Đối ngoại, hội nhập quốc tế phải trở thành năng lực kiến tạo phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Sáng 28-8-2026, Tạp chí Cộng sản tổ chức Hội thảo khoa học “Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Cơ sở lý luận, thực tiễn và định hướng chính sách”. Các ý kiến tại hội thảo khẳng định, trước những chuyển động sâu sắc của môi trường quốc tế, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng quan hệ, mà phải nâng cao năng lực kiến tạo môi trường hòa bình, chủ động mở rộng không gian phát triển, củng cố tự chủ chiến lược và chuyển hóa hiệu quả các nguồn lực quốc tế thành sức mạnh nội sinh của đất nước.

Hội thảo được tổ chức trong khuôn khổ Đề tài khoa học cấp Bộ trọng điểm giai đoạn 2026 - 2027 của Tạp chí Cộng sản: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đẩy mạnh công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế của Việt Nam trong kỷ nguyên mới”.
Hội thảo do đồng chí PGS, TS Nguyễn Ngọc Hà - Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản - chủ trì. Tham dự hội thảo có nhiều chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu, những người có nhiều năm hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Hội thảo diễn ra trong bối cảnh Đại hội XIV của Đảng đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước; Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới và Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 19-5-2026, của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV đang đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ nhận thức sang hành động, từ mở rộng quan hệ sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực kiến tạo của đối ngoại.
Việc Bộ Chính trị ban hành Quy định số 214-QĐ/TW, ngày 18-8-2026, về Ban Chỉ đạo Trung ương về đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục tạo cơ sở quan trọng để bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều phối đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống chính trị.
Từ mở rộng quan hệ đến nâng cao năng lực kiến tạo của đối ngoại
Phát biểu đề dẫn hội thảo, PGS, TS Nguyễn Ngọc Hà nhấn mạnh, thế giới đang vận động trong một quá trình chuyển đổi sâu sắc, khi cơ hội và rủi ro không còn xuất hiện tách biệt mà ngày càng đan xen trong cùng một sự kiện, một thị trường, một công nghệ, thậm chí trong cùng một quan hệ đối tác.
Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; chủ nghĩa bảo hộ, sự phân mảnh của chuỗi cung ứng và xu hướng chính trị hóa các quan hệ kinh tế, khoa học, công nghệ ngày càng rõ nét.
Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, tiêu chuẩn xanh, an ninh năng lượng, an ninh mạng và biến đổi khí hậu đang làm thay đổi cả nội dung quyền lực lẫn phương thức các quốc gia bảo vệ lợi ích của mình.

Từ những biến đổi đó, một luận đề xuyên suốt được đặt ra tại hội thảo: đối ngoại, hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới phải được nhìn nhận như một năng lực kiến tạo quốc gia.
Năng lực ấy không chỉ bảo vệ và kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định từ sớm, từ xa, mà còn phải mở đường, lựa chọn và chuyển hóa nguồn lực quốc tế thành năng lực nội sinh; củng cố tự chủ chiến lược, sức chống chịu của đất nước; đồng thời nâng cao vị thế, uy tín và khả năng đóng góp của Việt Nam đối với khu vực và thế giới.
Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề, GS, TS Vũ Văn Hiền - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản - cho rằng, bước vào kỷ nguyên mới, những biến đổi nhanh chóng, sâu sắc và khó dự báo của tình hình thế giới đòi hỏi phải tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về đối ngoại, hội nhập quốc tế của Việt Nam; làm rõ hơn quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập; giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và trách nhiệm quốc tế; giữa sức mạnh nội lực và nguồn lực bên ngoài; giữa hợp tác và đấu tranh; giữa song phương và đa phương.
Theo GS, TS Vũ Văn Hiền, nếu trong những giai đoạn trước, nhiệm vụ chủ yếu của đối ngoại là phá thế bao vây, cấm vận, tạo dựng môi trường hòa bình, mở rộng quan hệ và tranh thủ nguồn lực phục vụ phát triển thì hiện nay yêu cầu đã cao hơn.
Việt Nam không chỉ tham gia mà phải từng bước chủ động đóng góp vào quá trình định hình các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế; không chỉ tiếp nhận nguồn lực mà phải nâng cao năng lực tạo ra, kết nối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực quốc tế; không chỉ bảo vệ lợi ích quốc gia mà còn phải thể hiện vai trò là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Ở một góc tiếp cận khác, PGS, TS Đặng Đình Quý - nguyên Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao - phân tích sự phát triển của công tác đối ngoại Việt Nam từ Đổi mới đến nay trong mối quan hệ giữa tầm vóc, vị thế và năng lực hành động của quốc gia.
Theo cách nhìn của PGS, TS Đặng Đình Quý, vị thế quốc gia không thể chỉ được đánh giá thông qua quy mô kinh tế hay những yếu tố sức mạnh vật chất, mà còn được tạo nên bởi vai trò, uy tín, mức độ đóng góp, khả năng tạo ảnh hưởng và sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế.
Do đó, một yêu cầu quan trọng của đối ngoại trong giai đoạn mới là biết chuyển hóa tầm vóc lịch sử, chiều sâu văn hóa và vị thế ngày càng cao của đất nước thành nguồn lực và năng lực hành động thực chất.
Phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc và vị thế của đất nước, theo cách tiếp cận này, không có nghĩa là phô trương hay đặt mục tiêu vượt quá thực lực, nhưng cũng không được để tiềm lực, uy tín và vị thế mà đất nước đã tạo dựng chưa được phát huy đầy đủ. Đánh giá đúng vị thế là cơ sở để xác định đúng mục tiêu, lựa chọn đúng phương thức và sử dụng hiệu quả các công cụ đối ngoại.
Trong quan hệ song phương, vị thế cần được chuyển hóa thành đòn bẩy để làm sâu sắc các khuôn khổ hợp tác, gia tăng lợi ích đan xen và tạo thêm nguồn lực phát triển.
Trong các cơ chế đa phương, yêu cầu cao hơn là chuyển từ tham gia tích cực sang chủ động đề xuất sáng kiến, đóng góp thực chất và từng bước tham gia định hình các cơ chế, quy tắc, chuẩn mực quốc tế. Như vậy, đối ngoại không chỉ phản ánh vị thế đã có của đất nước mà còn trực tiếp góp phần tạo ra vị thế mới.
Cách nhìn này cũng cho thấy sự phát triển quan trọng trong tư duy đối ngoại Việt Nam qua 40 năm đổi mới: từ chủ yếu phá thế bao vây, mở rộng quan hệ và hội nhập vào hệ thống quốc tế sang chủ động hơn trong việc sử dụng vị thế, uy tín và mạng lưới quan hệ để tạo lập không gian phát triển, tham gia giải quyết các vấn đề chung và nâng cao khả năng tác động tới môi trường bên ngoài.
PGS, TS Vũ Văn Phúc - nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản - nhấn mạnh bước phát triển mới trong tư duy của Đảng khi Đại hội XIV lần đầu xác định đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”.
Đối ngoại trong giai đoạn mới không chỉ là công cụ bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc mà ngày càng trở thành phương thức tạo dựng môi trường, không gian và nguồn lực cho phát triển, đồng thời lan tỏa bản sắc, giá trị và tầm vóc Việt Nam trên trường quốc tế.

Theo PGS, TS Vũ Văn Phúc, yêu cầu đặt ra là chuyển từ trạng thái đối ngoại bảo vệ không gian phát triển sang đối ngoại kiến tạo năng lực phát triển quốc gia; từ hội nhập thị trường sang kiến tạo thị trường; từ tham gia luật chơi sang chủ động đóng góp vào quá trình định hình luật chơi.
Đồng thời, cần củng cố quan hệ với các nước láng giềng, phát triển cân bằng, hài hòa quan hệ với các nước lớn, khai thác thực chất các khuôn khổ hợp tác và nâng cao năng lực dự báo để không rơi vào thế bị động trước những biến động của môi trường quốc tế.
Chuyển hóa thành quả đối ngoại thành nguồn lực phát triển thực chất
Một nội dung nổi bật khác của hội thảo là yêu cầu gắn chặt hơn hoạt động đối ngoại với những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
PGS, TS Phạm Thị Thanh Bình - Trường Đại học Mở - cho rằng, trong kỷ nguyên mới, định hướng chiến lược đối ngoại và hội nhập quốc tế cần tiếp tục giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường; thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa; đồng thời thúc đẩy hội nhập toàn diện, sâu rộng và hiệu quả.
Hội nhập không chỉ giới hạn trong kinh tế mà ngày càng mở rộng sang chính trị, quốc phòng - an ninh, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục và môi trường.
Theo PGS, TS Phạm Thị Thanh Bình, cùng với quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, Việt Nam cần nâng dần năng lực từ tham gia các cơ chế quốc tế sang chủ động đóng góp sáng kiến, tham gia xây dựng các quy tắc và chuẩn mực quốc tế, nhất là trong những lĩnh vực mới như thương mại số, công nghệ, chuyển đổi xanh và an ninh phi truyền thống.
Từ góc độ hội nhập kinh tế, PGS, TS Nguyễn Văn Lịch - Học viện Ngoại giao - cho rằng, những thành tựu của Việt Nam thể hiện rõ ở việc mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, tham gia ngày càng sâu vào các chuỗi cung ứng và mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Tuy nhiên, thách thức trong giai đoạn hiện nay không còn nằm chủ yếu ở câu hỏi Việt Nam “có hội nhập hay không”, mà là hội nhập ở mức độ nào và thu được giá trị gì từ hội nhập.
Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt khoảng 930,1 tỷ USD; tổng vốn FDI đăng ký đạt 38,42 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 27,62 tỷ USD.
Khu vực FDI tiếp tục đóng vai trò lớn trong xuất khẩu và kết nối Việt Nam với mạng lưới sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào những khâu có giá trị gia tăng cao còn hạn chế; liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa chưa tương xứng; khả năng tận dụng các FTA và thích ứng với các tiêu chuẩn mới về công nghệ, chuyển đổi xanh, carbon, dữ liệu, lao động và phát triển bền vững vẫn còn những điểm nghẽn.
Do đó, hội nhập kinh tế trong giai đoạn mới cần chuyển mạnh từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng; từ thu hút vốn đơn thuần sang kết nối vốn, công nghệ, tri thức và nhân lực chất lượng cao; từ gia tăng kim ngạch xuất khẩu sang nâng cao hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng nội địa; từ tham gia chuỗi giá trị sang cải thiện vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.


Khoa học - công nghệ cũng được nhiều đại biểu xác định là một không gian mới và ngày càng quan trọng của đối ngoại.
TS Lê Trung Kiên - Bộ Ngoại giao - cho rằng, ngoại giao khoa học - công nghệ không chỉ là hoạt động hợp tác nghiên cứu theo nghĩa truyền thống. Nội hàm của lĩnh vực này bao gồm sử dụng sức mạnh của ngoại giao để mở cơ hội hợp tác khoa học - công nghệ; sử dụng thế mạnh khoa học - công nghệ để thúc đẩy quan hệ đối ngoại; đồng thời ứng dụng khoa học - công nghệ để hiện đại hóa các hoạt động ngoại giao.
Các công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, lượng tử, dữ liệu lớn, an ninh mạng, công nghệ sinh học tiên tiến ngày càng trở thành không gian vừa hợp tác vừa cạnh tranh, có tác động trực tiếp tới an ninh và phát triển quốc gia. Điều đó đặt ra yêu cầu phải lựa chọn đúng đối tác, đúng công nghệ và đúng phương thức hợp tác; biến các cam kết đối ngoại thành dự án, sản phẩm và năng lực nội sinh cụ thể; tận dụng mạng lưới các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện để kết nối Việt Nam với các trung tâm công nghệ cao trên thế giới.
Xây dựng năng lực thực thi tương xứng với yêu cầu của kỷ nguyên mới
Các ý kiến tại hội thảo thống nhất rằng, chủ trương đúng chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành năng lực tổ chức thực hiện.
Đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, song “toàn diện” không đồng nghĩa với dàn trải; nhiều chủ thể tham gia không thể đồng nghĩa với phân tán trách nhiệm.
Một nền đối ngoại hiện đại đòi hỏi cơ chế phối hợp thông suốt giữa đối ngoại đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ; giữa Trung ương và địa phương; giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp, giới trí thức và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
PGS, TS Vũ Văn Phúc nhấn mạnh yêu cầu nhanh chóng cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình, kế hoạch hành động với mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình và phân công rõ ràng; lấy kết quả cụ thể, tính thực chất làm thước đo hiệu quả.
Cùng với đó là đổi mới cơ chế phối hợp liên ngành, tăng cường ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn trong theo dõi, thực hiện các cam kết quốc tế; xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại có bản lĩnh chính trị, tư duy hiện đại, năng lực chuyên môn và khả năng tổ chức thực thi.


Các đại biểu cũng cho rằng, xây dựng nền đối ngoại toàn diện, hiện đại trước hết phải bắt đầu từ hiện đại hóa tư duy, dữ liệu, phương pháp nghiên cứu, dự báo và chu trình chính sách, chứ không chỉ ở phương tiện hay kỹ thuật.
Chuyên nghiệp phải được thể hiện ở bản lĩnh, trình độ chuyên môn, năng lực ngoại ngữ, pháp lý, đàm phán, công nghệ và khả năng làm việc trong môi trường đa phương, đa văn hóa.
Hiệu quả của đối ngoại vì vậy không nên chỉ được đo bằng số lượng hoạt động, chuyến thăm, khuôn khổ hay thỏa thuận được ký kết. Thước đo quan trọng hơn là những kết quả cuối cùng đối với môi trường hòa bình, không gian phát triển, khả năng huy động và chuyển hóa nguồn lực, mức độ tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế, vị thế quốc gia và lợi ích thiết thực mà người dân, doanh nghiệp được thụ hưởng.
Tổng kết Hội thảo, PGS, TS Nguyễn Ngọc Hà khẳng định, các tham luận và ý kiến trao đổi đã cung cấp thêm nhiều luận cứ khoa học có giá trị, góp phần bổ sung cơ sở lý luận, tổng kết thực tiễn và hoàn thiện các nội dung nghiên cứu của Đề tài; đồng thời làm rõ hơn những yêu cầu đặt ra trong quá trình quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 59-NQ/TW và Nghị quyết số 06-NQ/TW.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, khi môi trường quốc tế biến đổi nhanh hơn, cạnh tranh gay gắt hơn và ranh giới giữa kinh tế, an ninh, công nghệ ngày càng đan xen, nền tảng của đối ngoại Việt Nam vẫn là độc lập, tự chủ, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.
Nhưng cùng với sự kiên định đó, phương thức phải chủ động hơn, năng lực kiến tạo phải mạnh hơn, khả năng chuyển hóa vị thế và quan hệ thành nguồn lực phát triển phải thực chất hơn.
Đối ngoại chỉ thực sự tương xứng với tầm vóc và vị thế mới của đất nước khi vừa góp phần giữ vững môi trường hòa bình, vừa tạo thêm không gian phát triển; vừa củng cố quyền tự chủ, vừa mở rộng khả năng lựa chọn; vừa tranh thủ được nguồn lực quốc tế, vừa làm cho nội lực quốc gia mạnh lên.
Đó cũng là nền tảng để Việt Nam không chỉ thích ứng với những chuyển động của thế giới, mà từng bước chủ động đóng góp, kiến tạo và nâng cao vị thế của mình trong khu vực và cộng đồng quốc tế./.
