Đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa tạo bước đột phá phát triển Quảng Ninh theo hướng bền vững

TS. Trần Tuấn Sơn – ThS. Nguyễn Bá Thanh 18/12/2025 17:03

Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những yếu tố quan trọng, động lực cho sự phát triển bền vững, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Đây cũng chính là xu hướng phát triển chung của thế giới và được nhiều quốc gia lựa chọn để đưa vào chiến lược phát triển toàn diện và bền vững đất nước, góp phần gia tăng “sức mạnh mềm”, định vị thương hiệu mỗi quốc gia trên trường quốc tế.

Công nghiệp văn hóa là thuật ngữ xuất hiện từ những năm 40 của thế kỷ XX, có hàm nghĩa gắn kinh tế với văn hóa, xem văn hóa là lĩnh vực có nhiều tiềm năng kinh tế. Theo quan niệm năm 2007 của UNESCO, công nghiệp văn hóa là các ngành sản xuất ra những sản phẩm vật thể và phi vật thể về nghệ thuật và sáng tạo, có tiềm năng thúc đẩy việc tạo ra của cải và thu nhập thông qua việc khai thác những giá trị văn hóa và sản xuất những sản phẩm dịch vụ dựa vào tri thức (kể cả giá trị văn hóa hiện đại và truyền thống).

Ở Việt Nam, ngày 6-5-2009, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020”, trong đó có đề cập đến chủ trương “phát triển công nghiệp văn hóa” gợi mở cho nhiều chính sách phát triển văn hóa quan trọng. Tại Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Đảng xác định, 1 trong 6 nhiệm vụ là phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa.  Đến ngày 8-9-2016, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, chính thức xác nhận các ngành công nghiệp văn hóa trên bản đồ kinh tế Việt Nam, bao gồm 12 lĩnh vực: quảng cáo; kiến trúc; phần mềm và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; truyền hình và phát thanh; du lịch văn hóa.

Triển khai thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ban hành Kế hoạch số 112/KH-UBND, ngày 29-5-2017, “về việc triển khai thực hiện Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Đặc biệt, để đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa tạo bước đột phá cho phát triển tỉnh Quảng Ninh, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2020 - 2025 xác định “chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh” theo hướng bền vững dựa vào 3 trụ cột (thiên nhiên, con người, văn hóa)... phát triển công nghiệp dịch vụ, công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí dựa trên nền tảng công nghiệp sáng tạo được tổ chức sản xuất ở trình độ cao”, nhằm xây dựng, phát triển Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp theo hướng hiện đại, trung tâm du lịch quốc tế, một cực tăng trưởng kinh tế toàn diện của phía Bắc.

Nằm ở phía Đông Bắc của đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh là địa phương có tài nguyên thiên nhiên phong phú, có đủ địa hình đồng bằng, trung du, đồi núi, biển, biên giới và hải đảo, có diện tích trên 6.200km2, trên 2.000 hòn đảo (chiếm 2/3 số đảo của cả nước) và ngư trường rộng lớn trên 6.100km². Là vùng đất cổ có lịch sử lâu đời, tỉnh Quảng Ninh là nơi hội tụ, giao thoa, thống nhất trong đa dạng của nền văn minh sông Hồng. Tỉnh Quảng Ninh sở hữu đa dạng các chủ thể văn hóa với cộng đồng 22 dân tộc anh em với khoảng 1,34 triệu người. Chính điều kiện địa lý giao thoa đặc biệt đã tạo nên những phẩm chất đặc trưng cho con người Quảng Ninh “kiên cường, năng động, sáng tạo, hào sảng”. Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ninh còn có kho tàng di sản văn hóa vô giá gồm 637 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, 362 di sản văn hóa phi vật thể. Quảng Ninh là “cái nôi” của giai cấp công nhân Việt Nam, có truyền thống cách mạng của công nhân vùng mỏ với “di sản” tinh thần vô giá “Kỷ luật và Đồng tâm” và là nơi giao thoa văn hóa của vùng đồng bằng sông Hồng. Các di sản này được coi là hồn cốt, chất chứa tinh hoa của dòng chảy văn hóa trong suốt chiều dài lịch sử, đồng thời là nguồn lực to lớn cho sự phát triển bền vững ở Quảng Ninh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển, là thị trường rộng mở để sản xuất, tiêu thụ các sản phẩm từ ngành công nghiệp văn hóa và phát huy các giá trị văn hóa nhằm tạo động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững.

Trên cơ sở xác định tiềm năng, lợi thế, nguồn lực để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh tập trung lãnh đạo phát triển công nghiệp văn hóa theo định hướng bảo đảm môi trường đầu tư phát triển bền vững; trong đó, tập trung vào 4 lĩnh vực chủ yếu đó là: du lịch văn hóa; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm; quảng cáo:

Lĩnh vực du lịch văn hóa: là một trong những lĩnh vực tỉnh Quảng Ninh có tiềm năng, lợi thế mạnh mẽ nhất để phát triển công nghiệp văn hóa. Quảng Ninh có 91 điểm du lịch, 1 khu du lịch quốc gia, 2 khu du lịch địa phương. Tỉnh đang tập trung phát triển 4 dòng sản phẩm gồm: du lịch biển đảo, du lịch văn hóa - tâm linh, du lịch cộng đồng và du lịch biên giới; trong đó, du lịch văn hóa được đặc biệt quan tâm nên có nhiều khởi sắc, tạo việc làm ổn định cho hàng vạn lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đến năm 2020, toàn tỉnh đã có 456 sản phẩm tham gia Chương trình OCOP, trong đó có 236 sản phẩm đạt 3 - 5 sao, trên 90% số sản phẩm OCOP được dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc phục vụ nhu cầu của người dân trong tỉnh và khách du lịch.

Các giá trị văn hóa gắn liền với các cơ sở thờ tự, tín ngưỡng được tôn vinh, lan tỏa. Năm 2015, lượng khách du lịch, tham quan đến các di tích, lễ hội chỉ khoảng gần 3 triệu lượt khách, năm 2019 tăng lên gần 5,6 triệu lượt khách (chiếm gần 40%/ tổng số khách tham quan du lịch tại Quảng Ninh). Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh từng bước được bảo tồn, đã trở thành nguồn lực góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững: đã có 13 bảo vật quốc gia được Thủ tướng Chính phủ công nhận; 25 di tích được lập hồ sơ khoa học xếp hạng, trong đó có 2 hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích cấp quốc gia đặc biệt; 7 hồ sơ đề nghị xếp hạng cấp quốc gia; 16 di tích cấp tỉnh; lập 28 hồ sơ di tích kiểm kê để bổ sung di tích kiểm kê vào Danh mục di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh của tỉnh Quảng Ninh. Đến nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 637 di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, gồm 6 di tích xếp hạng cấp quốc gia đặc biệt, 57 di tích cấp quốc gia, 89 di tích cấp tỉnh, 483 di tích được kiểm kê, phân loại[1]. Từ di sản văn hóa đến nền kinh tế sáng tạo, cụ thể là công nghiệp văn hóa, là điều kiện để thúc đẩy phát triển xã hội, bởi công nghiệp văn hóa không chỉ là một bộ phận của nền kinh tế, mà còn đóng vai trò là sợi dây liên kết các mặt của xã hội, kinh tế, môi trường để đạt sự bền vững lâu dài. Vì vậy, có thể khẳng định, công nghiệp văn hóa nói chung, du lịch văn hóa nói riêng đang dần trở thành nguồn lực cho sự phát triển bền vững.

Lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn: Quảng Ninh hiện nay có 1 đơn vị nghệ thuật công lập là Đoàn Nghệ thuật Quảng Ninh và hơn 10 đơn vị ngoài công lập. Hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các đơn vị này chủ yếu là những tiết mục ca múa nhạc dân tộc. Các hoạt động văn hóa này được tỉnh khuyến khích nhân rộng nhằm bảo tồn và lưu giữ nghệ thuật truyền thống, đồng thời là tiền đề thực hiện “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”. Trong thời gian qua, Đoàn Nghệ thuật Quảng Ninh thực hiện chức năng bảo tồn các loại hình nghệ thuật truyền thống (diễn xướng ca dao, dân ca, dân vũ...), phát triển nghệ thuật đương đại, biểu diễn nghệ thuật phục vụ công chúng, khách du lịch trong nước và quốc tế. Ngoài ra, các đơn vị nghệ thuật ngoài công lập trên địa bàn tỉnh cũng dần hình thành, tạo thêm sản phẩm văn hóa góp phần thu hút khách du lịch. Đặc biệt, hoạt động biểu diễn múa rối không chỉ góp phần lưu giữ, bảo tồn nghệ thuật văn hóa truyền thống Việt Nam, mà còn giới thiệu, quảng bá, phục vụ du khách trong và ngoài nước khi tới du lịch tại Quảng Ninh.

Lĩnh vực mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm: tỉnh có các công trình nổi bật như Cung Quy hoạch, hội chợ và triển lãm tỉnh; Quảng trường 30-10; Thư viện, Bảo tàng Quảng Ninh; Cung văn hóa thanh thiếu nhi tỉnh Quảng Ninh; Nhà thi đấu đa năng; Sân vận động Cẩm Phả; Trung tâm huấn luyện và thể thao Quảng Ninh; Trung tâm văn hóa, thể thao vùng Đông Bắc; Cụm thông tin cổ động biên giới Sa Vỹ,... đã được đưa vào khai thác phục vụ trong phát triển du lịch, tạo nên những sản phẩm văn hóa, thể thao đặc sắc, riêng có để quảng bá văn hóa, con người, hình ảnh Quảng Ninh đến với bạn bè trong nước và quốc tế.

Lĩnh vực quảng cáo: ngày càng phát triển mạnh mẽ với sự tham gia đông đảo của các lực lượng kinh doanh dịch vụ quảng cáo trong và ngoài tỉnh; giúp cung cấp thông tin về sản phẩm của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đến với các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Các chính sách, thủ tục hành chính cũng được cơ quan chức năng quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tham gia đầu tư sản xuất, kinh doanh quảng cáo. Đồng thời, khuyến khích các cơ quan thông tấn, báo chí phát triển hoạt động quảng cáo, nhất là trên môi trường mạng; tăng quy mô, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo ngoài trời trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, nhằm chấn chỉnh hoạt động quảng cáo cũng như nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực này, Sở Văn hóa - Thể thao tỉnh Quảng Ninh đã áp dụng các biện pháp mạnh thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật để hoạt động quảng cáo thực sự trở thành ngành công nghiệp văn hóa phát triển ở Quảng Ninh.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, bên cạnh những thuận lợi, tỉnh Quảng Ninh cũng phải đối mặt với một số khó khăn, thách thức như: nhận thức của một số cấp, ngành, đơn vị về công nghiệp văn hóa còn hạn chế, kết cấu hạ tầng cho sự phát triển công nghiệp văn hóa của tỉnh còn thiếu đồng bộ: “dịch vụ văn hóa chưa thật sự đa dạng, đồng đều giữa các vùng miền, chưa đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao của nhân dân; chưa tổ chức được nhiều hoạt động văn hóa, thể thao sôi nổi thu hút nhân dân tại các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở. Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao trong toàn tỉnh chưa đồng bộ, nhiều thiết chế không đủ tiêu chuẩn, chưa đáp ứng được yêu cầu luyện tập, sinh hoạt văn hóa và thi đấu thể dục thể thao chuyên và không chuyên”[2]. Sự tăng trưởng kinh tế chưa ổn định; thể chế, cơ chế và các chính sách đặc thù, ưu tiên cho sáng tạo văn hóa chưa hoàn thiện. Hiện Quảng Ninh còn thiếu sự phối hợp, liên kết đồng bộ, hiệu quả, liên ngành giữa các lĩnh vực khác nhau có liên quan; giáo dục, đào tạo, phát hiện, bồi dưỡng nhân tài trong các lĩnh vực công nghiệp văn hóa chưa được quan tâm đúng mức và chưa theo kịp sự tiến bộ, phát triển chung của khu vực và thế giới; các nguồn lực dành cho phát triển các ngành công nghiệp văn hóa còn nhỏ lẻ, manh mún; doanh nghiệp văn hóa phần lớn có quy mô nhỏ, sức cạnh tranh thấp. Sản phẩm, dịch vụ và thị trường văn hóa phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Việc đầu tư, hợp tác, liên kết, phát triển công nghiệp văn hóa từ khâu tạo sản phẩm, dịch vụ đến thị trường trong nước và nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức, chưa gắn với chuỗi giá trị văn hóa toàn cầu. Chưa xây dựng được cơ chế chính sách để thu hút, khuyến khích các nguồn lực xã hội và các nhà đầu tư lớn mạnh vào phát triển công nghiệp văn hóa...

Thời gian tới, để các ngành công nghiệp văn hóa phát triển toàn diện cả về quy mô, chất lượng sản phẩm, dịch vụ và thị trường, trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để phát triển bền vững hơn:

Một là, tăng cường các hoạt động tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội về vai trò của ngành công nghiệp văn hóa, coi đó là một ngành kinh tế mũi nhọn, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao, có khả năng đóng góp lớn vào phát triển kinh tế, tăng trưởng GRDP, tạo nhiều việc làm cho người lao động; thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đem lại hiệu quả nhiều mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại và quốc phòng, an ninh. Nâng cao ý thức, trách nhiệm và sự tham gia của cán bộ, đảng viên, người dân, doanh nghiệp, các cơ quan truyền thông về vị trí, vai trò phát triển công nghiệp văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội.

Hai là, xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách thúc đẩy sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa; hoàn thiện cơ cấu ngành công nghiệp văn hóa, bảo đảm phát triển đồng bộ trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ninh. Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê, các chỉ báo, chỉ số, tiêu chí nhằm đánh giá thực trạng phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và cơ sở dữ liệu về các ngành công nghiệp văn hóa Quảng Ninh. Nghiên cứu cơ chế hợp tác công - tư trong quản lý, khai thác, bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả. Xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù để phát huy sự sáng tạo dựa trên các nguồn lực công nghiệp văn hóa cho phát triển bền vững. Xây dựng chiến lược phát triển giáo dục sáng tạo, trong đó chú trọng tạo lập môi trường nuôi dưỡng sáng tạo văn hóa, hình thành hệ sinh thái giáo dục sáng tạo trong cộng đồng, gắn với thúc đẩy giáo dục mở, xây dựng nhà trường sáng tạo, đào tạo chuyên gia và công dân sáng tạo. Xây dựng và ban hành cơ chế khuyến khích phát triển bền vững các không gian sáng tạo trở thành “hệ sinh thái sáng tạo”; khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ số, phát triển kinh tế số, kinh tế ban đêm phù hợp với lợi thế và điều kiện nguồn lực của tỉnh. Xây dựng tiêu chuẩn, quy trình quản lý, đầu tư bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa mới tiệm cận với các tiêu chí, tiêu chuẩn của UNESCO và thế giới.

Ba là, đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực cho các ngành công nghiệp văn hóa với trình độ chuyên môn cao. Xây dựng tiêu chuẩn và cơ chế thi tuyển, lựa chọn, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hóa có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ ngang tầm nhiệm vụ. Thực hiện tốt chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, ưu đãi, vinh danh văn nghệ sĩ, nghệ nhân, các nhà khoa học, các nhà sáng tạo có quá trình cống hiến, có nhiều sản phẩm tốt, ảnh hưởng tích cực trong xã hội. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, nguồn nhân lực văn hóa, du lịch, công thương, hình thành đội ngũ chuyên gia chuyên nghiệp và liên ngành.

Bốn là, tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ trong sáng tạo, sản xuất, phổ biến, lưu giữ các sản phẩm văn hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ văn hóa, phù hợp với thị trường trong và ngoài nước. Tăng cường hợp tác, hội nhập với các tỉnh, thành phố có nền công nghiệp văn hóa phát triển mạnh nhằm đổi mới, sáng tạo trong các lĩnh vực, như du lịch văn hóa; nghệ thuật biểu diễn; thủ công mỹ nghệ; quảng cáo; mỹ thuật, nhiếp ảnh; điện ảnh; thời trang; truyền hình và phát thanh; xuất bản... Xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu với đầy đủ các nội dung về di sản văn hóa, thành phố sáng tạo, kết nối chia sẻ, quảng bá thông tin với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng trong và ngoài nước.

Năm là, đổi mới mạnh mẽ tư duy, phát triển công nghiệp văn hóa theo các quy luật của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nhất quán từ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và có chính sách đột phá trong triển khai, tổ chức, thực hiện. Phát triển thị trường công nghiệp văn hóa, chú trọng khu vực có tiềm năng, lợi thế, như ở khu vực nông thôn, làng nghề truyền thống, thông qua các chương trình đào tạo, hoặc liên kết với chuyên gia quốc tế, để nâng cao năng lực sáng tạo cho người sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa có chất lượng cao tham gia vào thị trường văn hóa trong nước và quốc tế. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tạo lập thêm các biểu tượng mới, thương hiệu sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao cho Quảng Ninh trong thời kỳ phát triển mới. Góp phần quảng bá văn hóa, con người Quảng Ninh, Việt Nam ra thế giới; hướng tới sự phát triển bền vững để Quảng Ninh thực sự trở thành tỉnh “Hành chính minh bạch - Kinh tế phát triển - Văn hóa đặc sắc - Xã hội văn minh - Nhân dân hạnh phúc”.

Sáu là, mở rộng các hoạt động giao lưu đối ngoại và hợp tác quốc tế về văn hóa, tập trung nâng cao hiệu quả công tác giao lưu, đối ngoại văn hóa, hợp tác với các cơ quan, tổ chức quốc tế trên địa bàn tỉnh và cả nước. Xây dựng kế hoạch tổ chức lễ hội, sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch quy mô lớn, có tầm quốc tế và khu vực đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045. Tổ chức định kỳ hằng năm các hoạt động gặp gỡ, giao lưu văn hóa, các sự kiện văn hóa quốc tế lớn tại Quảng Ninh trở thành các sự kiện thường niên, có uy tín trong khu vực, thu hút sự tham gia của các nghệ sĩ, các tổ chức văn hóa - nghệ thuật, những người và tổ chức hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa có uy tín, được đông đảo công chúng và các thị trường văn hóa quan tâm.

Kết quả của việc phát triển công nghiệp văn hóa không phải chỉ là đạt được những con số mà quan trọng nhất chính là khai thác tài nguyên du lịch văn hóa đặc sắc, khơi nguồn tiềm năng sáng tạo, nuôi dưỡng nhiệt huyết của những người làm nghề để tạo ra giá trị, sản phẩm chất lượng. Có như vậy, công nghiệp văn hóa tỉnh Quảng Ninh mới có những bước tiến vững chắc, góp phần bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững trong quá trình giao lưu, hội nhập và hợp tác quốc tế hiện nay./.


[1] Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2019): Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2022, tr. 35.

[2] Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2-2023): Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU, ngày 9-3-2018 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững”, lưu hành nội bộ, tr. 38.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa tạo bước đột phá phát triển Quảng Ninh theo hướng bền vững
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO