Đẩy mạnh hoạt động ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong bảo tồn và phát huy các giá trị di sản ở tỉnh Quảng Ninh
Trong kỷ nguyên số, để bảo tồn và phát huy hiệu quả giá trị của các di sản thì việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số vừa là xu hướng tất yếu vừa là yêu cầu cấp thiết được đặt ra đối với các địa phương, vùng, miền, quốc gia. Trên cơ sở xác định những lợi thế so sánh với hệ thống di sản phong phú, đa dạng, đặc sắc, thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh đã và đang tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong các hoạt động bảo tồn di sản cũng như phát huy vai trò nguồn lực, động lực của di sản trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

1- Quảng Ninh là địa phương có thiên nhiên tươi đẹp, đa dạng địa hình từ đồi núi, đồng bằng đến biển, đảo, hội tụ hệ thống di sản thiên nhiên và di sản văn hóa vô cùng phong phú, đa dạng, kết tinh những giá trị văn hóa đặc sắc của nhiều dân tộc, vùng, miền.
Trong đó, di sản tiêu biểu là Vịnh Hạ Long - kỳ quan thiên nhiên đã 3 lần được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới (năm 1994, năm 2000, năm 2023 cùng quần đảo Cát Bà của thành phố Hải Phòng) với diện tích 1.553 km2, 1.969 hòn đảo với cảnh quan thiên nhiên tuyệt sắc và hệ sinh thái độc đáo. Cùng với đó là đặc khu Vân Đồn có hơn 600 hòn đảo lớn nhỏ nằm trong vịnh Bái Tử Long nối liền với vịnh Hạ Long, với hàng trăm núi đá, đảo đá cùng nhiều hang động, những bãi cát trắng trải dài bao quanh các đảo Minh Châu, Quan Lạn, Ngọc Vừng…
Hệ sinh thái động, thực vật ở đây cũng vô cùng phong phú với khoảng hơn 50 loài động vật phù du, hơn 100 loài động vật thủy sản có giá trị cao; nhiều động vật quý hiếm, như sá sùng, bào ngư, hải sâm, trai ngọc... Ngoài ra, Vườn quốc gia Bái Tử Long cũng có nhiều loại động vật quý khác…, là tiềm năng để phát triển các loại hình du lịch khám phá, du lịch sinh thái, thân thiện với môi trường.
Hệ thống di sản văn hóa của tỉnh Quảng Ninh cũng vô cùng phong phú, đặc sắc với hơn 600 di sản văn hóa vật thể (đình, chùa, đền, miếu, danh lam thắng cảnh…), trong đó Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc (trải dài trên 3 tỉnh, thành phố là Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Phòng) được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa thế giới năm 2025; cùng gần 400 di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội, phong tục, tập quán, trò chơi dân gian...), trong đó có 8 di tích quốc gia đặc biệt; 12 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; di sản thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam (trong đó có then nghi lễ người Tày ở huyện Bình Liêu) được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Cùng với đó là hơn 100 lễ hội văn hóa, lịch sử nổi tiếng cả nước, như lễ hội Bạch Đằng, lễ hội đền Cửa Ông, lễ hội chùa Long Tiên, lễ hội Thập Cửu Tiên Công, lễ hội Trà Cổ, lễ hội Quan Lạn, lễ hội Yên Tử…, cùng nhiều lễ hội mới được xây dựng thành sản phẩm văn hóa thường niên, như lễ hội carnaval Hạ Long, lễ hội hoa anh đào - mai vàng Yên Tử, lễ hội trà hoa vàng, lễ hội hoa sở...
Nhiều lễ hội đã được tỉnh Quảng Ninh phục dựng thành công, bài bản, giữ được bản sắc truyền thống của dân tộc, như lễ hội văn hóa, thể thao các dân tộc Dao, Tày, Sán Chỉ, Sán Dìu...
Gắn với các lễ hội truyền thống là các trò chơi dân gian, các loại hình văn hóa, văn nghệ truyền thống, trang phục, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian về lâm - nông - ngư nghiệp, văn hóa ẩm thực truyền thống, được gìn giữ ở các làng xóm, thôn bản - những “bảo tàng sống” để các khách du lịch trong và ngoài nước có các trải nghiệm văn hóa địa phương thú vị.
Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ninh còn gìn giữ được di sản văn hóa tại các làng nghề với nhiều ngành, nghề khác nhau, như gốm sứ, thủy tinh, mây tre đan, điêu khắc than đá, tiểu thủ công đồ gỗ, thêu ren, dệt, chế biến nông, lâm, thủy sản, nghề đóng và sửa chữa tàu…, trong đó có những nghề và làng nghề truyền thống đã được công nhận, như nghề truyền thống làm bánh gio Phong Cốc, nghề làm bún Hiệp Hòa, nghề đóng tàu thuyền vỏ gỗ Đò Chanh (thị xã Quảng Yên), làng nghề đan ngư cụ Hưng Học, làng nghề đóng tàu thuyền vỏ gỗ Cống Mương (thị xã Quảng Yên)…, góp phần tạo nên nét văn hóa đặc sắc của địa phương.
Đây là những giá trị cần được gìn giữ và phát huy lợi thế so sánh để tỉnh Quảng Ninh có thể xây dựng thành các sản phẩm và dịch vụ văn hóa đặc sắc, đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.
2- Trên cơ sở quán triệt các quan điểm của Đảng về bảo tồn và phát huy giá trị các di sản cũng như chủ trương thực hiện chuyển đổi số trong các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa, hướng đến phát triển kinh tế số trong bối cảnh mới, đồng thời xác định các lợi thế từ nguồn lực di sản của địa phương, tỉnh Quảng Ninh đã chủ động, tích cực bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn kết với phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững.
Nghị quyết Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định quan điểmlấy phát triển văn hóa, xây dựng văn minh sinh thái, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường làm trọng điểm; chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh” theo hướng bền vững dựa vào ba trụ cột thiên nhiên, con người, văn hóa…; đề ra một trong 5 nhiệm vụ trọng tâm là kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế nhanh, bền vững với phát triển văn hóa, con người, xây dựng nền văn hóa giàu bản sắc Quảng Ninh; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Từ Nghị quyết Đại hội, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ban hành các chương trình hành động, các kế hoạch công tác để triển khai, tổ chức thực hiện đưa nghị quyết vào cuộc sống, trong đó có các chương trình về phát triển văn hóa, con người, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản.
Đặc biệt,ngày 30-10-2023, Tỉnh ủy Quảng Ninh ban hành Nghị quyết số 17-NQ/TU “Về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Quảng Ninh trở thành nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh, bền vững”, xác định quan điểm xây dựng, phát huy các giá trị văn hóa, sức mạnh con người Quảng Ninh là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh…; đầu tư cho văn hóa, con người là đầu tư cho phát triển bền vững; phải sử dụng hiệu quả, hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn lực của Nhà nước kết hợp với huy động tối đa nguồn lực xã hội để tăng đầu tư cho phát triển văn hóa, con người phù hợp với các định hướng chiến lược, quy hoạch phát triển của quốc gia, của vùng đồng bằng sông Hồng và của tỉnh Quảng Ninh; đồng thời đề ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2030, trong đó có mục tiêu số hóa 100% các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, di sản văn hóa phi vật thể đã được xếp hạng...
Nghị quyết cũng chỉ ra một trong những nhiệm vụ quan trọng cần thực hiện là bảo tồn, phục hồi và phát huy giá trị các di sản văn hóa tỉnh Quảng Ninh, các công trình kiến trúc, cảnh quan mang bản sắc văn hóa truyền thống, đặc trưng; tập trung phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo và các dịch vụ văn hóa trở thành một mũi đột phá chiến lược thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh, bền vững.
Trước những yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, Nghị quyết Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định quan điểm: Phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên…
Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm”; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển; đột phá mạnh mẽ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Nghị quyết cũng nhấn mạnh một trong những khâu đột phá là đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển nền văn hóa giàu bản sắc Quảng Ninh, gắn với xây dựng và phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản, kinh tế đêm, kinh tế đô thị.
Như vậy có thể thấy, tỉnh Quảng Ninh đã có những chủ trương, định hướng và quan điểm phát triển phù hợp với kỷ nguyên số khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng trở thành xu thế tất yếu, giữ vai trò quan trọng và đột phá đối với sự phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực văn hóa cũng như hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
Để đạt được mục tiêu đề ra, thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người Quảng Ninh với những bước đi bài bản, vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm; thúc đẩy đổi mới sáng tạo gắn kết chặt chẽ, đồng bộ với cải cách hành chính, đổi mới phương thức cung cấp dịch vụ quản lý văn hóa hiệu quả, tăng cường kết nối, trao đổi thông tin dữ liệu về quản lý văn hóa, con người giữa các cấp chính quyền, giữa chính quyền, người dân và doanh nghiệp.
Tỉnh Quảng Ninh đã triển khai chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số; xây dựng đô thị thông minh tại Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý giao thông, y tế; số hóa dữ liệu giáo dục; phát triển mô hình du lịch thông minh với hệ thống thuyết minh tự động tại Vịnh Hạ Long và các điểm di tích.
Trong lĩnh vực văn hóa, Quảng Ninh tiên phong trong việc chuyển đổi số và tăng cường ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản; xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa 3D các di tích quốc gia đặc biệt, bảo vật quốc gia; tạo ra các không gian trải nghiệm du lịch đa dạng, trở thành sản phẩm du lịch mới góp phần phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn tỉnh, coi đây là cầu nối hữu hiệu để đưa các di sản đến gần hơn với cộng đồng, đóng góp tích cực vào việc xây dựng các sản phẩm và dịch vụ văn hóa đặc sắc của địa phương, góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam nói chung và Quảng Ninh nói riêng ra thế giới.
Một trong những điểm nhấn tiêu biểu là việc ứng dụng công nghệ vào không gian trưng bày, triển lãm kết hợp công nghệ thực tế ảo (VR) và trí tuệ nhân tạo để người trải nghiệm sẽ được “xuyên không gian và thời gian”, hòa mình vào những khoảnh khắc lịch sử, cảm nhận rõ nét không khí thiêng liêng, hào hùng của dân tộc như ở Không gian trải nghiệm thực tế ảo tái hiện khoảnh khắc lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945 tại sự kiện Trưng bày, giới thiệu sách, báo, tài liệu và Triển lãm ảnh tư liệu và tranh cổ động chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2025-2030; qua đó thu hút đông đảo người tham quan, trải nghiệm, giúp người dân, đặc biệt là giới trẻ, tiếp cận lịch sử theo cách gần gũi và hấp dẫn hơn.
Hoặc tại Nhà trưng bày không gian văn hóa người Dao Thanh Y (phường Yên Tử), toàn bộ hình ảnh, tư liệu giới thiệu về đời sống, phong tục, trang phục và các giá trị văn hóa đặc trưng của đồng bào Dao Thanh Y đã được số hóa, lưu trữ và trình chiếu thông qua thiết bị màn hình cảm ứng thông minh.
Có thể thấy, việc ứng dụng khoa học, công nghệ đã tạo nên một không gian trưng bày sống động, trực quan và hiện đại, tăng tính tương tác và hấp dẫn của điểm đến di sản, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước; góp phần giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống hiện đại.
Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ninh cũng tích cực triển khai nhiều nội dung chuyển đổi số, như xây dựng cơ sở dữ liệu về ngành văn hóa, thể thao, du lịch; triển khai Bộ tiêu chí “Văn hóa số của người Quảng Ninh văn minh, lịch sự trên môi trường số”; đã số hóa 86% di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng; thực hiện phương án bán vé điện tử, thu phí tự động, bán vé online, mua vé không sử dụng tiền mặt và triển khai dịch vụ thuyết minh tự động bằng 2 ngôn ngữ (Việt - Anh) tại Bảo tàng Quảng Ninh; xây dựng và triển khai hệ thống Thư viện số, Thư viện thông minh tại Thư viện Quảng Ninh…; vận động các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh cài đặt phần mềm ASM (phấn đấu 100% các khách sạn từ 1 đến 5 sao đều ứng dụng phần mềm ASM trong việc khai báo, thống kê lượng khách lưu trú tại khách sạn).
Nền tảng du lịch tương tác thông minh 3D/360 dựa trên công nghệ 3D laser scanning tiên tiến giúp thu thập dữ liệu, tái hiện không gian với kích thước chính xác, màu sắc chân thật một cách nhanh chóng đang được triển khai tại Bảo tàng Quảng Ninh, Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử, Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt chiến thắng Bạch Đằng…; góp phần tăng trải nghiệm cho du khách, thúc đẩy du lịch, bảo tồn, phát huy giá trị di sản.
Hiện nay, Bảo tàng Quảng Ninh ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào trưng bày, thuyết minh, giới thiệu hơn 135.000 hiện vật, trong đó có 12 bảo vật quốc gia, qua đó thu hút lượng du khách lớn hằng năm. Tại mỗi khu vực trưng bày, bảo tàng bố trí các màn hình cảm ứng lớn được ghép từ 3 màn hình cảm ứng 70 inch, khách tham quan có thể truy cập internet để tìm hiểu về bảo tàng ảo, website của bảo tàng.
Trên website baotangao.baotangquangninh.vn, du khách có thể tham quan phiên bản số hóa theo hướng dẫn viên ảo một cách sinh động, hấp dẫn. Toàn bộ không gian bảo tàng được mô hình hóa bằng công nghệ 3D, từ kiến trúc phía ngoài độc đáo bên bờ Vịnh Hạ Long, cho đến những không gian ấn tượng bên trong, như “khoang thuyền” chở lịch sử nhiều thời đại, hầm lò khai thác than dưới lòng đất, Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử, Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt chiến thắng Bạch Đằng, quần thể bãi cọc Bạch Đằng, đình, đền, miếu dàn trải bên tả ngạn sông Bạch Đằng, Khu di tích quốc gia đặc biệt nhà Trần, Di tích đền thờ nữ tướng Lê Chân tại Đông Triều…
Tại không gian trưng bày “Di tích Yên Tử - Nhà Trần tại Quảng Ninh”, Bảo tàng Quảng Ninh sử dụng màn hình trực tuyến được tạo bởi 30 màn hình 50 inch có cổng kết nối là 3 cáp kết nối trực tuyến với 3 điểm của Di tích Yên Tử là: Đầu ga cáp treo 1, đầu ga cáp treo 2 và khu vực Tháp Tổ; từ đó giúp khách tham quan cảm nhận được cảnh quan thực tại của di tích, thêm cảm xúc khi xem, nghe thuyết minh giới thiệu về giá trị lịch sử - văn hóa của di tích.
Hay tại không gian “Đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Quảng Ninh” được trưng bày dưới dạng “ống núi” nhằm tái hiện các hang động kỳ vĩ của Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long. Tại mỗi ống núi, ngoài việc thiết kế nội dung và hình thức trưng bày còn kết hợp với phần trình chiếu ánh sáng, âm thanh thông qua ứng dụng của hệ thống máy chiếu thông minh, tạo cho du khách cảm giác như đang ở trong các hang động của Vịnh Hạ Long.
Qua đó, du khách trước khi đến với di tích có thể tìm hiểu các không gian văn hóa, các hiện vật trên môi trường ảo. Với một số hiện vật chỉ được lưu ở kho bảo tàng mà chưa được trưng bày, hoặc không thể mang đi trưng bày, như Bảo vật quốc gia tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông tại tháp Huệ Quang ở Yên Tử, việc số hóa hiện vật giúp du khách chiêm ngưỡng một cách sống động, ý nghĩa.
Tỉnh Quảng Ninh cũng tích cực triển khai nền tảng Ứng dụng di động và du lịch thông minh, giúp du khách không chỉ tìm kiếm được thông tin điểm đến, hành trình, dịch vụ, mà còn có thể tra cứu thông tin về các lễ hội, phong tục, nghệ thuật trình diễn dân gian; hình ảnh, video minh họa về các di sản văn hoá phi vật thể liên quan…
Có thể thấy, việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang góp phần tích cực trong bảo vệ và phát huy nguồn lực di sản của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cả nước nói chung, góp phần tạo ra các sản phẩm và dịch vụ văn hóa đa dạng, hấp dẫn, thúc đẩy ngành du lịch cũng như các ngành kinh tế dựa trên di sản của tỉnh Quảng Ninh ngày càng phát triển.
Theo báo cáo của Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh, năm 2024, du lịch tỉnh Quảng Ninh có sự bứt phá mạnh mẽ với trên 19 triệu lượt khách du lịch, trong đó khách quốc tế đạt hơn 3,5 triệu lượt (bằng 122% so với năm 2023); tổng doanh thu từ du lịch đạt 46.552 tỷ đồng (bằng 139% so với năm 2023); góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.
3- Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hiện nay không ít cấp, ngành của địa phương và người dân địa phương vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản vẫn chưa được các ngành, các cấp có liên quan phối hợp chặt chẽ và hiệu quả. Các ứng dụng công nghệ còn thiếu sự đồng bộ, chưa được tổ chức theo một hệ thống tích hợp toàn diện.
Hạ tầng công nghệ ở một số địa phương còn hạn chế. Phần lớn cán bộ văn hóa chưa được đào tạo bài bản về công nghệ số, đặc biệt là trong các lĩnh vực mới như bảo tồn số, thiết kế mô hình thông tin kiến trúc, hay phân tích dữ liệu di sản.
Nguồn lực đầu tư cho các hoạt động ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản ở một số địa phương còn hạn chế. Việc huy động nguồn lực xã hội hóa hoặc hợp tác công - tư còn hạn chế do thiếu khung pháp lý rõ ràng và thiếu sự nhận thức đầy đủ, dẫn đến việc các kết quả đạt được thường bị gián đoạn hoặc không mở rộng được phạm vi ứng dụng...
Trong kỷ nguyên phát triển mới, trước những yêu cầu đặt ra của thực tiễn, để di sản thực sự phát huy vai trò là nguồn lực và động lực trong xây dựng văn hóa, con người, thúc đẩy sự phát triển bền vững của tỉnh Quảng Ninh, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản ở tỉnh Quảng Ninh như sau:
Một là, tăng cường hiệu quả tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền và người dân tỉnh Quảng Ninh về vị trí, vai trò của di sản trong phát triển kinh tế - xã hội; về yêu cầu tất yếu của việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh mới.
Tiếp tục đổi mới tư duy, trước hết của đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp trong vấn đề quản trị di sản, coi đầu tư vào khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản là đầu tư vào phát triển kinh tế - xã hội, để di sản vừa được bảo tồn hiệu quả vừa được phát huy giá trị thông qua việc trở thành “đầu vào” của quá trình xây dựng các sản phẩm và dịch vụ văn hóa giàu giá trị, góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành du lịch của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung.
Hai là, hoàn thành chuyển đổi số, số hóa cơ sở dữ liệu của ngành văn hóa, du lịch; tiếp tục nâng cao hiệu quả của bảo tàng số, thư viện số, ứng dụng du lịch thông minh. Ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ AR/VR trong số hóa và tái hiện di sản để mở ra cách tiếp cận mới, biến trải nghiệm văn hóa - du lịch tỉnh Quảng Ninh trở nên độc đáo, khác biệt so với các điểm đến khác.
Xây dựng và phát triển các không gian sáng tạo, trung tâm nghệ thuật, khu tổ hợp sự kiện, khơi nguồn và lan tỏa sự sáng tạo trên khắp các địa phương. Xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa 3D các di sản văn hóa, nhất là các di tích quốc gia đặc biệt, bảo vật quốc gia của tỉnh Quảng Ninh.
Số hóa các làn điệu dân ca, nghi lễ truyền thống và các loại hình nghệ thuật dân gian khác, các hiện vật, trang phục, công cụ lao động truyền thống; tích hợp vào một hệ thống quản lý dữ liệu lớn (Big Data). Gắn mã QR code cho từng di sản để du khách có thể dễ dàng tra cứu thông tin chi tiết ngay tại các điểm tham quan hoặc khu vực tái hiện văn hóa.
Đẩy mạnh mô hình du lịch thông minh dựa trên nền tảng công nghệ số; ứng dụng công nghệ để biến di sản thành sản phẩm trải nghiệm du lịch hấp dẫn, như phát triển các tour du lịch ảo để khách du lịch có những trải nghiệm văn hóa thú vị; sử dụng thực tế tăng cường tại các điểm di tích để tái hiện lại các sự kiện lịch sử, các nhân vật trong truyền thuyết hoặc quá trình diễn ra lễ hội một cách trực quan, sinh động; thiết kế các bài giảng E-learning hoặc khóa học trực tuyến về lịch sử văn hóa, truyền thống ngư dân vịnh Hạ Long và các nền văn hóa tiền sử (Soi Nhụ, Cái Bèo, Hạ Long); từ đó thu hút rộng rãi sự quan tâm của giới trẻ và khách du lịch trong nước và quốc tế.
Ba là, xây dựng khung chính sách quản lý rõ ràng, minh bạch và linh hoạt theo hướng khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ gắn với các di sản.
Có cơ chế ưu đãi về thuế, vốn cho các dự án công nghệ số trong bảo tồn và quảng bá di sản, đi kèm với cơ chế giám sát và đánh giá định kỳ hiệu quả của các chính sách nhằm kịp thời điều chỉnh phù hợp với thực tiễn phát triển của tỉnh Quảng Ninh.
Thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP) trong việc ứng dụng công nghệ vào bảo tồn và phát huy giá trị di sản Quảng Ninh. Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ, kết nối các doanh nghiệp công nghệ với các đơn vị quản lý di sản để cùng phát triển các dự án công nghệ thông minh, từ đó giảm tải áp lực tài chính cho địa phương, đồng thời thu hút sự sáng tạo và nguồn lực từ khu vực tư nhân.
Doanh nghiệp công nghệ được khuyến khích tham gia các dự án bảo tồn di sản cũng như tạo ra giá trị mới cho kinh tế di sản. Các dự án thử nghiệm công nghệ, như các ứng dụng thực tế ảo, quản lý di sản bằng công nghệ IoT (Internet of Things) cần có sự tham gia phối hợp của nhiều bên liên quan để đạt hiệu quả tối ưu. Xây dựng các hệ thống bảo mật tiên tiến, quy trình quản lý chặt chẽ, bảo vệ dữ liệu di sản khỏi các nguy cơ bị xâm nhập và tấn công mạng.
Bốn là, chú trọng hoạt động đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ, coi đây là công việc phải đi trước một bước. Đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng internet tốc độ cao, hệ thống máy chủ và các thiết bị công nghệ tối tân phục vụ số hóa di sản văn hóa và thiên nhiên của tỉnh Quảng Ninh. Triển khai các trung tâm dữ liệu lớn, hệ thống điện toán đám mây, tạo nền tảng vững chắc cho các ứng dụng công nghệ về quản lý và bảo tồn di sản.
Chú trọng xây dựng không gian văn hóa số; xây dựng cộng đồng văn hóa số và bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của công nghệ số đối với xã hội, giúp cộng đồng địa phương hình thành kỹ năng số, năng lực tiếp cận thông tin và khả năng sáng tạo, lan tỏa giá trị văn hóa trong môi trường số, qua đó vừa góp phần giữ vững bản sắc văn hóa địa phương vừa hội nhập sâu rộng với các vùng, miền, quốc gia khác.
Năm là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh; đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực số đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế di sản của Quảng Ninh trong kỷ nguyên số thông qua việc tập trung đào tạo thế hệ trẻ giỏi kỹ năng số gắn với tri thức địa phương; khuyến khích đội ngũ nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ,… cùng hợp tác để sáng tạo sản phẩm văn hóa số có giá trị thương hiệu và mang đậm bản sắc văn hóa địa phương.
Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực theo lộ trình nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật tiếp thu tiến bộ khoa học, công nghệ mới áp dụng vào hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh hội nhập quốc tế, như việc thực hiện các chương trình đào tạo chuyên biệt về khoa học, công nghệ đối với các cán bộ quản lý di sản và những người hoạt động trong lĩnh vực du lịch; tổ chức các khóa học chuyên sâu về công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn nhằm nâng cao kỹ năng và kiến thức cho lực lượng lao động.
Bên cạnh đó, cần khuyến khích các trường đại học, cao đẳng trong tỉnh mở các ngành đào tạo về công nghệ thông tin và du lịch thông minh, nhằm tạo ra lớp nhân lực trẻ, năng động và sáng tạo cho thị trường lao động.
Đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế để trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực bảo tồn di sản, phát triển công nghiệp văn hóa, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực di sản văn hóa, vấn đề áp dụng những thành tựu khoa học, công nghệ trong bảo tồn và phát huy các giá trị di sản, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế di sản tỉnh Quảng Ninh, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển mà địa phương đã đề ra trong kỷ nguyên mới./.
