Đổi mới tư duy quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và quản lý các thiết chế văn hóa tại tỉnh Quảng Ninh

TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh 18/12/2025 17:03

Quán triệt chủ trương của Đảng, nhận thức rõ vai trò nền tảng tinh thần của văn hóa, những năm qua, Quảng Ninh dành nhiều nguồn lực cho sự phát triển văn hóa, con người, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Trong các yếu tố xây dựng và phát triển văn hóa, hệ thống thiết chế văn hóa đóng vai trò quan trọng, góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Công tác đầu tư, xây dựng, sử dụng và quản lý các thiết chế văn hóa đạt nhiều thành tựu, tuy nhiên cũng đặt ra vấn đề cần đổi mới tư duy quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và quản lý các thiết chế văn hóa của tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay.

Các loại hình thiết chế văn hóa

Thiết chế văn hóa là tổ chức hoạt động nghiệp vụ văn hóa, thông qua cơ sở vật chất, tổ chức bộ máy cán bộ, quy chế hoạt động và các nội dung công tác để xây dựng đời sống văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân về sinh hoạt, hưởng thụ, sáng tạo và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Thiết chế văn hóa giữ vai trò quan trọng trong việc truyền tải các vấn đề văn hóa - xã hội một cách chính thống của nhà nước đến các tầng lớp nhân dân.

Thiết chế văn hóa có thể phân chia thành nhiều loại hình dựa vào các tiêu chí khác nhau.

Theo cấp quản lý: có các thiết chế văn hóa cấp tỉnh; thiết chế văn hóa cấp huyện, thị xã, thành phố; thiết chế văn hóa cấp xã, phường, thị trấn. Các thiết chế văn hóa cấp tỉnh tại tỉnh Quảng Ninh gồm: Cung Quy hoạch, Hội chợ và Triển lãm; Thư viện, Bảo tàng tỉnh; Trung tâm Văn hóa và Điện ảnh tỉnh; Đoàn nghệ thuật Quảng Ninh; Sân vận động Cẩm Phả; Cung Văn hóa thanh thiếu nhi tỉnh; Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể dục thể thao tỉnh... Thiết chế văn hóa cấp huyện, thị xã, thành phố gồm các trung tâm truyền thông và văn hóa, sân bóng đá, nhà luyện tập và thi đấu, thư viện... Các thiết chế văn hóa cấp xã, phường, thị trấn còn gọi là thiết chế văn hóa cơ sở, chủ yếu là hệ thống các nhà văn hóa tại các thôn, bản, khu phố. Hiện nay, Quảng Ninh có 1.448/1.452 thôn, khu có nhà văn hóa, trong đó có 911 nhà văn hóa được đầu tư xây mới, đạt chuẩn[1].

Theo hình thức sở hữu: gồm thiết chế công lập, thiết chế bán công (công ty cổ phần), thiết chế tư nhân. Thiết chế văn hóa công lập do Nhà nước quản lý gồm các trung tâm văn hóa và truyền thông; bảo tàng; thư viện; rạp chiếu phim (toàn tỉnh có 1 rạp chiếu phim do nhà nước quản lý). Thiết chế văn hóa sở hữu tư nhân bao gồm các rạp chiếu phim, khu vui chơi. Trên địa bàn tỉnh hiện nay, ngày càng nhiều thiết chế văn hóa có được sự quan tâm, đầu tư từ các doanh nghiệp trong tỉnh.

Phân cấp theo đối tượng phục vụ, theo Quyết định số 2164/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 11-11-2013, phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013 - 2020, định hướng đến năm 2030, hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao gồm các thiết chế phục vụ đối tượng cộng đồng (nhà văn hóa, khu thể thao, trung tâm văn hóa thể thao các cấp); hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao phục vụ thanh thiếu niên, nhi đồng (nhà thiếu nhi, cung thiếu nhi, trung tâm hoạt động thanh thiếu nhi); hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao phục vụ công nhân viên chức, người lao động (nhà văn hóa lao động, cung văn hóa lao động, trung tâm văn hóa thể thao tại các khu chế xuất, khu công nghiệp và trong các doanh nghiệp lớn)... Do có số lượng người lao động đông, các cấp công đoàn phối hợp với các doanh nghiệp quan tâm đầu tư xây dựng nhiều thiết chế văn hóa phục vụ công nhân, viên chức. Bên cạnh đó, với tiềm năng phát triển du lịch, nhiều thiết chế văn hóa gắn với du lịch cộng đồng cũng đang được đầu tư xây dựng như: làng người Tày (bản Cáu, xã Lục Hồn, huyện Bình Liêu); làng người Sán Chỉ (thôn Lục Ngù, xã Húc Động, huyện Bình Liêu); làng người Sán Dìu (thôn Voòng Tre, xã Bình Dân, huyện Vân Đồn); làng người Dao (thôn Pò Hèn, xã Hải Sơn, thành phố Móng Cái)... Một số thiết chế văn hóa được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa sinh thái tự nhiên với bảo tồn văn hóa dân tộc như: Trung tâm Bảo tồn văn hóa dân tộc Dao (xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ); Khu văn hóa thể thao dân tộc Tày (xã Phong Dụ, huyện Tiên Yên)...

Nhìn chung, với sự quan tâm của tỉnh và các địa phương cùng những tổ chức, doanh nghiệp, thiết chế văn hóa tại Quảng Ninh ngày càng phong phú và đa dạng về loại hình. Các thiết chế văn hóa cơ bản đáp ứng nhu cầu giải trí, học tập, thụ hưởng văn hóa của không chỉ nhân dân địa phương mà cả du khách trong và ngoài nước.

Sử dụng và quản lý các thiết chế văn hóa

Những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể tại Quảng Ninh tích cực triển khai, cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển hệ thống thiết chế văn hóa; nâng cao năng lực quản lý của các cấp chính quyền trong công tác điều hành, chỉ đạo quỹ đất, xây dựng hiệu quả các hoạt động. Điều này được thể hiện qua nhiều hệ thống văn bản chỉ đạo như: Nghị quyết số 11-NQ/TU, ngày 9-3-2018, của Tỉnh ủy Quảng Ninh về xây dựng và phát triển văn hóa con người Quảng Ninh; Kế hoạch số 29/KH-UBND, ngày 13-2-2018, của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc đầu tư, quản lý, khai thác và sử dụng thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020; Đề án nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021 - 2025...

Công tác đầu tư, xây dựng, quản lý các thiết chế văn hóa luôn có được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và sự đồng thuận, chung sức của quần chúng nhân dân. Hiện nay, 100% số địa phương trong tỉnh đều có các thiết chế văn hóa, trong đó có nhiều thiết chế văn hóa đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Một số chương trình, đề án như Đề án 196, Chương trình 135, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới,... kết hợp lồng ghép công tác đầu tư, xây dựng, sửa chữa nhà văn hóa mang lại những kết quả nổi bật trong những năm gần đây. Cụ thể, năm 2017, cả tỉnh Quảng Ninh đã xây mới 30, sửa chữa 6 nhà văn hóa; năm 2018 xây mới 38, sửa chữa 8 nhà văn hóa; năm 2019 xây mới 52, sửa chữa 7 nhà văn hóa; năm 2020 xây mới 22, sửa chữa 6 nhà văn hóa... Tại nhiều huyện, thị xã, thành phố thu hút các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư, xây dựng, quản lý các thiết chế văn hóa thể thao có quy mô lớn như: thị xã Đông Triều, thị xã Quảng Yên, thành phố Cẩm Phả... Tiêu biểu có 15 công ty than đầu tư 41 công trình cho công nhân (sân tennis, bể bơi, sân bóng, nhà văn hóa...); Công ty TNHH Đông Triều đầu tư 250 tỷ đồng xây dựng công viên Hà Lan; Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và khai thác mỏ Tân Việt Bắc đầu tư trên 100 tỷ đồng xây dựng nhà luyện tập và thi đấu đa năng, sân bóng đá, sân golf, bể bơi, trung tâm tổ chức sự kiện...

Các thiết chế văn hóa phát huy tốt vai trò là nơi tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân. Hằng năm, trung bình mỗi huyện, thị xã, thành phố kẻ vẽ trên 300 pano, áp phích, gần 1.000 lượt băng rôn khẩu hiệu tuyên truyền về pháp luật, kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh, phục vụ các sự kiện chính trị, các ngày kỷ niệm của đất nước và địa phương... Các nhà văn hóa thôn, khu vực trung bình hoạt động khoảng 30 - 40 lượt/nhà/năm cho các hoạt động như họp dân, họp chi bộ... Thông qua các thiết chế văn hóa, nhiều giá trị văn hóa đã được bảo tồn, gìn giữ và phát huy. Người dân cũng được tham gia đóng góp ý kiến, được nói lên nhu cầu, nguyện vọng của mình.

Các thiết chế văn hóa thực hiện nhiều hoạt động, cơ bản đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân, trở thành nơi gắn kết cộng đồng dân cư, thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí, hưởng thụ văn hóa, rèn luyện thể dục thể thao của quần chúng. Nhiều thiết chế văn hóa cấp tỉnh tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao lớn, mang tầm quốc tế: Lễ hội hoa Anh đào - Mai vàng Yên Tử; Chương trình Gala xiếc ba miền; Giải marathon quốc tế Di sản Vịnh Hạ Long; Ngày quốc tế Yoga; Festival âm nhạc quốc tế Hạ Long... Hệ thống bảo tàng, thư viện, cung quy hoạch, hội chợ, triển lãm thu hút hàng nghìn lượt khách trong nước và nước ngoài tham quan. Khu Liên hiệp thể thao Quảng Ninh trong 5 năm (2018 - 2022) đăng cai tổ chức 25 giải quốc tế, 57 giải quốc gia, tổ chức 7 môn thi đấu SEA Games 31; 21 môn tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ IX năm 2022... Ở tuyến huyện, các thiết chế văn hóa bình quân tổ chức từ 10 đến 14 sự kiện, giải thể thao cấp huyện và nhiều hội diễn nghệ thuật quần chúng cấp huyện, thị xã, thành phố. Các thiết chế văn hóa phục vụ nhu cầu cho từng đối tượng quần chúng cụ thể cũng khai thác sử dụng. Tiêu biểu như Cung Văn hóa lao động Việt - Nhật phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức sân chơi sau giờ thứ 8; thi tiếng hát karaoke tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; tổ chức chương trình “Tết sum vầy”, thành lập “Điểm sinh hoạt văn hóa công nhân”, tổ chức sinh hoạt định kỳ với 12 đơn vị công đoàn cấp trên cơ sở và công đoàn cơ sở tham gia. Tại cung văn hóa, nhà thiếu nhi, các cấp đoàn đã triển khai nhiều hoạt động vui chơi bổ ích, các lớp đào tạo kỹ năng “Hành trình đi để biết, học để sống”, “Kỳ hè phiêu lưu ký, học làm người nông dân” cho hàng nghìn thiếu nhi vào mỗi dịp hè.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc sử dụng và quản lý các thiết chế văn hóa tại Quảng Ninh hiện nay vẫn còn một số bất cập, hạn chế.

Hệ thống thiết chế văn hóa đầu tư chưa đồng bộ, một số thiết chế văn hóa được đầu tư xây dựng nhưng còn lãng phí, chưa khai thác và sử dụng hết công năng. Công viên sinh viên có vị trí tại phường Nam Khê (thành phố Uông Bí) được thành lập với mong muốn trở thành công trình hiện đại, thu hút giới trẻ nhưng sau vài năm đi vào hoạt động lại đứng trước nguy cơ bị bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, nhiều hạng mục bằng sắt hoen gỉ, không có người đến tham quan, vui chơi... Nhà văn hóa được xây dựng ở tất cả các địa phương, nhưng một số nơi các hoạt động còn đơn điệu, chủ yếu dừng lại ở hội họp, chưa thu hút được sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhân dân.

Một số thiết chế văn hóa mới được đầu tư xây dựng, nhưng đã có dấu hiệu xuống cấp. Cung văn hóa thiếu nhi thành lập năm 1992, được đầu tư hơn 340 tỷ đồng và tiếp tục đưa vào sử dụng từ đầu năm 2019, nhưng đã có nhiều hạng mục xuống cấp, mưa nhiều gây thấm dột, đường ống thoát nước bị phá vỡ. Công viên hoa trăm tỷ tại phường Bạch Đằng (thành phố Hạ Long) cứ mưa là lại ngập nước, đường trơn trượt làm mất mỹ quan và gây nguy hiểm cho người dân.

Nguồn nhân lực trong các thiết chế văn hóa còn thiếu và hạn chế. Ngay cả một thiết chế văn hóa tự chủ như Bảo tàng Quảng Ninh cũng chia sẻ những khó khăn về đội ngũ hướng dẫn viên thuyết minh còn thiếu và hạn chế về trình độ chuyên môn trước sự phát triển ngày càng tăng của số lượt khách trong nước và quốc tế.

Công tác lãnh đạo, quản lý văn hóa nói chung, quản lý các thiết chế văn hóa nói riêng còn chậm đổi mới, đôi lúc nặng về hình thức. Ở một số địa phương, công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện còn chưa đồng bộ. Trong quá trình quản lý các thiết chế văn hóa, một số địa phương chưa có gắn kết hài hòa các lợi ích, chưa thích ứng nhanh với sự thay đổi từ thực tiễn.

Vấn đề gìn giữ, bảo tồn các thiết chế văn hóa cũng đứng trước những khó khăn, thách thức. Bảo tàng Quảng Ninh chỉ đóng cửa 1 ngày (thứ hai cuối cùng của tháng) để bảo quản, vệ sinh các hiện vật. Theo thống kê, trung bình mỗi ngày Bảo tàng Quảng Ninh đón hàng nghìn lượt khách đến tham quan, trải nghiệm. Đặc biệt trong các dịp lễ tết, cuối tuần, có thời điểm lượng khách đến tham quan đạt hơn 10.000 lượt/ngày. Điều này mang đến doanh thu, quảng bá hình ảnh, văn hóa, lịch sử, con người Quảng Ninh, khẳng định sức hút của công trình độc đáo nhưng cũng đặt Bảo tàng Quảng Ninh trước những thách thức về việc bảo tồn, gìn giữ các hiện vật.

Cần đổi mới tư duy quản lý các thiết chế văn hóa

Để nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy giá trị của các thiết chế văn hóa trên địa bàn tỉnh, Quảng Ninh cần thực hiện đổi mới tư duy quản lý các thiết chế văn hóa, chú trọng một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, đổi mới cơ chế quản lý, mở rộng chủ thể quản lý các thiết chế văn hóa. Cần quyết tâm thực hiện Đề án nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở trên địa bàn Quảng Ninh với mục tiêu đến năm 2025, phấn đấu 100% số thiết chế văn hóa thể thao cấp tỉnh tự chủ từ 50% đến 100%; các trung tâm văn hóa, thể thao cấp huyện thực hiện cơ chế tự chủ từ 20% đến 70%; 20% số trung tâm văn hóa, thể thao cấp xã thực hiện xã hội hóa theo hình thức liên doanh liên kết đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác công trình sân thể thao, nhà luyện tập thể dục thể thao.

Hiện nay, các thiết chế văn hóa tại tỉnh Quảng Ninh chủ yếu do Nhà nước và tư nhân quản lý như: Cung Văn hóa thiếu nhi do Tỉnh Đoàn quản lý; Cung Văn hóa hữu nghị Việt - Nhật do Liên đoàn Lao động tỉnh quản lý; các thiết chế văn hóa thể thao của các đơn vị, công ty thuộc Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam và các doanh nghiệp tư nhân trong tỉnh quản lý... Để phát huy hơn nữa hiệu quả quản lý, cần huy động quần chúng nhân dân, tăng ý thức, trách nhiệm của quần chúng nhân dân trong việc sử dụng, quản lý các thiết chế văn hóa; khuyến khích quyền tự chủ của các tổ chức, cá nhân được liên doanh, liên kết đầu tư xây dựng và tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, đặc biệt ở cấp xã.

Hai là, tích cực mở rộng, huy động nguồn lực xã hội hóa. Đề án Nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025 khẳng định: “đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa trong việc xây dựng, phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở”. Do đó, việc xã hội hóa các hoạt động văn hóa nói chung, xã hội hóa trong xây dựng và quản lý các thiết chế văn hóa nói riêng vừa là yêu cầu tự thân, vừa là mục tiêu hàng đầu trong việc phát triển văn hóa dân tộc. Xã hội hóa huy động và xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp dân cư trong xã hội tự nguyện tham gia, phát huy sức người, sức của xây dựng phát triển các thiết chế văn hóa. Xã hội hóa giúp thay đổi động năng trong mối quan hệ giữa 3 thành tố: Nhà nước, thị trường và xã hội. Thực hiện tốt xã hội hóa góp phần chuyển dần vai trò của Nhà nước từ vị trí chủ thể sang vai trò bảo trợ và kiến tạo; đưa cá nhân, cộng đồng trở thành trung tâm của các hoạt động văn hóa.

Công tác xã hội hóa trong xây dựng và quản lý các thiết chế văn hóa tại Quảng Ninh tuy đạt được những kết quả nhất định, nhưng hiệu quả còn chưa cao, chủ yếu huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp, chưa có cơ chế rõ ràng, chưa tạo được động lực thực sự cho các cá nhân, tổ chức, nhóm cộng đồng. Muốn huy động nguồn lực xã hội hóa cần có cơ chế chính sách khuyến khích, thu hút nguồn vốn xã hội hóa như: chia sẻ lợi ích giữa các bên tham gia đầu tư, xây dựng, sáng tạo, sản xuất và phân phối sản phẩm văn hóa; miễn, giảm thuế đất đối với các nhà đầu tư tham gia xây dựng thiết chế văn hóa; quảng bá, ghi danh các khoản đóng góp, tài trợ... Khi thực hiện xã hội hóa, cần chú trọng và đề cao tính tích cực, chủ động, trách nhiệm, nâng cao lòng tự hào của các tầng lớp dân cư; tránh rơi vào trường hợp gượng ép, bắt buộc bởi các tầng lớp dân cư vừa là chủ thể cũng vừa là đối tượng hưởng thụ các giá trị văn hóa.

Ba là, tích cực đổi mới, đa dạng hóa các hoạt động tại các thiết chế văn hóa trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, nắm bắt nhu cầu, thị hiếu, tâm lý lứa tuổi của các đối tượng quần chúng khác nhau; phân tích, dự báo xu hướng phát triển các hoạt động văn hóa trước bối cảnh giao lưu hội nhập; gắn các hoạt động văn hóa với phát triển du lịch. Hiện nay, ngoài các thiết chế văn hóa tâm linh (Chùa Ba Vàng, Chùa Cái Bầu, Chùa Yên Tử, Đền Cửa Ông, Chùa Lôi Âm...), chỉ có Bảo tàng Quảng Ninh, Công viên Sun Work Park được chọn là những điểm du lịch tiêu biểu trên địa bàn. Các thiết chế văn hóa cần có những biện pháp đa dạng hóa hoạt động, xây dựng những sản phẩm văn hóa riêng, đặc sắc, đưa nhiều hơn nữa các thiết chế văn hóa trở thành điểm đến hấp dẫn trong tour du lịch Quảng Ninh, góp phần quảng bá hình ảnh, văn hóa, con người Quảng Ninh ở trong nước và quốc tế.

Bốn là, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm việc trong lĩnh vực văn hóa nhằm quán triệt quan điểm Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng: “đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, nhất là cán bộ chủ chốt thực sự am hiểu về văn hóa, có phẩm chất, bản lĩnh, năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ”[2]. Theo thống kê, toàn tỉnh Quảng Ninh có 182 cán bộ văn hóa, trong đó có 142 cán bộ văn hóa có trình độ đại học, 40 cán bộ có trình độ trung cấp, cao đẳng; 119/182 cán bộ đúng chuyên ngành về văn hóa, thể thao (đạt 65,3%), 63/182 cán bộ không có chuyên ngành văn hóa, thể thao[3]. Vì vậy, cần tích cực phát hiện, lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa có tài, có đức, am hiểu về văn hóa và quản lý văn hóa. Cần phát triển các kỹ năng đối với đội ngũ cán bộ văn hóa đặc thù như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình, trình độ ngoại ngữ, tin học - những điều đặc biệt cần thiết đối với đội ngũ hướng dẫn viên tại các thiết chế văn hóa như bảo tàng... trong thời đại công nghệ 4.0. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, đề xuất chính sách đãi ngộ hợp lý, điều chỉnh chế độ tiền lương, trợ cấp đối với những người làm công tác quản lý thiết chế văn hóa, bảo đảm cho họ có nguồn thu nhập ổn định, yên tâm công tác và cống hiến.

Năm là, đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động tại các thiết chế văn hóa trên địa bàn tỉnh, nhờ đó phát hiện và xử lý kịp thời những khó khăn, sai phạm, lãng phí trong sử dụng và quản lý các thiết chế văn hóa. Bên cạnh việc phát hiện, xử lý các khuyết điểm, vi phạm, cần có nhận thức đầy đủ hơn về công tác thanh tra nhằm phát huy, biểu dương các nhân tố tích cực. Trong công tác thanh tra cần bảo đảm công khai, dân chủ, minh bạch, nêu cao vai trò và tính chịu trách nhiệm của người đứng đầu. Công tác thanh tra, kiểm tra tại các thiết chế văn hóa bao gồm việc rà soát, đánh giá chất lượng các công trình, rà soát việc sử dụng quỹ đất, nguồn tài chính, nhân sự và các hoạt động tại các thiết chế văn hóa. Do đặc thù của các thiết chế văn hóa gắn liền với quần chúng nhân dân, nên trong công tác thanh tra, kiểm tra cần đặc biệt tôn trọng, lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân, liên tục cập nhật các văn bản pháp luật, bám sát thực tiễn, bảo đảm tốt nhất nhu cầu sáng tạo của người nghệ sĩ và nhu cầu giải trí, thụ hưởng văn hóa của nhân dân trên cơ sở giữ gìn và bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc.

Xin khẳng định lại, trong những năm qua, hệ thống thiết chế văn hóa tại Quảng Ninh đã được đầu tư xây dựng, có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ, giải trí văn hóa của các tầng lớp nhân dân ở cả trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên, việc khai thác, sử dụng và quản lý các thiết chế văn hóa vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Điều đó đặt Quảng Ninh trước yêu cầu phải đổi mới tư duy quản lý để nâng cao hiệu quả, tạo điều kiện để các thiết chế văn hóa nói riêng, văn hóa nói chung, cùng với các trụ cột khác đưa Quảng Ninh đến năm 2030 trở thành tỉnh tiêu biểu của cả nước về mọi mặt, là cực tăng trưởng của phía Bắc, một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện, là tỉnh kiểu mẫu về giàu đẹp, văn minh, hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng nâng cao./.


[1] Phạm Học (2023), Phát huy hiệu quả hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao, nguồn: https://quangninh.gov.vn/chuyen-de/chuyendoiso/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=122809.

[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 146

[3] “Quảng Ninh: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa, thể thao giai đoạn 2021 - 2025”, https://dangcongsan.vn/tu-tuong-van-hoa/quang-ninh-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-cac-thiet-che-van-hoa...

    Nổi bật
        Mới nhất
        Đổi mới tư duy quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và quản lý các thiết chế văn hóa tại tỉnh Quảng Ninh
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO