Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới
Ngày 20-8-2026, tại Hà Nội, Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Đại học Kinh tế quốc dân và Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới”. Từ tổng kết 40 năm đổi mới, Hội thảo tập trung làm rõ yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển, nhận diện các động lực mới và đề xuất những luận cứ, giải pháp, góp phần triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28-7-2026, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, “Về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam”.

Các đồng chí: Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; PGS, TS Bùi Đức Thọ, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Kinh tế quốc dân; PGS, TS Bùi Quang Hùng, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh - đồng chủ trì hội thảo.
Hội thảo có sự tham dự của lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các cơ quan Trung ương; đại diện các ban, bộ, ngành; các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý; lãnh đạo các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan báo chí. Sự kiện quy tụ khoảng 250 - 300 đại biểu.
Hội thảo nhằm làm sáng rõ những luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ việc đưa Nghị quyết số 19-NQ/TW vào cuộc sống, góp phần thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Không thể đạt những mục tiêu phát triển mới bằng các động lực tăng trưởng cũ
Bốn mươi năm đổi mới đã tạo nên những thay đổi sâu sắc về quy mô, tiềm lực của nền kinh tế, đời sống nhân dân và vị thế quốc tế của đất nước. Tuy nhiên, chính những thành tựu đó cũng đặt Việt Nam trước một nấc thang phát triển mới, khi nhiều lợi thế từng góp phần tạo nên tăng trưởng đang dần thu hẹp.

Phát biểu chào mừng hội thảo, PGS, TS Bùi Đức Thọ, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân, nhấn mạnh Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào tài nguyên, vốn và lao động giá rẻ. Yêu cầu của kỷ nguyên mới đòi hỏi một mô hình phát triển dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị quốc gia hiện đại. Các cơ sở giáo dục đại học vì vậy không chỉ thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực mà còn phải nâng cao năng lực nghiên cứu, tư vấn chính sách và đóng góp trực tiếp vào quá trình hoạch định phát triển.
Sự phối hợp giữa hai cơ quan báo chí, lý luận chính trị của Trung ương với hai đại học kinh tế tạo điều kiện kết nối chặt chẽ hơn giữa lý luận, nghiên cứu khoa học và thực tiễn chính sách. Những kết quả của hội thảo sẽ được tổng hợp, chắt lọc để hình thành các khuyến nghị phục vụ các cơ quan của Đảng và Nhà nước.

Phát biểu đề dẫn và tuyên bố khai mạc hội thảo, theo đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân: nhìn lại 40 năm đổi mới không chỉ để khẳng định những thành tựu đã đạt được, mà quan trọng hơn là nhận diện đúng các giới hạn của mô hình phát triển hiện nay, những điểm nghẽn cần tháo gỡ và những động lực mới cần kiến tạo.
Câu hỏi có ý nghĩa chiến lược là Việt Nam phải đổi mới mô hình phát triển như thế nào để tạo được bước chuyển về chất, vừa đạt tốc độ tăng trưởng cao, vừa bảo đảm chất lượng và tính bền vững, đồng thời phát huy được nội lực và tận dụng hiệu quả các cơ hội từ hội nhập quốc tế.
Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và những yêu cầu mới của chuyển đổi xanh đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh. Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng vốn, lao động và khai thác tài nguyên sang dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao; từ tiếp nhận công nghệ sang tăng năng lực hấp thụ, làm chủ và sáng tạo công nghệ; từ tham gia chuỗi giá trị sang nâng cao vị thế và phần giá trị giữ lại trong nước.
Vì thế, đổi mới trong giai đoạn mới không chỉ là khắc phục giới hạn của mô hình cũ mà còn phải chủ động kiến tạo mô hình mới; không chỉ tận dụng lợi thế sẵn có mà phải tạo ra những lợi thế mới; không chỉ huy động thêm nguồn lực mà phải nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và khơi dậy mạnh mẽ trí tuệ, sức sáng tạo, khát vọng phát triển của con người Việt Nam.
Kiến tạo các động lực mới cho mô hình phát triển
Một trong những vấn đề nền tảng được làm rõ tại hội thảo là mối quan hệ giữa đổi mới mô hình phát triển với tiếp tục đổi mới tư duy lý luận. Với tham luận “Sự phát triển sáng tạo lý luận của Đảng trong tiến trình đổi mới”, GS, TS Tạ Ngọc Tấn - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, chiều sâu của 40 năm đổi mới không chỉ nằm ở những thay đổi về kinh tế - xã hội mà trước hết là quá trình đổi mới nhận thức lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đổi mới, xét từ chiều sâu đó, là một cuộc cách mạng trong tư duy lý luận, mở đường cho những đột phá trong thực tiễn.
Từ tổng kết thực tiễn, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng từng bước bổ sung và phát triển nhận thức về mô hình, bước đi và phương thức phát triển đất nước. Điểm xuyên suốt của quá trình ấy là sự thống nhất giữa kiên định và sáng tạo: kiên định nền tảng tư tưởng, mục tiêu và nguyên tắc, đồng thời không ngừng đổi mới nhận thức và tìm kiếm những phương thức phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và sự vận động của thời đại.
Những biến đổi của kinh tế số, kinh tế dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, khoa học - công nghệ, cạnh tranh chiến lược, biến đổi khí hậu và yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng tiếp tục đặt ra những vấn đề mới cho lý luận. Vì thế, lý luận về đường lối đổi mới không thể là một hệ thống khép kín. Thực tiễn còn vận động thì lý luận phải tiếp tục được bổ sung, phát triển; kiên định để không chệch hướng và sáng tạo để không tụt hậu.
Ở bình diện kinh tế, yêu cầu nâng cao năng suất và năng lực nội tại của nền kinh tế được đặt ở vị trí trung tâm. GS, TS Nguyễn Trọng Hoài - nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh châu Á (JABES) trong tham luận “Khát vọng quốc gia thu nhập cao: chẩn đoán và các gợi ý chính sách cho Việt Nam” cho rằng, mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào tích lũy vốn và lao động sẽ ngày càng khó bảo đảm tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn. Con đường tiến tới quốc gia thu nhập cao đòi hỏi tăng trưởng phải dựa nhiều hơn vào năng suất, năng lực doanh nghiệp trong nước, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực và khả năng hấp thụ công nghệ.
Dư địa chuyển dịch lao động từ các ngành có năng suất thấp sang ngành có năng suất cao không phải là vô hạn. Khi các lợi thế về vốn và lao động truyền thống giảm dần, cải thiện năng suất trong từng ngành, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và năng lực công nghệ sẽ ngày càng quyết định khả năng duy trì tăng trưởng.
Một điểm nghẽn đáng chú ý là khoảng cách giữa khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp trong nước. Khu vực FDI giữ vai trò lớn trong xuất khẩu nhưng phần lớn doanh nghiệp nội địa còn nhỏ, năng lực công nghệ hạn chế và liên kết với các tập đoàn đa quốc gia chưa đủ sâu. Vì vậy, trọng tâm chính sách không thể chỉ là mở rộng xuất khẩu hay tiếp tục thu hút FDI, mà phải nâng cao giá trị gia tăng nội địa, tăng khả năng chuyển giao công nghệ, kỹ năng và năng lực quản trị, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Từ một góc tiếp cận gần với vấn đề này, PGS, TS Trần Đình Thiên - Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu phải tạo ra sự thay đổi về chất của lực lượng phát triển. Mô hình mới không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào lao động giá rẻ, tài nguyên, gia công và lắp ráp mà phải hình thành các lực lượng có khả năng tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao hơn, trong đó doanh nghiệp Việt Nam, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò đặc biệt quan trọng.
Tự chủ, tự cường trong điều kiện mới không đồng nghĩa với khép kín, mà là xây dựng được năng lực nội sinh đủ mạnh để hội nhập sâu hơn, nâng cao khả năng chống chịu và làm chủ tốt hơn những khâu có giá trị cao trong chuỗi giá trị. Điều này đồng thời đặt ra yêu cầu Nhà nước chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo phát triển, tạo thể chế và môi trường thuận lợi để doanh nghiệp lớn lên, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh quốc tế.
Bên cạnh yêu cầu tăng năng suất và năng lực kinh tế, Hội thảo dành sự quan tâm đáng kể cho những biến đổi xã hội có tác động trực tiếp đến mô hình phát triển.
GS, TS Giang Thanh Long - Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng, Việt Nam đang cùng lúc phải xử lý nhiều xu hướng lớn: già hóa dân số nhanh, đô thị hóa và di cư, sự gia tăng của tầng lớp trung lưu, chuyển đổi số và tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu. Trong đó, quá trình già hóa nhanh đặt Việt Nam trước nguy cơ “già trước khi giàu”, khiến việc tận dụng hiệu quả thời kỳ dân số vàng trở thành một yêu cầu cấp thiết.
Một nền “kinh tế bạc” có khả năng tạo ra giá trị trong tương lai không tự hình thành chỉ vì dân số già đi. Điều kiện trước hết là phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngay trong thời kỳ dân số vàng, cải thiện năng suất, mở rộng khả năng tham gia thị trường lao động và chuẩn bị hệ thống an sinh, y tế phù hợp với cơ cấu dân số mới.
Điều này cũng cho thấy mục tiêu của mô hình phát triển không thể chỉ đo bằng tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc dân (GDP). Tăng trưởng cần đi cùng khả năng tạo việc làm có năng suất cao hơn, giảm tính phi chính thức của thị trường lao động, mở rộng an sinh xã hội và bảo đảm người dân được thụ hưởng thành quả phát triển. Tăng trưởng nhanh phải đồng thời là tăng trưởng bao trùm.
Ở chiều cạnh quản trị, TS Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng đổi mới mô hình phát triển khó có thể đạt kết quả nếu vẫn vận hành bằng một mô hình quản trị không tương thích với những động lực mới. Thể chế và phương thức quản trị phải tạo điều kiện để các nguồn lực được giải phóng thay vì làm phát sinh thêm tầng nấc và chi phí cho phát triển.
Phân cấp, phân quyền cần được thực hiện thực chất, gắn quyền hạn với trách nhiệm và năng lực giải quyết công việc. Những vấn đề có thể được xử lý hiệu quả ở cấp gần thực tiễn nhất cần được trao cho cấp đó; hạn chế tình trạng dồn các quyết định sự vụ lên cấp cao hơn, làm giảm khả năng tập trung cho những quyết sách có tính chiến lược.
Đổi mới sáng tạo cũng đòi hỏi một cách tiếp cận quản trị phù hợp với rủi ro. Nếu mọi thử nghiệm đều được đánh giá bằng tiêu chí của hoạt động thông thường thì rất khó tạo ra sáng tạo. Vì vậy, cần những cơ chế cho phép thử nghiệm có kiểm soát, đồng thời xử lý tốt hơn các vấn đề liên ngành, liên vùng vốn không thể giải quyết hiệu quả nếu từng cơ quan chỉ thực hiện phần việc riêng biệt.
Những cách tiếp cận này cho thấy đổi mới mô hình phát triển không phải chỉ là tìm một công thức tăng trưởng kinh tế mới, mà là quá trình tạo lập năng lực phát triển mới trên nhiều phương diện: tư duy lý luận, thể chế, lực lượng sản xuất, doanh nghiệp, con người, an sinh xã hội và quản trị quốc gia.
.jpg)
Đổi mới đồng bộ tư duy, thể chế và phương thức quản trị
Tổng kết hội thảo, PGS, TS Phạm Minh Tuấn - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản - cho biết: Ban Tổ chức đã nhận được gần 200 bài tham luận. Các nghiên cứu và ý kiến trao đổi đã tiếp cận mô hình phát triển từ những vấn đề có tính nền tảng như mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ, tự cường với hội nhập quốc tế; vai trò của con người, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; đến đổi mới thể chế và quản trị quốc gia.
Một chuyển biến đáng chú ý trong nhận thức là từ cách tiếp cận chủ yếu xoay quanh mô hình tăng trưởng kinh tế sang mô hình phát triển tổng thể quốc gia. Đổi mới mô hình phát triển không thể được hiểu là sự điều chỉnh cục bộ trong lĩnh vực kinh tế mà phải là sự đổi mới đồng bộ trên các lĩnh vực kinh tế; xã hội; văn hóa, con người; môi trường sinh thái; quốc phòng - an ninh; đối ngoại và hội nhập quốc tế; quản trị quốc gia.
Bảy mô hình thành phần này không tồn tại tách biệt mà cấu thành một chỉnh thể. Vì vậy, hiệu quả phát triển phải được xem xét từ sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển con người, bảo vệ môi trường, giữ vững quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực quản trị quốc gia.
Trong đó, mô hình tăng trưởng kinh tế tiếp tục giữ vai trò quan trọng, nhưng nội hàm phải thay đổi căn bản. Tự chủ, tự cường phải gắn với hội nhập sâu rộng; năng lực nội sinh phải đủ sức làm chủ những chuỗi cung ứng chiến lược, công nghệ cốt lõi và nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Cơ cấu lực lượng sản xuất cần được chuyển mạnh sang các ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng mới và các dịch vụ giá trị gia tăng cao. Đồng thời, cơ chế phân bổ nguồn lực cần chuyển từ dàn trải sang hiệu quả hơn, sử dụng nguồn lực công để dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực xã hội, nhất là khu vực kinh tế tư nhân.
Ba nhóm giải pháp có tính đột phá được tập trung làm rõ:
Một là, hoàn thiện thể chế cho khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển khoa học - công nghệ từ vị trí một chính sách hỗ trợ thành lực lượng sản xuất trực tiếp; tạo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình kinh tế và công nghệ mới; lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và tạo điều kiện.
Hai là, chuyển đổi số toàn diện và quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu. Chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở số hóa thủ tục hành chính mà phải gắn với tái cấu trúc quy trình vận hành, xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia thông suốt và khai thác dữ liệu như một nguồn lực phục vụ quản trị, sản xuất và sáng tạo.
Ba là, đột phá về nguồn nhân lực chất lượng cao cũng có ý nghĩa quyết định, đặc biệt đối với các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng xanh. Đi cùng với đổi mới giáo dục - đào tạo là yêu cầu xây dựng cơ chế đủ sức thu hút, trọng dụng nhân tài, đội ngũ trí thức và chuyên gia trong và ngoài nước, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.
PGS, TS Phạm Minh Tuấn khẳng định các tham luận và ý kiến tại hội thảo sẽ tiếp tục được nghiên cứu, chắt lọc để phục vụ công tác nghiên cứu, tư vấn cho Đảng và triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW, hướng tới xây dựng mô hình phát triển Việt Nam tự cường, hội nhập, toàn diện, lấy con người làm trung tâm, khoa học - công nghệ làm động lực và quản trị hiện đại làm bệ phóng, tạo nền tảng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới./.
