Định hình mô hình phát triển đặc khu - động lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Ngày 21-6-2026, tại thành phố Đà Nẵng, Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản tổ chức Hội thảo khoa học: “Phát triển bền vững đặc khu kinh tế gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam trong bối cảnh mới - Định hướng, tầm nhìn và xây dựng mô hình, giải pháp”. Đây là hội thảo thuộc Chương trình khoa học cấp Bộ trọng điểm năm 2026 của Tạp chí Cộng sản.

Dự hội thảo có đồng chí PGS, TS Hoàng Phúc Lâm, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; PGS, TS Đoàn Triệu Long, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị khu vực III. Các đồng chí: PGS, TS Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; PGS, TS Nguyễn Ngọc Hoà, Phó Giám đốc Học viện Chính trị khu vực III đồng chủ trì hội thảo.
Tham dự hội thảo còn có các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, đại diện các cơ quan nghiên cứu, cơ sở đào tạo, các địa phương, doanh nghiệp. Sự tham gia của các đại biểu đã góp phần mang đến nhiều góc nhìn đa chiều, luận cứ khoa học và kinh nghiệm thực tiễn cho việc nghiên cứu, đề xuất mô hình phát triển đặc khu kinh tế trong bối cảnh mới.
Phát biểu đề dẫn hội thảo, PGS, TS Nguyễn Ngọc Hòa - Phó Giám đốc Học viện Chính trị khu vực III - nhấn mạnh, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với xu thế chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển xanh trở thành những động lực quan trọng của tăng trưởng, mô hình đặc khu kinh tế trên thế giới cũng đang có sự chuyển dịch sâu sắc từ dựa vào các ưu đãi đầu tư truyền thống sang dựa trên tri thức, công nghệ, dữ liệu và năng lực đổi mới sáng tạo.
Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam trong việc nghiên cứu, xây dựng các mô hình đặc khu kinh tế thế hệ mới phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước và xu hướng phát triển toàn cầu.
Theo PGS, TS Nguyễn Ngọc Hòa, các đặc khu kinh tế không chỉ là không gian thu hút đầu tư hay thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà cần được định vị là những cực tăng trưởng mới, những “phòng thí nghiệm thể chế” để thử nghiệm các cơ chế, chính sách đột phá; là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và tăng cường liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu.
Việc xây dựng các đặc khu kinh tế theo hướng hiện đại, thông minh và bền vững không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia mà còn tạo động lực mới cho phát triển vùng, phát triển kinh tế biển, khai thác hiệu quả các lợi thế chiến lược của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.
Trên cơ sở đó, hội thảo được tổ chức nhằm tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển đặc khu kinh tế; tham khảo kinh nghiệm quốc tế; đồng thời đề xuất các định hướng, mô hình và giải pháp phù hợp để xây dựng các đặc khu kinh tế trở thành những trung tâm đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng trưởng bền vững của Việt Nam trong thời gian tới.

Hội thảo đã tập trung thảo luận các nhóm vấn đề lớn, gồm:
Thứ nhất, xây dựng mô hình đặc khu hành chính, đặc khu kinh tế thế hệ mới theo hướng xanh - số - thông minh.
Thứ hai, vai trò của chuyển đổi số trong xây dựng và phát triển đặc khu kinh tế.
Thứ ba, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo như động lực trung tâm của đặc khu kinh tế thế hệ mới.
Thứ tư, hoàn thiện thể chế đặc thù, cơ chế sandbox, hạ tầng số, nhân lực chất lượng cao và liên kết nghiên cứu - doanh nghiệp - chính quyền.
Thứ năm, gắn phát triển đặc khu với các cực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số.
Hội thảo đã nhận được 43 bài tham luận của các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý và đại diện các cơ quan, địa phương. Các tham luận tập trung làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển đặc khu kinh tế trong bối cảnh mới, như: xu hướng phát triển đặc khu thế hệ mới trên thế giới và những gợi mở đối với Việt Nam; xây dựng mô hình đặc khu kinh tế gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh; phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kinh tế số và kinh tế dữ liệu trong các đặc khu; hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách đặc thù nhằm tạo môi trường thuận lợi cho thử nghiệm các mô hình phát triển mới; phát huy lợi thế kinh tế biển, kinh tế đảo và liên kết vùng trong xây dựng các cực tăng trưởng mới; đồng thời đề xuất các giải pháp về hạ tầng số, nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư chiến lược và nâng cao năng lực cạnh tranh của các đặc khu kinh tế trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Phát biểu tại hội thảo, PGS, TS Lưu Trang - Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng - cho rằng, trong suốt chiều dài lịch sử, các đảo và quần đảo Việt Nam luôn giữ vị trí tiền tiêu trong bảo vệ chủ quyền, mở rộng không gian phát triển và thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa.
Theo tác giả, các đảo và quần đảo không chỉ là “lá chắn tiền tiêu” bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên biển mà còn là không gian chiến lược cho phát triển kinh tế biển, giao thương quốc tế, khai thác thủy sản và du lịch.
Từ những giá trị lịch sử và thực tiễn đó, tác giả cho rằng việc xây dựng các mô hình đặc khu trên các đảo cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát huy lợi thế vị trí địa - kinh tế và khẳng định vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.
Thảo luận tại hội thảo, TS Phan Hoàng Long - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng - đã gợi mở một cách tiếp cận rất đáng chú ý về vai trò của các đặc khu kinh tế trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam.
Theo đó, giá trị lớn nhất của đặc khu không chỉ nằm ở việc thu hút vốn đầu tư hay tạo tăng trưởng kinh tế, mà quan trọng hơn là trở thành một “không gian thử nghiệm thể chế” - nơi có thể kiểm nghiệm các cơ chế quản trị, chính sách và mô hình phát triển mới trước khi nhân rộng ra phạm vi quốc gia.
Kinh nghiệm từ Thâm Quyến, Phố Đông (Trung Quốc) hay Dubai cho thấy, những đặc khu thành công đều không dựa chủ yếu vào ưu đãi thuế, mà dựa vào năng lực đổi mới thể chế, cải cách hành chính và xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, hiệu quả.

TS Nguyễn Thị Thoa - Phân hiệu Học viện Chính sách và Phát triển tại thành phố Đà Nẵng - nhấn mạnh vấn đề rất quan trọng đối với quá trình xây dựng các đặc khu kinh tế ở Việt Nam hiện nay, là phải chuyển tư duy phát triển từ dựa chủ yếu vào các lợi thế truyền thống như đất đai, lao động giá rẻ và ưu đãi thuế sang dựa vào chất lượng thể chế, hạ tầng số, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt, đặc khu kinh tế thế hệ mới không thể chỉ là nơi tập trung các ưu đãi, mà phải trở thành không gian thử nghiệm các mô hình quản trị tiên tiến, các công nghệ mới và các cơ chế chính sách đột phá.
Tham luận cũng gợi mở nhiều giải pháp có giá trị thực tiễn như luật hóa mô hình đặc khu để bảo đảm tính ổn định của chính sách; xây dựng cơ chế sandbox dựa trên nghị quyết thí điểm của Quốc hội nhằm tháo gỡ các xung đột pháp lý; đẩy mạnh chuyển đổi số, quản trị dựa trên dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giám sát, quản lý rủi ro.
Đặc biệt, quan điểm coi đầu tư công là “vốn mồi” để thu hút các nguồn lực xã hội, đồng thời chú trọng phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực số và tăng cường liên kết vùng là những định hướng rất phù hợp với yêu cầu phát triển hiện nay.
Phát biểu kết luận hội thảo, PGS, TS Nguyễn Ngọc Hà - Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản - đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự tâm huyết và những đóng góp khoa học của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý đối với chủ đề hội thảo.
Các tham luận và ý kiến trao đổi đã tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ, lĩnh vực khác nhau, góp phần làm sáng tỏ cả những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển đặc khu kinh tế trong bối cảnh mới; đồng thời cung cấp nhiều luận cứ khoa học, kinh nghiệm thực tiễn và gợi mở những định hướng, giải pháp có giá trị cho quá trình xây dựng mô hình đặc khu kinh tế ở Việt Nam.
Theo đồng chí, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, cùng với tác động sâu rộng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển xanh đang trở thành những nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của mỗi quốc gia.
Điều đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới tư duy phát triển các đặc khu kinh tế theo hướng hiện đại, thông minh, bền vững, không chỉ dựa vào các chính sách ưu đãi truyền thống mà phải dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và chất lượng thể chế.
Từ các tham luận và ý kiến thảo luận tại hội thảo, nhiều vấn đề quan trọng đã được đặt ra, như: hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù cho các đặc khu kinh tế; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp; phát triển hạ tầng số đồng bộ; thúc đẩy liên kết giữa các đặc khu với các trung tâm nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát huy lợi thế kinh tế biển, kinh tế đảo và tăng cường liên kết vùng nhằm tạo ra các cực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Nhiều ý kiến cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển xanh, bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo đảm quốc phòng, an ninh trong quá trình xây dựng và vận hành các đặc khu kinh tế.
Đồng chí Nguyễn Ngọc Hà khẳng định, những kết quả đạt được từ hội thảo không chỉ góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu, hoàn thiện mô hình đặc khu kinh tế thế hệ mới ở Việt Nam, mà còn có ý nghĩa tham khảo quan trọng đối với quá trình hoạch định chủ trương, chính sách phát triển đất nước trong giai đoạn tới.
Ban tổ chức sẽ tiếp thu, tổng hợp đầy đủ các ý kiến, kiến nghị và đề xuất của các đại biểu để phục vụ công tác nghiên cứu, tham mưu, tư vấn chính sách, góp phần xây dựng các đặc khu kinh tế trở thành những không gian phát triển năng động, trung tâm đổi mới sáng tạo và động lực tăng trưởng mới của đất nước trong kỷ nguyên số./.
Nhân dịp kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925 - 21-6-2026), PGS, TS Hoàng Phúc Lâm, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và lãnh đạo Học viện Chính trị khu vực III đã tặng hoa chúc mừng tập thể cán bộ, biên tập viên Tạp chí Cộng sản khu vực miền Trung - Tây Nguyên, đồng thời bày tỏ mong muốn 2 đơn vị tiếp tục tăng cường phối hợp trong công tác nghiên cứu khoa học, tuyên truyền lý luận chính trị, tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng và tổng kết thực tiễn trong thời gian tới.

