội địa đứng thứ 2 và tỷ lệ thu nội địa/GRDP đứng thứ nhất; FDI đăng ký xếp thứ 3; số doanh nghiệp/1.000 dân xếp thứ 2 và về kim ngạch xuất khẩu xếp thứ 6. Tóm lại, kinh tế Hà Nội hiện nay đang thuộc nhóm nhất, nhì của cả nước.

2- Trừ năm 2024, tăng trưởng GRDP của Hà Nội luôn cao hơn bình quân chung của cả nước, tuy khoảng cách không lớn. Như vậy, Hà Nội tuy vẫn là đầu tàu, nhưng động cơ con tàu không còn lớn, mạnh và hiện đại để có thể chạy cao tốc. Thực vậy, 6 tháng đầu năm nay, tăng trưởng GRDP Hà Nội đứng thứ 41/63 địa phương; 20/34 tỉnh, thành phố. Nghĩa là, tăng trưởng kinh tế Hà Nội vẫn nằm nửa dưới của bảng xếp hạng cả trước và sau sáp nhập.

719-202512310913581.png

Nguồn: Cục thống kê (trước đây là Tổng cục thống kê) và Chi cục thống kê Hà Nội (trước đây là Cục thống kê Hà Nội)

Giai đoạn 2021 - 2024, tăng trưởng GRDP của Hà Nội chỉ đạt bình quân/năm là 6,44%; để đạt mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2021 - 2030, thì 6 năm còn lại, tăng trưởng trung bình hàng năm phải đạt 9,87%, tức là cao hơn 3,43% so với 4 năm trước đó. Đây là một nhiệm vụ đầy thách thức.

3- Về cơ cấu kinh tế theo lĩnh vực, Hà Nội khác xa với cả nước, dịch vụ chiếm 66% (cả nước hớn 42%); công nghiệp xây dựng 21%, trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ 15% (cả nước 38%). Cơ cấu kinh tế như vậy rất khó đạt tăng trưởng cao, khi năng suất các ngành dịch vụ còn thấp. Thực tế cho thấy, những địa phương có tăng trưởng cao luôn có tỷ trọng công nghiệp, nhất là công nghiệp chế tạo, chế biến cao trong GRDP của địa phương.

Về cơ cấu thành phần kinh tế, khu vực ngoài nhà nước chiếm 55% GRDP, FDI 11% và khu vực nhà nước 23% - 24%. Như vậy, khác với hầu hết các địa phương có GRDP/người cao, kinh tế Hà Nội không bị chi phối bởi FDI. Trái lại, tỷ trọng kinh tế trong nước, nhất là khu vực tư nhân chiếm vai trò chi phối.

4- Tỷ lệ vốn đầu tư xã hội/GRDP của Hà Nội là tương đối cao, khoảng 39% năm 2023. Trong cơ cấu vốn đầu tư theo thành phần kinh tế, thì khu vực nhà nước đóng góp 35,7%; trong đó, NSNN chiếm 19,4%; khu vực ngoài nhà nước 57,8% (cao hơn so với bình quân chung cả nước); trong đó, vốn của khu vực doanh nghiệp chiếm hơn 47%; của hộ gia đình là hơn 10% và FDI chiếm chỉ 6,5% (thấp hơn nhiều so với bình quân cả nước, khoảng 20%).

Đáng lưu ý, vốn của hộ gia đình chiếm 10% tổng đầu tư xã hội, tức bằng khoảng 4% GRDP; hoạt động hộ gia đình tự cung, tự cấp và làm thuê hộ gia đình cũng “hấp thụ” mất 10% đầu tư xã hội, nhưng hầu như không tạo ra giá trị gia tăng, không đóng góp vào GRDP của Hà Nội. Nên thực chất, tỷ lệ đầu tư/GRDP của Hà Nội cũng chỉ 35%, cao hơn so với bình quân chung cả nước (33,5% - 34%). Như vậy, đóng góp thực sự của tư nhân vào phát triển kinh tế Hà Nội là chưa cao.

5- Về vai trò của một số ngành kinh tế chủ yếu trong kinh tế Hà Nội, có mấy điểm đáng lưu ý sau đây:

Một là, công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ chiếm 15% GRDP, thấp hơn khá nhiều so với bình quân chung cả nước (24% - 25%) và hầu như không thay đổi kể từ năm 2012. Tăng trưởng công nghiệp chế biến, chế tạo đang có xu hướng giảm dần kể từ năm 2011, trung bình 4 năm 2020 - 2023 chỉ đạt 4,6%. Đầu tư cho ngành này cũng đang có xu hướng giảm từ khoảng 12% - 13% tổng đầu tư giai đoạn 2015 - 2020 xuống còn khoảng hơn 9% giai đoạn 2021 - 2023.

Về nguyên tắc, trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiên đại hoá, thì công nghiệp chế biến, chế tạo được đầu tư nhiều nhất, tăng trưởng nhanh nhất và đóng góp ngày càng lớn vào GDP (GRDP); tỷ lệ đóng góp của ngành này trong GDP luôn là chỉ tiêu quan trọng nhất đo lường trình độ phát triển của một nền kinh tế. Vai trò đang giảm dần của công nghiệp chế biến, chế tạo trong kinh tế Hà Nội cần phải được thay đổi.

Hai là, về bán buôn, bán lẻ…, ngành này đang đóng góp ngày càng tăng trong GRDP Hà Nội, khoảng 13% năm 2023; tăng trưởng của ngành cũng đang có xu hướng tăng, nhưng đầu tư vào ngành lại đang giảm từ khoảng 11% tổng đầu tư giai đoạn 2015 - 2019 xuống còn khoảng 6,5% giai đoạn 2020 - 2023. Số siêu thị trên địa bàn Hà Nội liên tục giảm trong mấy năm gần đây.

Đóng góp của ngành ăn uống, lưu trú đang có xu hướng giảm, tăng trưởng không ổn định; tỷ lệ đầu tư cho ngành không cao, chiếm khoảng 1,2% tổng đầu tư xã hội giai đoạn 2015 - 2023.

Ba là, đối với ngành vận tải, kho bãi, đóng góp của ngành trong GRDP có xu hướng giảm nhẹ, từ khoảng hơn 9% năm 2011 xuống còn 8,2% năm 2023; đầu tư xã hội vào ngành lại tăng đáng kể, từ hơn 5,6% năm 2015 lên gần 13% năm 2023.

Bốn là, ngành thông tin - truyền thông có vị trí rất quan trọng của kinh tế Hà Nội. Điều này dễ hiểu vì hầu hết các công ty bưu chính viễn thông quy mô lớn (quốc gia và khu vực) đều có trụ sở chính tại Hà Nội. Tuy vậy, đóng góp của ngành trong GRDP Hà Nội có xu hướng giảm nhẹ, từ khoảng 13% GRDP năm 2011 xuống còn hơn 11% năm 2023; đầu tư vào ngành cũng suy giảm tương ứng từ khoảng gần 6,2% năm 2017 xuống còn khoảng 4,6% tổng đầu tư xã hội năm 2023.

Điều đáng tiếc là tốc độ tăng trưởng của ngành đang giảm sút một cách nhanh chóng, trung bình 4 năm 2020 - 2023 chỉ đạt 5,7%, năm 2023 chỉ còn 2,8%. Thực tế nói trên có thể do các các tập đoàn, tổng công ty trong ngành vẫn chủ yếu tập trung vào cung cấp dịch vu, mà không đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh, chuyển sang sản xuất thiết bị và xây dựng các nền tảng và mô hình kinh doanh mới. Đây có thể là một trong các dư địa cho nâng cấp và phát triển kinh tế Thủ đô trong giai đoạn tiếp theo.

Năm, về dịch vụ tài chính, ngân hàng, tương tự như ngành thông tin, truyền thông, dịch vụ tài chính ngân hàng là một ngành kinh tế quan trọng của Hà Nội. Đa số các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính lớn đều có trụ sở chính tại Hà Nội. Đóng góp của ngành cho kinh tế Thủ đô ở mức cao và liên tục tăng trong mấy năm gần đây, từ hơn 10% năm 2020 lên khoảng 11,3% GRDP năm 2023. Tốc độ tăng trưởng của ngành trong mấy năm gần đây cũng rất cao, trung bình 3 năm (2021 - 2023) khoảng hơn 10%. Tuy vậy, đầu tư cho ngành lại khá thấp, chỉ chiếm trung bình khoảng 1,4% tổng đầu tư xã hội trong 3 năm 2021 - 2023.

Sáu, đóng góp của kinh doanh bất động sản liên tục giảm từ hơn 7,5% GRDP năm 2010 xuống còn hơn 3,7% năm 2023; trong khí đó, đầu tư vào ngành lại chiếm một tỷ trọng rất lớn, trung bình khoảng gần 13% tổng đâu tư trong 3 năm (2021 - 2023); tốc độ tăng trưởng của ngành nhìn chung thấp và biến động thất thường. Thực tế nói trên có thể là biểu hiện của một số vốn lớn đã đầu tư và đang “chết” trong kinh doanh bất động sản ở Hà Nội.

Bảy, giáo dục và đào tạo có vai trò tương đối quan trọng của kinh tế Thủ đô. Nhiều trường đại học, cao đẳng dạy nghề của quốc gia đều đóng trên địa bàn Hà nội. Đóng góp của ngành vào kinh tế Hà Nội tăng dần liên tục từ khoảng hơn 3% năm 2011 lên hơn 5,2% GRDP năm 2023. Đầu tư xã hội vào ngành nhìn chung không cao, trung bình chỉ khoảng 3,7% tổng đầu tư xã hội trong 4 năm (2020 - 2023); tốc độ tăng trưởng của ngành lại có xu hướng giảm, trung bình chỉ khoảng 6% trong các năm gần đây.

Trình bày trên đây cho thấy giáo dục và đào tạo đóng vai trò khá quan trọng trong kinh tế Thủ đô; tuy vậy, vai trò đó chưa thể hiện “đột phá chiến lược” của đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao cho các ngành kinh tế quan trọng của đất nước; chưa giải quyết được thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao cho Hà Nội và cả nước.

Tám, đóng góp của dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội trong kinh tế Thủ đô tăng dần liên tục từ khoảng 1% GRDP năm 2011 lên gần 3,7% năm 2023. Đầu tư cho ngành này nhìn chung chưa cao, ở mức khá ổn định khoảng từ 2,5% - 3% tổng đầu tư xã hội trong thời kỳ 2016 - 2023. Điều đáng nói là tốc độ tăng trưởng của ngành từ sau đại dịch COVID-19 rất thấp, thậm chí âm.

Để Hà Nội là nơi đáng sống, cùng với dịch vụ giáo dục chất lượng cao, đẳng cấp quốc tế, thì dịch vụ y tế chất lượng cao, đẳng cấp quốc tế cũng không kém phần quan trọng. Thực thế cho thấy, Hà Nội đang thiếu hụt cả hai loại dịch vụ nói trên, nên kém năng lực cạnh tranh trong thu hút nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao.

Cuối cùng, hoạt động chuyên môn, khoa học - công nghệ, nghiên cứu phát triển đóng góp khá lớn vào GRDP của kinh tế Thủ đô. Hầu hết các viện nghiên cứu của các bộ, ngành và quốc gia đều đóng trụ sở và hoạt động tại Hà Nội. Tuy vậy, tỷ lệ đóng góp của ngành trong GRDP lại liên tục giảm, từ khoảng 7,5% năm 2013 xuống còn 6,5% năm 2023.

Tương tự, tỷ trọng đâu tư cho hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng giảm từ khoảng 10,5% năm 2017 xuống còn 5% năm 2023; tốc độ tăng trưởng của ngành không cao, trung bình chỉ khoảng 6,5%. Rõ ràng, khoa học - công nghệ ở Hà Nội trong thời gian qua chưa thể hiện được vai trò đột phá chiến lược; chưa phải là động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Tóm lại, Hà Nội vẫn là một trung tâm kinh tế lớn, là đầu tàu kinh tế không chỉ của khu vực phía Bắc, mà còn của cả nước. Tăng trưởng GRDP nhìn chung cao hơn không nhiều so với trung bình toàn quốc. Tuy vậy, nhìn sâu hơn vào đầu tư và cơ cấu kinh tế, ta thấy động cơ của đầu tàu thuộc thế hệ công nghệ cũ, đang lạc hậu và yếu dần; nguy cơ không kéo nổi nền kinh tế với tốc độ cao, ổn định và bền vững.

Cụ thể là, phân bổ vốn đầu tư chưa hợp lý; hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn thấp; công nghiệp chế biến chế tạo, ngành động lực trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tăng trưởng kinh tế không những không được làm mới, mà còn giảm dần vai trò trong kinh tế Thủ đô. Hà Nội là trung tâm kinh tế quốc gia, nơi tập trung tiêu dùng và giải trí, cũng là một động lực tăng trưởng cả trước mắt và lâu dài, nhưng ngành bán buôn, bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng khác đang được đầu tư không tương xứng và có thể suy giảm vai trò trong nền kinh tế Thủ đô.

Trong khi đó, giáo dục và đào tạo, khoa học - công nghệ, thông tin và truyền thông… chưa thể hiện được vai trò tiên phong trong đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo… chưa thực sự trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế. Thực tế nói trên cho thấy, để Thủ đô Hà Nội làm tròn sứ mệnh kinh tế, chính trị của mình đối với cả nước, là đầu tàu kinh tế, thì không có cách nào khác là phải chuyển đổi được sang mô hình tăng trưởng dựa trên nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lựa cạnh tranh và đổi mới sáng tạo.

II- Một số điểm về thực trạng kinh tế tư nhân và môi trường kinh doanh tại Hà Nội

6- Như trình bày trên đây, kinh tế tư nhân của Hà Nội đóng góp khoảng 55% GRDP; 58% tổng vốn đầu tư xã hội, trong đó, vốn từ doanh nghiệp tư nhân chiếm hơn 47%, còn lại là của hộ gia đình. Hiện có khoảng 160 nghìn doanh nghiệp và 358 nghìn hộ cá thể. Khoảng hơn 65% số doanh nghiệp tập trung ở nội thành. Về phân bố theo ngành kinh tế, thì 75% số doanh nghiệp tập trung ở 4 ngành: thương mại (39%), xây dựng (14%), công nghiệp chế biến, chế tạo (12,5%) và dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ (10%). Có thể nói phân bố doanh nghiệp theo ngành và theo địa giới hành chính chưa cân đối; làm thiếu hụt “năng lượng” và tính năng động của kinh tế Thủ đô. Nhưng đó cũng có thể là dư địa làm mới các động lực cũ và xây dựng những động lực mới cho nền kinh tế.

7- Về PCI Hà Nội, có một số điểm đáng lưu ý sau đây:

Tuy 3 năm (2022 - 2024), PCI có cải thiện qua từng năm, nhưng nhìn chung vẫn còn kém hơn so với 3 năm trước đó (2019 - 2021). Vì vậy, xếp hạng PCI của Hà Nội 3 năm gần đây thuộc nhóm trung bình, từ 28 - 20 trong toàn quốc, thấp hơn đáng kể so với trước đây, nằm trong Top 10 của cả nước.

Nhìn chung, gia nhập thị trường, một lĩnh vực cải cách được đánh giá khá thành công ở Việt Nam, điểm số của Hà Nội không cao; trung bình 5 năm gần đây thấp hơn giai đoạn trước đó. Tương tự, tiếp cận đất đai vẫn còn khá nhiều khó khăn, rào cản đối với doanh nghiệp, nên được đánh giá không cao, điểm số của chỉ số này còn thấp, không cải thiện đáng kể trong nhiều năm.

Tính minh bạch cũng được đánh giá không cao; điểm số 3 năm gần đây (2022 - 2024) là ổn định ở mức khoảng 6,4%; nhưng không có cải thiện đáng kể so với 3 năm 2017 - 2029. Có hai chỉ số liên quan là chi phí thời gian và chi phí không chính thức. Điểm số chi phí thời gian đang liên tục sụt giảm trong 3 năm gần đây, trong khi đó, điểm số chi phí không chính thức có cải thiện và giữ ổn định từ năm 2020, ở mức trung bình khoảng 6,8%.

Có vẻ như doanh nghiệp tư nhân, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội đang bị đối xử bất bình đẳng, đang gặp phải cạnh tranh không công bằng với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI.

Tính năng động của chính quyền địa phương, triết lý đằng sau PCI của Hà Nội được đánh giá không cao, đang suy giảm nhẹ liên tục trong mấy năm gần đây. Điều này có nghĩa là lãnh đạo sở ngành, quận, huyện chưa thực sự năng động giải quyết các khó khăn, kiến nghị và yêu cầu của doanh nghiệp; chưa thực sự đồng hành, chia sẽ khó khăn cùng doanh nghiệp, cùng giải quyết nhanh các rào cản phát triển đối với kinh tế Thủ đô.

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá khá cao, có cải thiện đáng kể trong 3 năm gần đây, điếm số năm 2024 là 8,03. Trong khi đó, đào tạo lao động lại đang sụt giảm trong 4 năm gần đây (2021 - 2024) so với 4 năm trước đó (2017 - 2020), từ trung bình khoảng 7,91 xuống còn 7,53.

Tóm lại, môi trường kinh doanh (qua khảo sát PCI) cho thấy, môi trường kinh doanh của Hà Nội chưa thực sự cạnh tranh; còn rất nhiều dư địa để cải thiện, từ gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai… cho đến đào tạo lao động và hỗ trợ doanh nghiệp; nhất là trong các lĩnh vực như tính năng động của chính quyền, tính minh bạch, cạnh tranh bình đẳng và chi phí thực hiện các thủ tục hành chính.

III- Kiến nghị một số giải pháp

Cùng với đánh giá sơ bộ kinh tế Thủ đô và kinh tế tư nhân, môi trường kinh doanh ở Hà Nội hiện nay, xin trình bày một số suy nghĩ về bối cảnh quốc tế và trong nước làm cơ sở đưa ra một số kiến nghị, giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của kinh tế Thủ đô trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

8- Tình hình chính trị, kinh tế thế giới đã biến động rất nhanh, khó thậm chí không đoán định được trong thời gian gần đây. Tuy vậy, có một số yếu tố tác động cả trước mắt và dài hạn đến nền kinh tế nước ta.

Một là, khi Tổng thống Trump nhiệm kỳ thứ 2, đơn phương chấm dứt tất cả hiệp định thương mại mà Hoa Kỳ ký trước đó, đồng thời tuyên bố áp thuế đối ứng với mức cao bất thường, không có căn cứ khoa học, thực tiễn. Thủ tướng Singapore tuyên bố thời kỳ hội nhập quốc tế và thương mại dựa trên luật lệ đã chết. Cạnh tranh và chiến tranh thương mại Trung - Mỹ là trục chính chi phối toàn bộ xu hướng nói trên. Xu hướng bảo hộ mậu dịch và hướng nội đang ngày càng thể hiện rõ nét trong chính sách kinh tế đối ngoaị của hầu hết các quốc gia, kể các các bạn hàng lớn của chúng ta.

Hai là, chiến tranh Trung Đông giữa Iran - Israel và Hoa Kỳ đã tham gia trực tiếp chưa bao giờ khốc liệt như hiện nay. Mặc dù Tổng thống Hoa Kỳ tuyên bố hai bên đồng ý ngừng chiến, đàm phán; nhưng thực tế có thể không phải vậy. Iran và các bên liên quan sẽ không chấp nhận một cuộc chiến tranh trực diện với Israel, nhưng có thể sẽ chọn cách chiến đấu “trong bóng tối” - một cuộc chiến âm thầm, kéo dài không hồi kết.

Ba là, cuộc chiến Ukraine, Trung Đông, cạnh tranh chiến lược và chiến tranh thương mại Trung - Mỹ có thể đang thúc đẩy hình thành cấu trúc địa chính trị vừa có phe, trục, vưà có đa cực; có thể chia cắt thế giới dưới nhiều hình thức, nhưng đồng thời, cũng mở ra cơ hội mới cho hợp tác phát triển.

Bốn là, khoa học - công nghệ phát triển nhanh hơn bao giờ hết. Cùng với đó là các xu thế phát triển như chuyển đổi xanh, kinh tế xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn… ngày càng được ưa chuộng, nhất là ở các quốc gia phát triển Châu Âu. Nhiều nước đã thực hành trên thực tế và Trung Quốc là trường hợp khá thành công trong xu thế chuyển đổi nói trên, nhất là chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi số…

Cuối cùng, có dự báo cho rằng, thập kỷ sắp tới sẽ có tăng trưởng kinh tế toàn cầu suy giảm và ở mức thấp; kéo theo giảm FDI và thương mại toàn cầu.

9- Tình hình thế giới nói trên có thể tác động nhiều mặt đến nền kinh tế nước ta:

Về trước mắt, giảm sức cạnh tranh hàng hoá xuất khẩu của chúng ta; thu hẹp thị trường xuất khẩu; giảm đáng kể kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và có thể làm suy giảm FDI vào nước ta. Về hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, tuy còn nhiều nội dung chưa rõ ràng; nhưng thông tin tiết lộ cho thấy Hoa Kỳ áp 20% thuế đối với tất cả hàng hoá nhập khẩu từ nước ta và 40% đối với hàng hóa chuyển khẩu; 20% và 40% tức là thấp hơn mức thuế dự tính ban đầu là 46%. Ở chiều ngược lại, Việt Nam đánh thuế 0% đối với hàng hoá nhập khẩu từ Mỹ. Tuy nhiên, điều quan trọng nữa là mức thuế áp đối với các đối thủ cạnh tranh là bao nhiêu? Nếu thấp hơn mức đối với nước ta, thì đặt chúng ta vào thế bất lợi trong cạnh tranh xuất khẩu; điều đó, càng làm giảm kim ngạch xuất khẩu của ta sang thị trường Hoa Kỳ; càng khó hơn trong thu hút đầu tư nước ngoài.

Về trung và dài hạn, thực tế nói trên cho thấy mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu và FDI sẽ không còn phù hợp, không chỉ đối với nước ta, mà đối với tất cả các quốc gia đang nỗ lực hết mình, vươn lên để phát triển. Nhiều ý kiến cho rằng việc áp thuế nhập khẩu nói trên tạo áp lực, động lực buộc các nhà đâu tư chuyển giao công nghệ, hợp tác và hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam phát triển đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng; qua đó, làm tăng giá trị gia tăng được tạo ra ở Việt Nam, mang lai lợi ích lớn hơn cho Việt Nam. Nói cách khác, đây là cơ hội để doanh nghiệp Việt phát triển, nâng cao năng lực công nghệ; là cơ hội để nền kinh tế nhanh chóng chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng để quốc gia vươn mình vào kỷ nguyên phát triển mới.

Trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển rất nhanh theo cấp số nhân, con đường phát triển tuần tự có thể được rút ngắn; các nước mới ở giai đoạn 1 và 2 của quá trình phát triển cũng có thể bứt phá chuyển phần nhất định sang giai đoạn 3 của quá trình phát triển[(1)], tức phát triển dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

10- Về bối cảnh trong nước, chúng ta đang thực hiện cuộc cải cách toàn diện có tính cách mạng, gồm:

Trước hết là cuộc cải cách tinh giản, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương, nhất là sáp nhập, hợp nhất giảm từ 63 xuống còn 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bỏ cấp quận, huyện, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, cấp tỉnh và cấp cơ sở (phường, xã…).

Thực hiện cuộc cải cách thể chế với 4 nghị quyết của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 59-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW); tạo bộ tứ chiến lược để đất nước vươn mình vào kỷ nguyên phát triến mới, cùng với hàng loạt chỉ đạo trực tiếp, hợp lý và thực tế của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Quốc hội, Chính phủ đã khẩn trương, quyết liệt ban hành mới, bổ sung sửa đổi hàng loạt văn bản pháp luật tháo bỏ rào cản đối với quyền tự do kinh doanh, khuyến khích đổi mới sáng tạo; bảo vệ tài sản hợp pháp của doanh nghiệp, nhà đầu tư; bảo vệ chủ doanh nghiệp, người quản lý với những nguyên tắc chỉ đạo rõ ràng về không hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sự; qua đó, củng cố mạnh mẽ lòng tin của giới đầu tư kinh doanh.

23 tỉnh (mới hợp nhất) đang mở ra không gian và cơ hội phát triển vượt trội so với trước; chính quyền địa phương phân cấp triệt để theo hướng “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Chính phủ “giao khoán” chỉ tiêu tăng trưởng rất cao cho các địa phương; tạo áp lực và động lực thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của lãnh đạo và chính quyền địa phương.

Tất cả tạo ra cơ hội lớn, thuận lợi chưa từng có đối với cải cách và phát triển kinh tế đất nước nói chung, từng địa phương nói riêng; trong đó, có phát triển kinh tế tư nhân.

11- Cải cách mạnh mẽ, toàn diện xây dựng môi trường kinh doanh của Hà Nội thành một lợi thế cạnh tranh không phải chỉ ở trong nước, mà quan trọng hơn là cạnh tranh quốc tế. Thủ đô Hà Nội phải xây dựng và duy trì được lợi thế cạnh tranh, đồng thời, phải đối mặt với cạnh tranh, nhất là cạnh tranh quốc tế để phát triển. Bởi vì, cạnh tranh và phát triển của Thủ đô Hà Nội không chỉ vì Hà Nội, mà còn vì cả nước. Không cạnh tranh, thì không có phát triển và phát triển để duy trì lợi thế cạnh tranh.

Cần thành lập bộ phận hay tổ chức độc lập trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố, chuyên nghiệp và chuyên trách về cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh và xúc tiến đầu tư. Các giải pháp cải cách cải thiện môi trường kinh doanh Hà Nội phải căn cứ vào: (i) Pháp luật, chính sách của Trung ương (Đảng và Nhà nước), nhất là định hướng phát triển các ngành, công nghệ chiến lược quốc gia; (ii) Các hiệp định và cam kết quốc tế, (iii) Các thông lệ tốt của một môi trường kinh doanh hàng đầu quốc tế và khu vực, (iv) Đặc biệt là yêu cầu, nhu cầu và đề xuất, kiến nghị, phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp tư nhân trong nước, FDI, của các cơ quan nhà nước địa phương và các bên có liên quan khác.

Tức là phải đặt doanh nghiệp và người dân vào vị trí trung tâm; các giải pháp hướng đến xóa bỏ mọi rào cản (trong tư duy, trong văn bản pháp luật, chính sách và trong thực thi...), tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp đâu tư kinh doanh và tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội; đúng như chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm : “Nền kinh tế quốc gia chỉ thực sự cường thịnh khi toàn dân tham gia lao động tạo ra của cải vật chất, một xã hội mà người người, nhà nhà, ai cũng hăng say lao động”.

Cách tiếp cận trong cải cách cải thiện môi trường kinh doanh của Hà Nội là vừa “may sẵn”, vừa “may đo”. Điều đó có nghĩa là, trước hết phải tháo bỏ rào cản, tạo thuận lợi nhất theo yêu cầu, nhu cầu và phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp, các bên liên quan; áp dụng, vận dụng các bài học và các thực tiễn tốt ở trong nước, thực tiễn và thông lệ quốc tế tốt, nhất là từ các môi trường kinh doanh có chất lượng được xếp hàng đầu trong khu vực và quốc tế.

Đồng thời, phải thực hiện cả các giải pháp đáp ứng nhu cầu, yêu cầu của một số “đại bàng” tiêu biểu để thu hút họ, nhất là các “đại bàng” công nghệ và tài chính phù hợp với phát triển các ngành và công nghệ chiến lược quốc gia. Như vậy, Hà Nội vừa làm “Tổ” cho “Đại bàng”, vừa có những “cánh rừng”, những “cánh đồng” cho các “đàn ong” lấy hoa làm mật[(2)].

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, vai trò tiên phong, năng động sáng tạo của lãnh đạo địa phương và những người đứng đầu các cơ quan, tổ chức thuộc chính quyền địa phương là nhân tố quyết định thành công của cải cách cải thiện môi trường kinh doanh. Đối với Hà Nội, thì lãnh đạo các cấp của thành phố không chỉ tiên phong, năng động, sáng tạo trong xóa bỏ rào cản, giải quyết yêu cầu, kiến nghị của doanh nghiệp tư nhân trong nước nói chung, mà còn phải chủ động đến tận trụ sở của các tập đoàn đa quốc gia để xúc tiến, mời gọi các “đại bàng” phù hợp đầu tư vào Hà Nội; trực tiếp đồng hành cùng họ trong đầu tư và hoạt động kinh doanh để có được kết quả mà các bên đều mong đợi.

Cuối cùng, cải cách cải thiện môi trường kinh doanh của Hà Nội phải trở thành hình mẫu cho các địa phương trong cả nước; Hà Nội phải xếp vào hàng đầu trong khu vực và toàn cầu về mức độ cạnh tranh của môi trường kinh doanh.

12- Xây dựng và thực hiện kế hoạch (đề án) phát triển kinh tế tư nhân Thủ đô (cả về lượng và chất) với các mục tiêu tương ứng theo Nghị quyết số 68-NQ/TW, gồm: (i) Số doanh nghiệp đang hoạt động vào năm 2030 và 2045; (ii) Tốc độ tăng trưởng và đóng góp của kinh tế tư nhân Thủ đô trong GRDP, tạo công ăn việc làm, thu ngân sách, xuất khẩu… số tập đoàn quy mô khu vực và số doanh nghiệp tiên phong dẫn dắt.. và phát triển kinh tế tư nhân phải là một nội dung quan trọng trong kế hoạch hàng năm và 5 năm phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố. Kết quả phát triển kinh tế tư nhân có thể là minh chứng hay thước đo trực tiếp cho mức độ thành công của giải pháp cải cách cải thiện môi trường kinh doanh kiến nghị trên đây.

13- Phục hồi, nâng cấp và phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao.

Như trình bày trên đây, giải pháp công nghiệp hóa quá sớm là một trong các nguyên nhân làm cho đầu tàu kinh tế Hà Nội đang chậm dần; nếu tiếp tục, thì kinh tế Thủ đô có thể sẽ không chuyển đổi được mô hình tăng trưởng, không phát triển bứt phá phát triển thành một nền kinh tế hiện đại, thu nhập cao.

Vì vậy, khôi phục, nâng cấp và phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao phải là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu; trong đó có sự tham gia tiên phong và đóng góp quan trọng của kinh tế tư nhân; như chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm: “Kinh tế tư nhân phải là lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, có trách nhiệm xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, tham gia xây dựng xã hội văn minh, hiện đại và góp phần xây dựng một Việt Nam năng động và hội nhập quốc tế. Kinh tế tư nhân cần phấn đấu trở thành lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới, sáng tạo…; ngày càng nhiều doanh nghiệp tư nhân có năng lực cạnh tranh toàn cầu, làm chủ công nghệ và hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng quốc tế; cùng cả nước xây dựng nên một Việt Nam năng động, độc lập, tự chủ, tự cường và phát triển thịnh vượng”.

Theo quy hoạch, Hà Nội hiện có 8 khu công nghiệp đã lấp đầy; còn lại 4 khu công nghệ cao và 15 khu công nghiệp đang xây dựng hoặc mới giai đoạn đầu hoạt động. Cần quy hoạch và mở rộng chúng thành các khu công nghiệp, công nghệ - đô thị - dịch vụ chất lượng cao; riêng đối với Hòa Lạc xây dựng thành thành phố hay công viên khoa học - công nghệ; đồng thời, quy hoạch lại ngành nghề ưu tiên đầu tư (phát triển) phù hợp với thời đại công nghiệp 4.0, kinh tế xanh và định hướng phát triển các ngành và công nghệ chiến lược quốc gia.

Doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia với tư cách vừa là bên trực tiếp tham gia xây dựng các khu khoa học - công nghệ, khu công nghệ cao, vừa là bên “thụ hưởng”. Cụ thể là: (i) Cần tạo điều kiện thuận lợi và thu hút các doanh nghiệp tư nhân đầu tư xây dựng các khu đô thị dịch vụ như một bộ phận không thể thiếu; tạo thành khu khoa học - công nghệ, khu công nghiệp - đô thị - dịch vu. Và một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi về tiếp cận đất đai cho doanh nghiệp tư nhân.

Vì vậy, cần ưu tiên có chọn lọc các doanh nghiệp tư nhân được thuê đất trong các khu công nghiệp, khu công nghệ cao theo các tiêu chí, tiêu chuẩn và điều kiện do Hội đồng nhân dân ban hành, phù hợp với định hướng phát triển của từng khu. Dành quyền ưu tiên tiếp cận đất và “quyền sở hữu”, quyền sử dụng đất trong khu công nghệ cao và công nghiệp công nghệ cao là tạo điều kiện thuận lợi cơ bản để doanh nghiệp tư nhân liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài; từ đó, tiếp nhận chuyển giao công nghệ và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu với tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng ngày càng nhiều hơn cho phía Việt Nam.

14- Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn đầu tư trung và dài hạn.

Để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được vốn đầu tư trung và dài hạn, Hà Nội cần nghiên cứu, thành lập Quỹ đầu tư phát triển kinh tế địa phương với một số đặc điểm sau đây:

- Hình thức pháp lý: Công ty cổ phần do Ủy ban nhân dân nắm cổ phần chi phối.

- Phạm vi hoạt động: đầu tư góp vốn thực hiện các dự án đầu tư phát triển, ưu tiên các dự án của doanh nghiệp vừa và nhỏ của kinh tế tư nhân.

- Được quyền huy động vốn (trừ huy động tiền gửi của tổ chức, cá nhân) bằng cách huy động thêm vốn góp của cổ đông, phát hành trái phiếu doanh nghiệp, huy động vốn cộng đồng và các hình thức huy động vốn khác.

- Được tự chủ lựa chọn các doanh nghiệp để đầu tư góp vốn và hoạt động theo nguyên tắc thị trường “lời ăn, lỗ chịu”.

- Được quản trị độc lập, chuyên trách, chuyên nghiệp theo thông lệ tốt của công ty cổ phần.

15- Xây dựng Hà Nội thành thành phố nghiên cứu phát triển, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo với sự tham gia chủ đông, tích cực của khu vực kinh tế tư nhân.

Thủ đô Hà Nội là nơi tập trung đông đảo các trường đại học, các viện, các tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ hàng đầu cả nước có liên kết toàn cầu với các trường đại học, các viện nghiên cứu có uy tín quốc tế; là nơi tập trung số lượng lớn các nhà khoa học đầu ngành và đội ngũ nghiên cứu, giảng dạy có chất lượng cao.

Ngoài ra, khu vực Đồng bằng sông Hồng, nhất là vùng phía bắc cận kề Hà Nội là khu vực tập trung công nghiệp chế biến, chế tạo của cả nước, trải dài dọc hành lang kinh tế từ Thái Nguyên, Bắc Ninh, Phú Thọ đến Hải Phòng. Vì vậy, Hà Nội hội đủ các điều kiện cần thiết để trở thành thành phố nghiên cứu phát triển, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Đây cũng là môi trường để phát triển và nâng cấp chất lượng của kinh tế tư nhân Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung. Các giải pháp có thể là:

(i) Bổ sung, sửa đổi quy hoạch khu công nghệ cao Hòa Lạc với vai trò, sứ mệnh chủ yếu là nghiên cứu chuyển giao, nắm bắt, làm chủ và phát triển công nghệ của Việt Nam (trong các ngành, công nghệ chiến lược quốc gia), tức là của các doanh nghiệp, các tổ chức khoa học - công nghệ và của cá nhân các nhà khoa học, nghiên cứu; sản xuất công nghiệp chỉ là một phần bổ sung (tuy quan trọng không thể thiếu). Khu công nghệ cao Hòa Lạc là của quốc gia, giao cho Hà Nội quản lý; là một công cụ quan trọng thực hiện chiến lược phát triển công nghệ quốc gia; một nội dung chủ yếu của Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về khoa học, công nghệ.

(ii) Xây dựng khu đô thị - dịch vụ Hòa Lạc với đặc thù và chất lượng phù hợp, bổ sung cho khu công nghệ cao để nơi đây trở thành một thành phố khoa học - công nghệ.

(iii) Xây dựng hạ tầng giao thông kết nối thuận lợi, nhanh chóng với khu vực trung tâm Thủ đô.

(iv) Thành phố cùng hợp tác với các trường đại học, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp tư nhân xây dựng hạ tầng khoa học - công nghệ, gồm trung tâm dữ liệu lớn, các thiết bị mô phỏng, các phòng thí nghiệm, kiểm nghiệm, kiểm định, đo lường… tại các khu công nghệ cao và một số địa điểm phù hợp khác trong thành phố; coi đây là các tài sản công cung cấp các dịch vụ công ích với chi phí hợp lý mà bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cần đều có thể tiếp cận được.

(v) Ban Quản lý các khu công nghệ cao, khu công nghiệp hợp tác, phối hợp với các trường đại học, các viện nghiên cứu khoa học - công nghệ mở các khóa, các chương trình đào tạo chuyên sâu sau đại học về khoa học - công nghệ; chuyển các bộ phận nghiên cứu, đào tạo sau đại học nói trên lên thành phố khoa học - công nghệ Hòa Lạc.

(vi) Hỗ trợ và phối hợp với các trường đại học, các doanh nghiệp công nghệ thực hiện các chương trình đào tạo khởi nghiệp, xây dựng các khu văn phòng làm việc chung, khu ươm tạo doanh nghiệp, trung tâm khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo… tạo điều kiện cho những người đam mê nghiên cứu, cộng đồng khởi nghiệp, các chuyên gia hướng dẫn khởi nghiệp phát triển và chia sẻ các ý tưởng, dự án nghiên cứu, dự án khởi nghiệp sáng tạo; các nhà đầu tư, nhất là đầu tư mạo hiểm, tìm kiếm các ý tưởng, các dự án phù hợp để tài trợ… khích lệ mở rộng phong trào khởi nghiệp trên toàn thành phố.

Có thể bắt đầu từ Trung tâm khởi nghiệp và đối mới sáng tạo của Đại học Bách khoa Hà Nội; thành phố Hà Nội có thể hỗ trợ Trung tâm mở rộng không gian hoạt động, không gian làm việc chung, hỗ trợ mua sắm các thiết bị cần thiết, chi phí vận hành và giải quyết các khó khăn, vướng mắc khác trong mở rộng hoạt động của Trung tâm khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo Đại học Bách khoa; coi đây là mô hình mẫu để xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo khác.

16- Triển khai thực hiện đầy đủ, nhất quán Luật Thủ đô số 39/2024/QH15; đồng thời, nghiên cứu kiến nghị thêm cơ chế, chính sách, cơ chế đặc thù vượt trội nếu xét thấy cần thiết, nhất là cơ chế, chính sách đặc thù cho đầu tư nghiên cứu phát triển, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trong các ngành và công nghệ chiến lược quốc gia, kể cả chế độ đãi ngộ để thu hút hàng chục kiến trúc sư trưởng, kỹ sư trưởng, chủ nhiệm đề án, dự án nghiên cứu là người Việt Nam ở nước ngoài cho các đề án, dự án nghiên cứu phát triển các công nghệ chiến lược quốc gia./.

[(1)] Theo WB thì quá trình phát triển có 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 là giai đoạn tăng trưởng dựa vào lợi thế tài nguyên, thâm dụng nhiều lao động và vốn; giai đoạn 2 là tăng trưởng dựa trên năng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng nguồn lực; giai đoạn 3 là tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo).

[(2)] Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại cuộc họp thường kỳ của Chính phủ tháng 1-2025.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của kinh tế Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO