Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ nhằm bảo đảm mục tiêu tăng trưởng xanh, bao trùm và toàn diện tại Quảng Ninh
Tỉnh Quảng Ninh là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh. Quảng Ninh cũng là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về chính phủ số, kinh tế số, xã hội hội số, góp phần đạt mục tiêu chuyển đổi số của cả nước theo tinh thần các nghị quyết của Đảng. Một trong nguyên nhân tạo nên sự thành công đó là sự hoạch định đường lối, chủ trương với tư duy đột phá của Tỉnh ủy Quảng Ninh trong việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển mình nhanh chóng, hướng tới mục tiêu tăng trưởng và phát triển bao trùm.

1. Bối cảnh Việt Nam và yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng xanh, bao trùm và toàn diện
Tăng trưởng xanh là một chiến lược phát triển bền vững nhằm đạt tăng trưởng kinh tế đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực tới môi trường.
Khác với mô hình “tăng trưởng nâu” truyền thống dựa trên khai thác tài nguyên và nhiên liệu hóa thạch, tăng trưởng xanh nhấn mạnh sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm ô nhiễm và thúc đẩy công nghệ sạch, qua đó phát triển hài hòa kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái (Open Development Vietnam, 2024).
Nói cách khác, mục tiêu trung tâm của tăng trưởng xanh là “xanh hóa” nền kinh tế - vừa bảo đảm thịnh vượng kinh tế vừa gìn giữ môi trường cho hiện tại và tương lai.
Đây được coi là phương thức phát triển tất yếu giúp các quốc gia thoát khỏi cái bẫy đánh đổi giữa tăng trưởng và môi trường, nhất là trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với khủng hoảng khí hậu và cạn kiệt tài nguyên.
Việt Nam lựa chọn “mô hình tăng trưởng xanh” trong bối cảnh có những chuyển biến lớn trên phạm vi toàn cầu và những yêu cầu mới đối với mô hình phát triển quốc gia.
Thứ nhất, biến đổi khí hậu đã trở thành thách thức sống còn, đòi hỏi mọi quốc gia, đặc biệt là các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam phải thay đổi cách thức tăng trưởng.
Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu với hơn 3.200km bờ biển và nhiều vùng đồng bằng trũng thấp thường xuyên chịu thiên tai (World Bank, 2022). Thiệt hại kinh tế do khí hậu gây ra ngày càng gia tăng, nếu không có biện pháp thích ứng và giảm thiểu, tổn thất này có thể lên tới 12-14,5% GDP mỗi năm vào 2050 (World Bank, 2022).
Rõ ràng, nếu tiếp tục mô hình tăng trưởng hiện tại đồng nghĩa với nguy cơ cao trả giá đắt về kinh tế và phúc lợi xã hội trong tương lai.
Thứ hai, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 của Việt Nam đã nhấn mạnh yêu cầu quản lý hiệu quả “vốn tự nhiên”, tức tài nguyên đất, rừng, khoáng sản, như một nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Vì sau hơn ba thập kỷ tăng trưởng nhanh, Việt Nam đã đặt mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045. Để hiện thực hóa khát vọng này, Việt Nam không chỉ cần duy trì tốc độ tăng trưởng mà còn phải chuyển đổi mô hình phát triển theo chiều sâu, lấy năng suất và công nghệ làm động lực thay vì dựa vào thâm dụng tài nguyên và lao động giá rẻ.
Thứ ba, trong xu thế hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia các cam kết toàn cầu về phát triển bền vững và chống biến đổi khí hậu. Việt Nam tham gia các sáng kiến toàn cầu như Thỏa thuận Paris 2015 về khí hậu và các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc, đồng nghĩa với việc tích cực đóng góp vào nỗ lực chung về tăng trưởng xanh.
Đặc biệt, tại Hội nghị COP26 (2021), đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Phạm Minh Chính tuyên bố cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 - một mục tiêu đầy tham vọng đòi hỏi chuyển đổi căn bản nền kinh tế trong vài thập kỷ tới.
Thứ tư, hiện nay Việt Nam đang ở giai đoạn “chuyển mình” về cơ cấu kinh tế và đô thị hóa, với nhu cầu năng lượng và tài nguyên tăng cao; điều này dẫn tới phát thải khí nhà kính và ô nhiễm môi trường gia tăng nhanh chóng.
Thống kê cho thấy phát thải khí nhà kính và tiêu thụ điện của Việt Nam đã tăng gấp khoảng ba lần trong hai thập kỷ qua (AMRO, 2024). Tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng dựa nhiều vào năng lượng hóa thạch (đặc biệt là nhiệt điện than) và khai thác tài nguyên đang đặt Việt Nam trước nguy cơ phải trả giá về môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Mặt khác, Việt Nam có cơ hội “đi tắt đón đầu” trong lĩnh vực xanh nhờ tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo, đa dạng sinh học phong phú và dư địa cải thiện hiệu suất sử dụng tài nguyên. Trong những năm gần đây, Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 (Quyết định số 1658/QĐ-TTg) với tầm nhìn 2050 nhằm tái cơ cấu nền kinh tế gắn với mô hình phát triển các-bon thấp.
Tuy vậy, thực tế triển khai vẫn đang ở giai đoạn đầu và gặp nhiều vướng mắc. Nhận thức của một bộ phận người dân và doanh nghiệp về tăng trưởng xanh còn hạn chế; thể chế, chính sách cho kinh tế xanh chưa hoàn thiện và quan trọng hơn, mô hình tăng trưởng cũ vẫn ăn sâu trong tư duy của không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý lẫn nhà đầu tư.
Trước những lý do trên, cơ hội và thách thức đối với việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh từ thực tiễn Quảng Ninh, trong đó tập trung vào nhân tố ứng dụng khoa học, công nghệ để có thể hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh, bao trùm và toàn diện trong bối cảnh toàn cầu mới.
Với quyết tâm chính trị cao, sự năng động trong điều hành và chiến lược phát triển rõ ràng, Quảng Ninh đang trở thành hình mẫu về sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.
2. Đổi mới tư duy và hành động,ứng dụng khoa học, công nghệ chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Quảng Ninh
Khoa học và công nghệ (KHCN) là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, các cấp, là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh. Nhận thức được tầm quan trọng chiến lược đó, trong thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh đã huy động mọi nguồn lực để phát triển KHCN.
Từ sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 “Về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, tỉnhQuảng Ninh luôn xác định KHCN và đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng hàng đầu để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Quảng Ninh đã, đang tiếp tục chú trọng, lấy KHCN và đổi mới sáng tạo làm động lực bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Nghị quyết số 13-NQ/TU, ngày 28-4-2023, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh “Về phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo đến năm 2030” với 7 nhóm mục tiêu cụ thể đặt ra cho lĩnh vực KHCN và đổi mới sáng tạo đã giúp tỉnh tiến những bước dài trên hành trình phát triển KHCN.
Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2030, Quảng Ninh thuộc nhóm các địa phương đi đầu cả nước về ứng dụng, chuyển giao KHCN và đổi mới sáng tạo, với tiềm lực, trình độ KHCN và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở một số lĩnh vực quan trọng và ở một số ngành, lĩnh vực đạt trình độ khu vực, quốc gia, quốc tế.
KHCN và đổi mới sáng tạo phát triển vững chắc, thực sự trở thành động lực tăng trưởng kinh tế, góp phần xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh kiểu mẫu, giàu đẹp, văn minh, hiện đại, phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh.
Tại tỉnh Quảng Ninh, KHCN và đổi mới sáng tạo đã thể hiện rõ sự đóng góp quan trọng trong kết quả nổi bật của mỗi giai đoạn phát triển. Điều đó được thể hiện rõ qua nhiều con số: Năm 2020, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao của Quảng Ninh đạt 45,24% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, vượt 13,1% so với mục tiêu mà Nghị quyết 20-NQ/TW về phát triển KHCN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đề ra.
Tỷ lệ đóng góp chỉ số năng suất các nhân tố tổng hợp vào GRDP của Quảng Ninh tăng từ 43,48% năm 2021 lên 50,01% năm 2023, năm 2024 tiếp tục duy trì trên 50%. Trong 2 năm liền, chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) của Quảng Ninh đều đứng trong tốp 10 tỉnh, thành phố có điểm số cao nhất. Đặc biệt, năm 2024, Quảng Ninh đứng thứ 6 với 47,82 điểm, vượt 3 bậc so với năm 2023.
Theo kết quả xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2024 do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, tỉnh Quảng Ninh xếp thứ 6 với 47,82 điểm, đứng trong tốp 10 địa phương có điểm số cao nhất về chỉ số PII.
Bên cạnh đó, tỷ lệ đóng góp của Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế duy trì trên 50% cho thấy, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã góp phần thực hiện tốt các mục tiêu phát triển bền vững của Quảng Ninh.
Giai đoạn 2020 - 2024, đã có 108 nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh được triển khai. Các nhiệm vụ được ưu tiên lựa chọn để cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về KHCN theo yêu cầu các nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, các đề án, chương trình, kế hoạch của UBND tỉnh. Qua đó đã góp phần tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động, quản lý nhà nước, giải quyết nhiều vấn đề mới về môi trường, biến đổi khí hậu cũng như bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa, con người.
Nhiều thương hiệu, đặc sản vùng miền được bảo hộ xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu tập thể, nâng cao sức cạnh tranh... Kết quả triển khai các nhiệm vụ đã được bàn giao, ứng dụng lên tới gần 90%, tiết kiệm ngân sách trên 9% (tương đương khoảng 28 tỷ đồng).
Nhiều nhiệm vụ, đề tài, dự án, đề án KHCN đã được ứng dụng vào thực tiễn, mang lại hiệu quả thiết thực. KHCN và đổi mới sáng tạo đã đóng góp tích cực hơn trong việc nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Năm 2024, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã triển khai gần 60 dự án, đề tài, nhiệm vụ KHCN cấp quốc gia, cấp tỉnh. Các đề tài, nhiệm vụ tập trung vào những ngành, lĩnh vực đang được tỉnh ưu tiên đẩy mạnh, như: Kinh tế biển, công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng tái tạo, quốc phòng an ninh, phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số…
Ngân sách đầu tư cho KHCN và đổi mới sáng tạo là hơn 126 tỷ đồng, bằng 1,78% tổng chi thường xuyên ngân sách tỉnh. Ngoài nguồn vốn chi thường xuyên ngân sách cấp, tỉnh Quảng Ninh cũng huy động các nguồn lực khác đầu tư cho KHCN và đổi mới sáng tạo, thu về nhiều kết quả khả quan, nổi bật.
Trong từng ngành, từng lĩnh vực trọng điểm của kinh tế - xã hội, sự đóng góp của khoa học, công nghệ đều được thể hiện rõ nét, mang lại những giá trị nổi bật tại Quảng Ninh.
Đối với sản xuất nông nghiệp, KHCN cũng đã mở ra nhiều cơ hội cho các chủ thể sản xuất tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu suất canh tác, góp phần làm thay đổi nhận thức của người dân từ sản xuất manh mún, nhỏ lẻ sang sản xuất theo hướng tập trung, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm.
Nông sản tiếp tục được hỗ trợ xây dựng, phát triển thương hiệu gắn với truy xuất nguồn gốc đã giúp tăng giá bán bình quân từ 15% đến 20%; bảo đảm điều kiện phân phối trong các siêu thị lớn và trên các sàn thương mại điện tử. Hiện đã có 249/394 sản phẩm OCOP đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đạt 63,2%.
Tỉnh đã hình thành 2 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Đông Triều và Đầm Hà với quy mô giai đoạn I trên 120ha và tại huyện Đầm Hà đề án với diện tích dự kiến 399,62ha. Tỉnh cũng đã công nhận 1 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hỗ trợ xây dựng 43 phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn LAS, VILAS.
Trong nuôi trồng thủy sản, Quảng Ninh cơ bản hoàn thành mục tiêu thay thế phao xốp bằng phao nhựa HDPE thân thiện với môi trường. Các chuẩn kỹ thuật liên quan đến hoạt động nuôi trồng thủy sản lồng, bè, giàn có sử dụng phao nổi cũng đã được ban hành.
Việc ứng dụng KHCN vào các khâu trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp cũng được đẩy mạnh. Đến cuối năm 2024, tỉnh Quảng Ninh đã có 28 doanh nghiệp KHCN, nằm trong nhóm các tỉnh, thành có nhiều doanh nghiệp KHCN trong toàn quốc.
Các doanh nghiệp đã chủ động tích cực đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, bảo vệ môi trường và tăng năng suất lao động. Các đơn vị ngành than đã và đang từng bước làm chủ nhiều công nghệ mới, tiên tiến, tập trung đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa vào sản xuất và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh gắn với phát triển xanh, bền vững.
Đặc biệt, một số đơn vị đã chủ động thiết kế, chế tạo công nghệ, thiết bị để tránh lệ thuộc vào nước ngoài, tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm 30% so với chi phí thuê ngoài, giá thành sản phẩm chỉ bằng 2/3 so với nhập khẩu.
Trong y học, những thiết bị hiện đại, chuyên sâu đã được đầu tư, từng bước đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Giáo dục thông minh hiện diện trong hầu hết các trường, lớp học giúp nâng cao chất lượng dạy và học toàn tỉnh.
Ngoài ra, các lĩnh vực du lịch, kinh tế biển cũng đều được ứng dụng KHCN, nhanh chóng nắm bắt xu thế mới để phát triển nhanh và bền vững…
Đáng chú ý, sự có mặt của chuyển đổi số đã và đang làm thay đổi căn bản, toàn diện hoạt động chỉ đạo, điều hành, quản lý của cấp ủy, chính quyền các cấp, hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân trên địa bàn tỉnh theo chiều hướng tích cực, đem lại cuộc sống hiện đại, thông minh, tiện ích hơn.
KHCN đã tạo đột phá vượt bậc trong khâu ứng dụng giải pháp mới, đồng bộ vào hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao chất lượng hoạt động công vụ, tiết kiệm thời gian, chi phí trong hoạt động quản lý, giám sát và điều hành cơ quan, cải thiện chỉ số xếp hạng của tỉnh. Nhiều năm liền tỉnh Quảng Ninh đạt mức tăng trưởng 2 con số, giữ vị trí quán quân về các Chỉ số PCI, PAR Index.
Trong năm 2025 và giai đoạn tiếp theo, Quảng Ninh xác định tập trung tháo gỡ “nút thắt” về chính sách để phát triển hạ tầng KHCN và đổi mới sáng tạo đồng bộ, hiện đại.
Mở rộng và đẩy nhanh tốc độ ứng dụng những thành tựu của KHCN và đổi mới sáng tạo, nhất là các công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ bán dẫn, công nghệ xanh,… vào các lĩnh vực trọng điểm, như công nghiệp chế biến chế tạo, sản xuất điện, khai khoáng, du lịch, thương mại, logistics, tài chính, nông nghiệp, kinh tế biển, cảng biển; trong các hoạt động hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước,... để tạo động lực chính cho tăng trưởng kinh tế.
Đồng thời, thúc đẩy nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ công các đơn vị sự nghiệp KHCN; phát triển thị trường và đổi mới sáng tạo, chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KHCN; tiếp tục tăng cường thu hút đa dạng các nguồn lực cho KHCN và đổi mới sáng tạo, nhất là khối tư nhân, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài...
Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đạt 45,24% tổng giá trị sản xuất công nghiệp.
Tỉnh Quảng Ninh đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành tỉnh thuộc nhóm các địa phương đi đầu cả nước về ứng dụng, chuyển giao KHCN và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở một số lĩnh vực quan trọng và ở một số ngành, lĩnh vực đạt trình độ khu vực, quốc gia, quốc tế.
Để thực hiện mục tiêu đã đặt ra, tỉnh đang tập trung huy động mọi nguồn lực, nâng cao tiềm lực cho KHCN và đổi mới sáng tạo; tăng cường nghiên cứu, ứng dụng KHCN, thúc đẩy đổi mới sáng tạo có trọng tâm, trọng điểm, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
Trước mắt, hạ tầng mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ đã được tỉnh đầu tư từng bước đáp ứng nhu cầu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ thúc đẩy phát triển sản xuất.
Nhiều doanh nghiệp chủ động liên kết với các tổ chức KHCN, nhà khoa học, đầu tư công nghệ, thiết bị tiên tiến để tăng năng suất lao động, tạo ra các sản phẩm mới chất lượng cao, tiêu tốn ít năng lượng, thân thiện với môi trường, như: Công ty CP Giống cây trồng Quảng Ninh; Công ty TNHH Long Hải; Công ty TNHH MTV Khoa học và Công nghệ cơ khí Trí Đạt; Công ty CP Green Aquatech; Công ty CP Kỹ nghệ thực phẩm Thái Lan; Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại thủy sản Quảng Ninh; Công ty CP Phát triển công nghệ Cyberlogistics Việt Nam…
Quảng Ninh đang khuyến khích các doanh nghiệp tham gia mô hình kinh tế tuần hoàn góp phần gia tăng giá trị cho doanh nghiệp, đồng thời giảm khai thác tài nguyên, giảm chi phí xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, với mục tiêu phấn đấu đến năm 2025 sẽ chấm dứt khai thác, đóng cửa toàn bộ mỏ đá làm vật liệu xây dựng thông thường để hoàn nguyên môi trường.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp đã và đang giúp Quảng Ninh có bước chuyển mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng tới mô hình tăng trưởng xanh, bền vững. Qua đó, giúp Quảng Ninh trở thành một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về các chỉ tiêu bảo vệ môi trường gắn với phát triển kinh tế theo mô hình tăng trưởng xanh.
Mặc dù có nhiều khó khăn, quá trình hướng tới tăng trưởng xanh, bao trùm, toàn diện, mở ra những cơ hội chiến lược cho Quảng Ninh, dựa trên cả lợi thế nội tại, lợi thế so sánh.
Nhìn một cách tổng thể, tăng trưởng xanh có thể trở thành động lực phát triển mới cho Quảng Ninh trong trung và dài hạn, giúp nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh kinh tế cũng như phúc lợi xã hội.
Ý nghĩa và bài học
Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh cho thấy ứng dụng khoa học, công nghệ không chỉ giúp nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế mà còn là chìa khóa để bảo đảm phát triển xanh và bền vững. Đây cũng là định hướng mà các địa phương khác có thể học hỏi, góp phần thực hiện thành công cam kết quốc gia về giảm phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Bên cạnh đó, cùng với những kết quả đạt được, trên tinh thần cầu thị, tự phê bình và phê bình sâu sắc, tỉnh thẳng thắn nhìn nhận vẫn còn một số hạn chế, yếu kém, cần nỗ lực khắc phục có hiệu quả, đó là:
(1) Chất lượng tăng trưởng chưa bền vững, chưa khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế biển, du lịch, các khu kinh tế, khu công nghiệp; kinh tế đêm, công nghiệp văn hóa, kinh tế số.
(2) Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
(3) Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực, nhất là quản lý tài nguyên, khoáng sản, đầu tư công, đất đai, quản lý xã hội có mặt còn hạn chế. (4) Quy mô, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.
Định hướng và phát triển giai đoạn 2025 - 2030 ở tỉnh Quảng Ninh
Một là, nhận diện, định vị lại tỉnh Quảng Ninh trong tương quan vùng, quốc gia và quốc tế trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước; phát huy nhanh mọi thuận lợi, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, đi đầu trong đổi mới sáng tạo, quản trị phát triển, thúc đẩy kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế; trở thành một trong những tỉnh tiên phong ứng dụng và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thúc đẩy kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế, tiêu biểu về cải cách hành chính; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chiến lược, trong đó: Phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm.
Hai là, chủ động kiến tạo, đột phá phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, bền vững, bao trùm, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới, chủ động, tích cực làm mới các động lực tăng trưởng, xanh hóa, số hóa các ngành truyền thống, thúc đẩy nhanh các động lực tăng trưởng mới.
Tranh thủ mọi cơ hội, phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế, động lực phát triển, tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn, nút thắt; khơi thông, giải phóng sức sản xuất và sử dụng mọi nguồn lực theo phương châm nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài; ngoại lực là quan trọng, đột phá; lấy nguồn lực nhà nước khơi dậy, dẫn dắt nguồn lực xã hội.
Ba là,lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, nâng cao đời sống nhân dân và bảo vệ Tổ quốc; phát huy sức mạnh của nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân và thế trận lòng dân; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Tự chủ về chiến lược và mềm dẻo, linh hoạt về sách lược trong thực hiện, bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc. Tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả thực chất.
Bốn là, duy trì đà tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trong dài hạn; lấy đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chính cho phát triển và tạo bứt phá mạnh mẽ về năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng thích ứng, chống chịu và sức cạnh tranh của kinh tế địa phương.
Quy hoạch, tổ chức lại không gian phát triển của tỉnh; tăng cường liên kết vùng và nội vùng phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế số, kinh tế đô thị, xây dựng xã hội số.
Cơ cấu lại công nghiệp theo hướng hiện đại, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mới nổi, công nghiệp chế biến, chế tạo xanh, sạch, công nghệ cao, năng lượng tái tạo, năng lượng mới.
Phát triển đột phá các ngành kinh tế biển, hình thành cụm kinh tế biển đa ngành. Phát triển nông nghiệp sinh thái, nông dân văn minh, nông thôn hiện đại.
Quản lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí tài nguyên, tăng cường bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai.
Tỉnh xác định mục tiêu đến năm 2030, thực hiện ngăn chặn, đẩy lùi xu hướng gia tăng ô nhiễm môi trường.
Cải thiện chất lượng môi trường; sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; chủ động và tích cực ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai; bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn hồ đập. Hình thành các điều kiện cơ bản cho nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, ít phát thải.
Hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt lập Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo hướng không phát triển thêm các nguồn nhiệt điện than, bổ sung vào đó là các nguồn điện gió, điện khí, điện rác, điện mặt trời…
Tỉnh đã áp dụng thực hiện nội dung bảo vệ môi trường vào các nhiệm vụ quy hoạch, dự án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong đó, chú trọng ưu tiên, thu hút các dự án đầu tư công nghệ cao, công nghệ sạch thân thiện với môi trường.
3. Một số khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy phát triển nền kinh tế xanh, bao trùm và toàn diện tại Quảng Ninh
Mô hình tăng trưởng xanh của Quảng Ninh trong bối cảnh áp lực toàn cầu về biến đổi khí hậu, các cam kết quốc tế về giảm phát thải và xu hướng thương mại xanh.
Mô hình tăng trưởng truyền thống dựa vào khai thác tài nguyên và năng lượng hóa thạch không còn phù hợp, đòi hỏi Quảng Ninh phải thay đổi mạnh mẽ. Nhiều cơ hội đang mở ra, như tiềm năng năng lượng tái tạo, nguồn tài chính, quan hệ quốc tế và lợi ích dài hạn về phát triển bền vững.
Thứ nhất, Quảng Ninh cần sớm hoàn thiện khung pháp lý về phát triển kinh tế xanh. Việc xây dựng và ban hành các chính sách cụ thể hỗ trợ các ngành kinh tế xanh là điều kiện tiên quyết nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển bền vững.
Các biện pháp có thể gồm: giảm thuế, ưu đãi tín dụng, hỗ trợ nghiên cứu - phát triển công nghệ xanh cho các doanh nghiệp.
Thứ hai, cần thiết lập hệ thống chính sách ưu đãi cụ thể đối với các ngành kinh tế xanh. Các biện pháp, như ưu đãi thuế, tiếp cận vốn với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ nâng cao trình độ công nghệ và tạo điều kiện trao đổi kinh nghiệm giữa doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài vào tỉnh sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành này.
Chính sách thuế xanh có thể là một mô hình, trong đó bao gồm việc tăng chi tiêu công cho các ngành phát thải thấp và chuyển dần từ phí ô nhiễm sang đánh thuế môi trường theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.
Ngoài ra, cũng cho thấy hiệu quả của việc áp dụng chính sách thuế carbon trong phạm vi hẹp với mức thuế suất thấp trong giai đoạn đầu, nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp và thị trường thích nghi.
Thứ ba, Quảng Ninh đang và rất quan tâm trong việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Như hỗ trợ nhân lực về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong các cơ quan của hệ thống chính trị thuộc tỉnh, thu hút và trọng dụng nhân tài đóng góp vào sự phát triển địa phương.
Nhưng những đối tượng này cần mở rộng lĩnh vực, nhất là trong nghiên cứu khoa học có mạo hiểm và khả năng ứng dụng cao trong thực tiễn. Việc thực hiện cần bảo đảm công khai, minh bạch khách quan, đúng đối tượng.
Thứ tư, cần xây dựng các cơ chế khuyến khích mạnh mẽ đối với nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ xanh, thân thiện với môi trường, đặc biệt là trong các lĩnh vực tiêu hao nhiều năng lượng.
Quá trình chuyển đổi năng lượng tại các khu công nghiệp, hướng tới sử dụng năng lượng tái tạo là cần thiết, nhưng hiện còn gặp nhiều thách thức về chính sách và quy hoạch.
Vì vậy, cần có chiến lược quy hoạch với lộ trình cụ thể trong việc chuyển đổi năng lượng. Các chính sách cần tính nhất quán, minh bạch và có tính khuyến khích cho các doanh nghiệp chuyển sang năng lượng tái tạo, năng lượng sạch bảo đảm giá và cơ chế hỗ trợ cho phát triển năng lượng tái tạo, qua đó giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và hướng tới nền kinh tế các-bon thấp.
Thứ năm,phát triển tài chính xanh là yếu tố then chốt trong việc thúc đẩy kinh tế xanh. Các chính sách về tín dụng xanh và ngân hàng xanh hiện mới chỉ mang tính khuyến khích, chưa có tính ràng buộc pháp lý.
Cơ chế huy động vốn cho tín dụng xanh còn hạn chế và việc tiếp cận nguồn vốn vẫn gặp nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp.
Để khắc phục điều này, chính quyền cần đồng hành cùng doanh nghiệp, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng trong thẩm định và giám sát cấp tín dụng xanh, đồng thời thiết lập lộ trình chính sách hỗ trợ ngành, lĩnh vực phù hợp nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn vốn, nhằm tạo kênh dẫn vốn cho các chủ đầu tư trong các lĩnh vực thân thiện với môi trường.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, phát triển kinh tế xanh đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, doanh nghiệp và người dân.
Những cam kết đưa ra phải cụ thể, có thể đo lường, đồng thời cần có khung pháp lý thuận lợi và hành động quyết liệt, bắt đầu từ các thay đổi nhỏ nhưng thiết thực trong thực tiễn.
4. Kết luận
Quảng Ninh không chỉ đi đầu trong phát triển kinh tế mà còn trở thành điểm sáng trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh bằng ứng dụng khoa học công nghệ.
Con đường mà Quảng Ninh đang đi đã khẳng định: phát triển kinh tế không đồng nghĩa với đánh đổi môi trường, mà hoàn toàn có thể đạt được sự hài hòa giữa thịnh vượng và bền vững.
Đây là minh chứng rõ ràng cho tầm nhìn chiến lược và là động lực để các địa phương khác noi theo trong tiến trình phát triển đất nước xanh, sạch, đẹp./.
-----
Tài liệu tham khảo
(1) Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030
(2) Xem: Cẩm Linh: Tỉnh Quảng Ninh: Nhiều giải pháp đồng bộ nhằm thực hiện hiệu quả 3 đột phá chiến lược, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 17-12-2021; https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/824937/tinh-quang-ninh--nhieu-giai-phap-do...
(3) Xem: PGS, TS, Đoàn Minh Huấn: Nguồn lực và động lực cho thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện thích ứng an toàn - Nhìn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh, Tạp chí Cộng sản điện tử,ngày 18-11-2022, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/nguon-luc-va-don...
(4) Xem: Hà Văn: Thủ tướng: Quảng Ninh phải vươn lên tầm cao mới, phát triển giàu có và sạch đẹp, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 12-2-2023, https://baochinhphu.vn/thu-tuong-quang-ninh-phai-vuon-len-tam-cao-moi-phat-trien-giau-co-va-sach-dep...
(5) Quyết định số 80/QĐ-TTg, ngày 11-2-2023, của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”
