Chuyển từ “đạt chuẩn” sang “nâng chuẩn”: Trọng tâm mới của phong trào xây dựng nông thôn mới xứ Thanh
Thanh Hóa từ một tỉnh nông nghiệp còn nhiều khó khăn, nay là địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Những thành tựu nổi bật của tỉnh đạt được trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 cho thấy sự quyết tâm, nỗ lực bền bỉ và cách làm sáng tạo của tỉnh, đặc biệt khi Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đang có sự thay đổi sau khi sắp xếp thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp.

Hành trình tăng tốc về đích
Nông thôn mới (NTM) ở Thanh Hóa là một hành trình “tăng tốc kép”: tăng về quy mô địa bàn đạt chuẩn và đồng thời tăng về chất lượng tiêu chí. Đến tháng 6-2025, Thanh Hóa có 15 huyện, thị xã, thành phố được công nhận đạt chuẩn hoặc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM; 374/449 xã và 831 thôn, bản miền núi đạt chuẩn NTM.
Cùng với đó, tỉnh ghi nhận 125 xã đạt chuẩn NTM nâng cao và 33 xã, 629 thôn, bản đạt chuẩn NTM kiểu mẫu, đưa Thanh Hóa tiếp tục nằm trong nhóm địa phương dẫn đầu cả nước về xây dựng NTM.
Nếu so với giai đoạn đầu chương trình, đây là bước nhảy rất dài. Từ chỗ từng trắng xã NTM ở nhiều huyện miền núi, đến năm 2025, ngay cả địa bàn khó khăn nhất như Mường Lát cũng đã xóa “vùng trắng” xã đạt chuẩn, kết thúc một chặng đường rất gian nan trong hành trình rút ngắn khoảng cách giữa miền xuôi và miền ngược.
Điểm đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng trong năm 2025 vẫn rất ấn tượng, dù bộ máy hành chính chuyển sang mô hình chính quyền đại phương 2 cấp.
Chỉ tính riêng từ đầu năm 2025 đến trước thời điểm vận hành chính quyền địa phương 2 cấp (ngày 1-7-2025), tỉnh có thêm 2 huyện, 14 xã và 15 thôn đạt chuẩn NTM; 2 huyện và 11 xã đạt chuẩn NTM nâng cao; 8 xã và 60 thôn đạt chuẩn NTM kiểu mẫu; 39 sản phẩm OCOP được công nhận mới, trong đó có 1 sản phẩm OCOP 5 sao quốc gia.
Những con số tăng thêm chỉ trong vài tháng cho thấy đà “tăng tốc về đích” của nhiệm kỳ 2020 - 2025 không hề chậm lại, dù bối cảnh thể chế có nhiều thay đổi.
Nếu giai đoạn 2010 - 2020 có thể xem là giai đoạn “phủ sóng chuẩn NTM” thì giai đoạn hiện nay đã dịch chuyển trọng tâm sang “nâng chuẩn” và “giữ chuẩn” trong bối cảnh tiêu chí ngày càng cao.
Về mặt thể chế, Thanh Hóa đã cụ thể hóa các quy định của Trung ương về bộ tiêu chí NTM, NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu giai đoạn 2021 - 2025 bằng hệ thống quyết định, kế hoạch cấp tỉnh; trong đó có các văn bản cập nhật bộ tiêu chí xã NTM nâng cao với yêu cầu cao hơn về thu nhập bình quân, cơ cấu lao động, môi trường, mức độ đô thị hóa, dịch vụ công và mức độ hài lòng của người dân.
Các tiêu chí mới không chỉ dừng lại ở tỷ lệ hộ nghèo hay số ki-lô-mét đường được bê-tông hóa, mà yêu cầu rõ về chất lượng dịch vụ y tế - giáo dục, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế, tỷ lệ trường học đạt chuẩn, tỷ lệ thôn, bản văn hóa, mức độ phát triển kinh tế tập thể, mức độ chuyển đổi số ở cấp xã...
Điều này buộc chương trình NTM phải chuyển trục: từ một mô hình chủ yếu dựa trên đầu tư hạ tầng sang một mô hình phát triển tổng hợp, trong đó chất lượng thể chế, dịch vụ công, chất lượng sống và năng lực cộng đồng trở thành nội dung trung tâm.
Trong bức tranh ấy, OCOP đóng vai trò nổi bật như một “đầu kéo mềm” để nâng chuẩn, sở hữu nhiều sản phẩm đạt chất lượng OCOP không chỉ là một thành tích phong trào, mà quan trọng hơn, nó tạo ra những “cực tăng trưởng” ngay tại cơ sở: những cụm sản xuất gắn với chế biến, du lịch, thương mại hiện đại, giúp nông dân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị thay vì chỉ bán thô nông sản.
Ở nhiều địa phương, sự phát triển của các hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực OCOP đã trở thành minh chứng sinh động cho việc “nâng chuẩn” không chỉ là làm đẹp hạ tầng mà là tổ chức lại sản xuất.
Đến tháng 6-2025, Thanh Hóa có 645 sản phẩm OCOP được công nhận, trong đó 2 sản phẩm đạt 5 sao cấp quốc gia (Nước mắm Lê Gia, Mắm tôm Lê Gia), 59 sản phẩm 4 sao và 584 sản phẩm 3 sao, đưa tỉnh vào nhóm 3 địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng sản phẩm OCOP.
Nếu ở giai đoạn đầu, OCOP còn là khái niệm khá mới mẻ thì đến nay, hệ sản phẩm đã bao trùm từ nông sản chế biến sâu, sản phẩm dược liệu, sản phẩm làng nghề đến du lịch cộng đồng, dịch vụ trải nghiệm, phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng gia tăng giá trị.
Một trục nâng chuẩn khác mang tính “đột phá mềm” là chuyển đổi số nông thôn. Thanh Hóa được Trung ương đánh giá là một trong những địa phương sớm đưa chuyển đổi số vào chương trình NTM với những nội dung cụ thể: từ xây dựng “xã thông minh”, “thôn thông minh”, triển khai cổng thông tin điện tử cấp xã, sổ tay điện tử đến việc hỗ trợ nông dân đưa nông sản lên sàn thương mại điện tử, ứng dụng cảm biến, tưới tự động, nhật ký điện tử trong sản xuất nông nghiệp.
Chính những thay đổi này góp phần tăng thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn, giúp nhiều xã NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu ở Thanh Hóa không chỉ “đẹp” về cảnh quan mà còn “bền” về sinh kế.
Khi tiêu chí thu nhập gắn chặt với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiêu chí văn hóa gắn với nếp sống thực hành hằng ngày, tiêu chí môi trường gắn với hành vi phân loại rác, bảo vệ nguồn nước, thì NTM không còn là một dự án “đầu tư - nghiệm thu - quyết toán” mà trở thành một phương thức quản trị nông thôn mới.
Vai trò chủ thể của người dân cũng được “nâng chuẩn”. Theo thống kê, chỉ riêng năm 2024, người dân toàn tỉnh đã tự nguyện hiến khoảng 480.000m² đất cho các công trình NTM; giai đoạn 2021 - 2024, con số này lên tới hơn 1,9 triệu mét vuông đất, hàng triệu ngày công lao động và hàng nghìn tỷ đồng đóng góp bằng tiền, vật liệu.
Những hàng rào xanh, những tuyến đường hoa, những “con đường bích hoạ”, “cột điện nở hoa”, mô hình “nhà sạch, vườn mẫu”, các phong trào phân loại rác thải hữu cơ tại hộ gia đình,... đều được hình thành từ nội lực cộng đồng, chứ không phải từ mệnh lệnh hành chính.
Ở chiều ngược lại, chính áp lực nâng chuẩn đã bộc lộ rõ hơn những “vùng trũng” của nông thôn xứ Thanh. Không ít xã miền núi sau khi đạt chuẩn NTM lại gặp khó khi tiến lên NTM nâng cao vì hạn chế quỹ đất, thiếu nguồn lực để đầu tư thêm trường học, thiết chế văn hóa tập trung; các tiêu chí về thu nhập, giảm nghèo, việc làm ổn định còn chịu tác động mạnh từ biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường lao động.
Những điểm nghẽn đó buộc tỉnh phải điều chỉnh cách phân bổ nguồn lực, tăng cường lồng ghép các chương trình mục tiêu, tập trung ưu tiên hơn cho vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời đặt trọng tâm vào nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở - yếu tố then chốt để không “đuối sức” khi đi vào chiều sâu.
Nhưng chính áp lực đó cũng làm cho chương trình NTM bớt đi tính hình thức. Khi mỗi xã, mỗi thôn, bản được yêu cầu duy trì tỷ lệ hài lòng của người dân về quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở, gắn với tiêu chí tiếp cận pháp luật, an ninh trật tự, môi trường, văn hóa, thì NTM trở thành một “bài kiểm tra thực tế” đối với năng lực quản trị.
Việc Thanh Hóa chủ động phát triển bộ tiêu chí NTM cấp thôn sau đó được Trung ương nhân rộng chính là một cách “nâng chuẩn” từ gốc, lấy thôn, bản làm đơn vị hạt nhân để lan toả chuẩn sống mới.
Xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp không làm đứt quãng quá trình xây dựng nông thôn mới
Ngày 1-7-2025 đánh dấu một bước ngoặt mới đối với Thanh Hóa, cùng với cả nước, tỉnh chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (cấp tỉnh và cấp xã) thay cho mô hình 3 cấp (tỉnh - huyện - xã) trước đây.
Việc sắp xếp này không chỉ là bài toán tổ chức bộ máy, mà còn tác động trực tiếp đến chương trình NTM: hàng trăm xã cũ đã đạt chuẩn NTM, NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu nay được hợp nhất thành xã mới với quy mô dân số, diện tích lớn hơn; bộ máy chính quyền cơ sở phải cơ cấu lại; phạm vi địa bàn NTM bị “vẽ lại” trên bản đồ.
Nguy cơ gián đoạn, thậm chí “mất chuẩn” là hoàn toàn có thể nếu không có giải pháp đồng bộ về thể chế, nguồn lực và điều hành.
Nhận diện rõ khó khăn này, tỉnh Thanh Hóa đã chủ động xây dựng phương án để chương trình NTM không bị “đứt mạch” khi chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Ngày 5-8-2025, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Văn bản số 12806/UBND-NNMT, về việc “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững”, yêu cầu các sở, ngành, địa phương khẩn trương rà soát lại hiện trạng NTM của từng xã mới sau sắp xếp, đối chiếu với bộ tiêu chí hiện hành, lập lại lộ trình phấn đấu cho giai đoạn 2025 - 2030, đồng thời thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia cấp xã, kiện toàn đội ngũ cán bộ phụ trách xây dựng NTM giảm nghèo theo hướng chuyên nghiệp, ổn định ít nhất đến hết năm 2025.
Trung ương cũng đã có hướng dẫn riêng về việc công nhận xã đạt chuẩn NTM, NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu đối với các đơn vị hành chính mới sau sắp xếp: không “xóa trắng” thành quả cũ, nhưng yêu cầu rà soát, đánh giá lại theo bộ tiêu chí hiện hành; xã mới chỉ được công nhận khi bảo đảm đạt đủ các tiêu chí trên tổng thể địa bàn hợp nhất.
Điều này tạo ra cả áp lực lẫn động lực để các chính quyền cơ sở không “ngủ quên” trên các tấm bằng công nhận cũ, mà phải chủ động củng cố, nâng chuẩn trong điều kiện mới.
Trên thực tế, chính quyền địa phương 2 cấp làm vai trò của cấp xã/phường được nâng lên rõ rệt.
Nếu như trước đây, nhiều khâu trong NTM phải qua “trạm trung chuyển” cấp huyện từ phê duyệt quy hoạch, phân bổ vốn đến giám sát thì nay cấp xã, phường phải chủ động hơn trong hoạch định, triển khai và giám sát chương trình trên địa bàn, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của tỉnh.
Những xã mới được thành lập trên cơ sở hợp nhất nhiều đơn vị cũ như một số xã ở Thiệu Hóa, Ngọc Lặc, Hoằng Hóa,... đã phải đồng thời xử lý 3 việc: giải quyết các công trình dở dang, xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản và xây dựng kế hoạch NTM mới cho địa bàn mở rộng.
Thực tiễn những tháng đầu vận hành cho thấy, nếu chuẩn bị kỹ, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hoàn toàn có thể trở thành “lực đẩy” mới cho NTM.
Ở nhiều xã, phường, bộ máy hành chính được tinh gọn đã tạo điều kiện giải quyết thủ tục nhanh hơn, giảm tầng nấc trung gian, tăng tính chủ động, linh hoạt trong xử lý các vấn đề phát sinh ở cơ sở từ quy hoạch lại vùng sản xuất, chỉnh trang hạ tầng thôn, bản, đến hỗ trợ phát triển OCOP, du lịch cộng đồng.
Từ góc độ người dân, câu hỏi lớn nhất là: đường làng có được tiếp tục nâng cấp hay không, nước sạch có đến được từng hộ, trẻ em có được học trường khang trang, sản phẩm nông nghiệp có đầu ra ổn định, dịch vụ công có thuận tiện hơn hay không.
Sự đồng thuận đối với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, vì thế, chỉ có thể bền vững nếu nó được minh chứng bằng những kết quả cụ thể trong đời sống hằng ngày mà NTM chính là một thước đo trực quan.
Chính vì vậy, văn bản 12806/UBND-NNMT không chỉ nhấn mạnh việc kiện toàn bộ máy mà còn yêu cầu đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và vốn sự nghiệp cho NTM, hoàn thành kế hoạch giải ngân năm 2025 theo đúng quy định, bảo đảm vốn đến đúng địa phương, đúng dự án, phát huy hiệu quả đầu tư, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, lãng phí, tiêu cực (nếu có).
Đây là “nút chốt” để đảm bảo dòng vốn cho NTM không bị tắc nghẽn khi mô hình hành chính thay đổi.
Ở cấp cơ sở, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp cũng là phép thử đối với chất lượng đội ngũ cán bộ xã - “mắt xích” quyết định sự thông suốt của chương trình NTM.
Những yêu cầu về dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, về năng lực huy động nguồn lực xã hội, đối thoại với người dân, xử lý mâu thuẫn lợi ích trong quy hoạch, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi nghề,... giờ đây không chỉ là khẩu hiệu mà trở thành tiêu chí đánh giá cán bộ cụ thể, gắn với kết quả NTM trên địa bàn.
15 năm trước, khi chương trình NTM bắt đầu, ít ai nghĩ rằng Thanh Hóa sẽ trở thành một trong những “điểm sáng” của cả nước về số xã đạt chuẩn và độ lan tỏa phong trào.
Hôm nay, khi hành trình ấy bước vào chặng mới với yêu cầu “nâng chuẩn” trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bài toán đặt ra không còn đơn thuần là thêm bao nhiêu ki-lô-mét đường, bao nhiêu xã đạt chuẩn, mà là làm thế nào để những thành quả đó bền vững và không bị “gãy khúc”./.