Chuyển đổi số với sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh mới
Trong bối cảnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh định hình xu thế phát triển mới, Quảng Ninh nổi bật như một địa phương tiên phong về cải cách hành chính, chính quyền số và kinh tế số. Dựa trên số liệu giai đoạn 2022-2024, bài viết phân tích tác động của chuyển đổi số đối với tăng trưởng kinh tế – xã hội của tỉnh, đồng thời làm rõ định hướng phát triển được xác lập trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI (2025 - 2030). Kết quả cho thấy chuyển đổi số đã trở thành động lực quan trọng giúp nâng cao năng suất, cải thiện môi trường đầu tư, hiện đại hóa dịch vụ công và nâng cao chất lượng sống của người dân. Tuy vậy, những hạn chế về nguồn nhân lực số, năng lực đổi mới sáng tạo, tính bền vững của tăng trưởng và nguy cơ bất bình đẳng số vẫn là thách thức lớn. Nghị quyết Đại hội XVI đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế số, hạ tầng số và nguồn nhân lực chất lượng cao, hướng tới mô hình phát triển xanh - số. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm phát huy...

1. Đặt vấn đề
Trong hơn một thập niên trở lại đây, Quảng Ninh đã có bước chuyển mình mang tính cơ cấu khi chuyển từ mô hình kinh tế dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, đặc biệt là than, sang mô hình kinh tế dịch vụ – công nghiệp hiện đại, hướng tới mục tiêu trở thành “một cực tăng trưởng năng động của phía Bắc” và phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030 (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2024).
Động lực của quá trình chuyển đổi này là sự kết hợp giữa cải cách hành chính, đầu tư hạ tầng đồng bộ và đặc biệt là việc triển khai chuyển đổi số trên cả ba trụ cột: chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Ở tầm quốc gia, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định 749/QĐ-TTg khẳng định mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 50 quốc gia dẫn đầu về Chính phủ điện tử, coi chính phủ số, kinh tế số và xã hội số là ba trụ cột quan trọng (Tạp chí Nghiên cứu Đa ngành Quốc tế, 2023).
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu chuyển đổi số ở cấp tỉnh – đặc biệt tại một địa phương có tính tiên phong và giàu tiềm năng như Quảng Ninh – mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Giai đoạn 2020 - 2024, Quảng Ninh duy trì tốc độ tăng trưởng cao với GRDP tăng 11,03% năm 2023, quy mô GRDP đạt khoảng 315,8 nghìn tỷ đồng, cơ cấu chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp - xây dựng (51,9%) và dịch vụ (trên 30%) (Cổng thông tin Quảng Ninh, 2023).
Năm 2024, dù chịu ảnh hưởng của thiên tai và biến động kinh tế toàn cầu, GRDP của tỉnh vẫn ước tăng 8,42%, đạt 347,5 nghìn tỷ đồng, đứng thứ 7 cả nước về quy mô kinh tế (Báo Kiểm toán, 2024). Đến năm 2025, GRDP bình quân đầu người được dự báo vượt 11.000 USD, gấp hơn 2,2 lần bình quân cả nước, trong khi tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm năm địa phương cao nhất cả nước; tỉnh cũng cơ bản xóa nhà tạm và không còn hộ nghèo theo chuẩn Trung ương và của tỉnh (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2024).
Những kết quả trên cho thấy chuyển đổi số đang trở thành một động lực quan trọng của mô hình phát triển mới, song đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá tác động, xác định vai trò chiến lược của chuyển đổi số trong nhiệm kỳ 2025 - 2030 và đề xuất các giải pháp để đảm bảo chuyển đổi số thực sự trở thành trụ cột phát triển nhanh và bền vững của tỉnh.
2. Thực trạng chuyển đổi số gắn với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh
Trong giai đoạn gần đây, Quảng Ninh nổi lên như một địa phương đi đầu trong việc kiến tạo thể chế cho chuyển đổi số với tầm nhìn dài hạn và chiến lược.
Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 05/02/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy được xem là nền tảng quan trọng, định hướng toàn diện quá trình chuyển đổi số đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Nghị quyết này đưa ra 20 mục tiêu trọng tâm và 40 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, thể hiện mức độ chuẩn bị kỹ lưỡng và phạm vi bao trùm nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở nghị quyết, UBND tỉnh triển khai nhiều kế hoạch hằng năm nhằm thúc đẩy chuyển đổi số một cách thực chất và đồng bộ. Kế hoạch số 37/KH-UBND năm 2023 nhấn mạnh bốn nhóm mục tiêu chính gồm dữ liệu số, chính quyền số, kinh tế số và xã hội số (Cổng Thông tin điện tử Quảng Ninh, 2023).
Tiếp đó, Kế hoạch số 73/KH-UBND năm 2024 đề cao việc hợp tác với các tập đoàn công nghệ lớn nhằm triển khai nền tảng số, tổ chức đào tạo nhân lực số và mở rộng ứng dụng công nghệ trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân (Thư viện Pháp luật, 2024).
Cùng với đó, tỉnh đẩy mạnh Quy hoạch phát triển đô thị thông minh, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như y tế, giáo dục, giao thông và môi trường, nhằm hướng tới mục tiêu lọt vào nhóm đô thị thông minh hàng đầu Việt Nam và ASEAN vào năm 2030 (Đầu tư Quảng Ninh, 2023).
Việc ban hành đồng bộ từ nghị quyết, kế hoạch đến quy hoạch thể hiện tư duy chính sách nhất quán, đóng vai trò là trụ cột thể chế thúc đẩy chuyển đổi số trở thành động lực phát triển mới của tỉnh.
Quảng Ninh nhiều năm liên tiếp đứng trong nhóm dẫn đầu toàn quốc về cải cách hành chính và chất lượng quản trị địa phương. Các chỉ số như PAR INDEX, PCI và SIPAS đều duy trì thứ hạng cao, phản ánh sự chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng chính quyền điện tử và chính quyền số (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2023).
Năm 2022, tỉnh xếp thứ ba cả nước về ICT Index và đứng đầu về cung cấp dịch vụ công trực tuyến, thể hiện mức độ phát triển toàn diện của hạ tầng số và khả năng cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Đến năm 2023, Quảng Ninh tiếp tục đứng thứ hai cả nước về chỉ số thành phần Chính quyền số, khẳng định nỗ lực số hóa thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
Năm 2024, chỉ số cải cách hành chính cấp tỉnh đạt 87,12%, tăng 1,27 điểm phần trăm so với năm 2023, cho thấy quyết tâm cải thiện môi trường thể chế của tỉnh (Báo Đầu tư, 2024). Việc liên tục duy trì nhóm dẫn đầu cả nước đã tạo dựng niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp, góp phần cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư - kinh doanh (VnEconomy, 2024).
Bên cạnh thành công về chính quyền số, kinh tế số đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng chính của Quảng Ninh. Tỉnh đặt mục tiêu kinh tế số chiếm 20% GRDP vào năm 2025 và 35% vào năm 2030, phản ánh quyết tâm chuyển dịch mạnh mẽ mô hình tăng trưởng (Báo Tin Tức, 2023).
Các mục tiêu này được lồng ghép trong chiến lược phát triển các ngành then chốt như du lịch, dịch vụ logistics, năng lượng tái tạo, công nghiệp chế biến - chế tạo và kinh tế biển (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2023).
Theo kết quả đánh giá chuyển đổi số quốc gia (DTI), năm 2022 Quảng Ninh đạt 0,7024 điểm, tăng đáng kể so với năm trước đó, xếp thứ ba toàn quốc. Trong đó, tỉnh đứng thứ tư ở trụ cột chính quyền số, thứ hai ở trụ cột xã hội số và thứ chín ở trụ cột kinh tế số, cho thấy mức độ phát triển đồng đều giữa các trụ cột (Nhân Dân, 2023).
Đáng chú ý, các lĩnh vực như thương mại điện tử, thanh toán số, du lịch thông minh và các ứng dụng số trong ngành than, cảng biển, logistics đang mang lại giá trị gia tăng rõ rệt, góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả quản trị doanh nghiệp (VOV, 2023).
Quảng Ninh cũng chú trọng phát triển xã hội số nhằm bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận và thụ hưởng các thành quả của chuyển đổi số. Nghị quyết 09-NQ/TU và các kế hoạch triển khai đều nhấn mạnh nhiệm vụ mở rộng vùng phủ Internet, phổ cập điện thoại thông minh và ứng dụng số cho người dân, đặc biệt tại khu vực miền núi, biên giới và hải đảo.
Ngoài ra, tỉnh còn tổ chức các cuộc thi trực tuyến, chương trình tập huấn kỹ năng số cho cán bộ cơ sở và doanh nghiệp nhỏ, nhằm tăng cường mức độ hiểu biết và năng lực ứng dụng công nghệ số trong đời sống và sản xuất, kinh doanh (Cổng TT Bộ KH&CN, 2023).
Những mục tiêu xã hội được đặt ra trong Nghị quyết Đại hội XVI – như tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 90%, HDI nằm trong nhóm 5 tỉnh dẫn đầu, hay 100% dân số tham gia bảo hiểm y tế cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa chính sách an sinh và chiến lược chuyển đổi số (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2023).
Chuyển đổi số đã tạo ra những tác động rõ nét đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trước hết, quá trình này góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP cao, mở rộng quy mô kinh tế, cải thiện năng suất lao động và thúc đẩy thu hút FDI.
Các ngành kinh tế quan trọng như công nghiệp, dịch vụ, logistics và du lịch đều hưởng lợi nhờ ứng dụng công nghệ số vào quản trị, vận hành và cung ứng dịch vụ, từ đó tạo ra giá trị gia tăng mới (VnEconomy, 2024).
Bên cạnh tác động kinh tế, chuyển đổi số còn giúp nâng cao hiệu quả quản trị địa phương. Việc số hóa hồ sơ, cơ sở dữ liệu đất đai – dân cư và phát triển hệ thống một cửa điện tử đã rút ngắn quy trình xử lý, giảm tiếp xúc trực tiếp và hạn chế nguy cơ nhũng nhiễu, qua đó tăng mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp (Báo Quảng Ninh, 2023).
Trong lĩnh vực xã hội, các ứng dụng số trong y tế, giáo dục, an sinh xã hội, du lịch và giao thông đã nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ và chất lượng cuộc sống, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19 làm tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ công trực tuyến (Vietnam.vn, 2023).
Tuy vậy, quá trình chuyển đổi số vẫn đối mặt với nhiều hạn chế. Nghị quyết Đại hội XVI chỉ ra rằng chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa thật sự bền vững; tiềm năng kinh tế biển, du lịch và các khu công nghiệp chưa được khai thác tương xứng; khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực chủ đạo; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu hụt; và một bộ phận cán bộ vẫn còn tâm lý e ngại, sợ trách nhiệm (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2023).
Ngoài ra, tình trạng chênh lệch kỹ năng số giữa khu vực đô thị và nông thôn, nguy cơ bất bình đẳng số giữa doanh nghiệp lớn – nhỏ và các rủi ro an ninh mạng vẫn tiếp tục là những thách thức đòi hỏi tỉnh phải có giải pháp kịp thời và hiệu quả.
3. Một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của chuyển đổi số trong phát triển kinh tế – xã hội Quảng Ninh
Một là, hoàn thiện thể chế và cơ chế phối hợp về chuyển đổi số.
Tiếp tục rà soát, đồng bộ hóa và cụ thể hóa Nghị quyết 09-NQ/TU cùng Nghị quyết Đại hội XVI vào các chương trình, đề án ngành, lĩnh vực; lồng ghép mục tiêu chuyển đổi số trong quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hằng năm và trung hạn.
Xây dựng cơ chế phân công, phân cấp rõ ràng giữa Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và các sở, ngành, địa phương; đồng thời hình thành cơ chế điều phối liên ngành hiệu quả, gắn với trách nhiệm người đứng đầu.
Hoàn thiện cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox) trong các lĩnh vực mới như dịch vụ số, đô thị thông minh, tài chính số, dữ liệu mở nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Hai là, phát triển hạ tầng số và hệ thống dữ liệu dùng chung.
Tiếp tục đầu tư hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu (Data Center), nền tảng điện toán đám mây và hệ thống bảo mật đáp ứng yêu cầu quản trị dữ liệu lớn.
Đẩy nhanh xây dựng, kết nối và chia sẻ các cơ sở dữ liệu dùng chung (dân cư, đất đai, doanh nghiệp, du lịch, giao thông, y tế, giáo dục…) bảo đảm tính liên thông từ tỉnh đến cơ sở.
Thực hiện chiến lược dữ liệu mở phù hợp, cho phép doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng khởi nghiệp khai thác dữ liệu của Nhà nước nhằm tạo ra sản phẩm dịch vụ mới, song song với cơ chế đảm bảo an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Ba là, phát triển nguồn nhân lực số và nâng cao kỹ năng số cho toàn xã hội.
Thiết kế các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về chuyển đổi số, khoa học dữ liệu, an ninh mạng cho đội ngũ cán bộ nòng cốt tại các sở, ngành và địa phương theo hướng “vừa học, vừa làm”, gắn với các nhiệm vụ cụ thể.
Tăng cường liên kết với các trường đại học, cao đẳng, cơ sở nghề (như Đại học Hạ Long) để xây dựng chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực CNTT, du lịch thông minh, logistics số, quản trị công nghệ.
Đẩy mạnh phổ cập kỹ năng số cho người dân, đặc biệt tại khu vực miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số; mở rộng mô hình “tổ công nghệ số cộng đồng” hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thương mại điện tử và thanh toán số.
Bốn là, thúc đẩy hệ sinh thái doanh nghiệp số và đổi mới sáng tạo.
Xây dựng các khu, không gian đổi mới sáng tạo, trung tâm khởi nghiệp gắn với những đô thị lớn như Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái, Uông Bí và các khu kinh tế, khu công nghiệp. Khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng nền tảng số trong quản trị, sản xuất – kinh doanh thông qua các chương trình hỗ trợ tài chính, tư vấn kỹ thuật, ưu đãi thuế – phí; ưu tiên các dự án phát triển sản phẩm số có khả năng nhân rộng.
Đồng thời, thu hút các tập đoàn công nghệ lớn đầu tư vào hạ tầng số, dịch vụ nền tảng, trung tâm dữ liệu và đô thị thông minh, tạo hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, kỹ năng và phương thức quản trị hiện đại.
Năm là, gắn kết chuyển đổi số với chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế biển.
Ưu tiên ứng dụng công nghệ số trong quản lý tài nguyên và môi trường, giám sát khai thác khoáng sản, cảnh báo thiên tai, bảo vệ rừng và biển nhằm khắc phục các hạn chế về suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môi trường.
Đẩy mạnh mô hình “cảng biển thông minh”, “khu kinh tế thông minh”, “du lịch thông minh” tại Hạ Long, Vân Đồn, Móng Cái, gắn với phát triển kinh tế biển đa ngành và kinh tế di sản.
Tích hợp dữ liệu khí hậu, tài nguyên, giao thông, du lịch, dân cư trong quy hoạch không gian phát triển nhằm tối ưu hóa sử dụng đất và bảo đảm phát triển bền vững.
Sáu là, tăng cường an toàn, an ninh mạng và nâng cao năng lực giám sát, đánh giá.
Hoàn thiện khung quản trị an ninh mạng cấp tỉnh, bảo đảm an toàn thông tin cho các hệ thống trọng yếu, dữ liệu cá nhân và dữ liệu doanh nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc gia.
Xây dựng bộ chỉ số giám sát, đánh giá chuyển đổi số phù hợp với đặc thù của tỉnh ở cả cấp tỉnh, huyện, xã; đồng thời tích hợp với các bộ chỉ số quốc gia như DTI, PAR INDEX, SIPAS, DDCI, DGI… nhằm đánh giá toàn diện mức độ tác động của chuyển đổi số đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Kết luận
Bước sang giai đoạn phát triển mới, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI (2025 - 2030) xác định chuyển đổi số cùng với khoa học, công nghệ và chuyển đổi xanh – là một trong ba động lực trọng yếu của mô hình phát triển.
Các chỉ tiêu được đặt ra mang tính định hướng chiến lược và có mức độ tham vọng cao, bao gồm tăng trưởng GRDP ổn định, tăng mạnh tỷ trọng kinh tế số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phấn đấu đưa chỉ số phát triển con người (HDI) vào nhóm dẫn đầu cả nước.
Điều này thể hiện cam kết của tỉnh trong việc xây dựng nền kinh tế dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, để chuyển đổi số thực sự trở thành động lực phát triển bền vững, Quảng Ninh cần tiếp tục hoàn thiện thể chế nhằm tạo hành lang pháp lý minh bạch và thông suốt; phát triển đồng bộ hạ tầng số, đặc biệt là hạ tầng dữ liệu và kết nối số; đồng thời đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực số chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Tỉnh cũng cần xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp số và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong cộng đồng doanh nghiệp; lồng ghép chuyển đổi số với chuyển đổi xanh, kinh tế biển và phát triển đô thị thông minh; bên cạnh đó bảo đảm an toàn, an ninh mạng và nâng cao năng lực giám sát, đánh giá.
Với nền tảng đã tạo dựng cùng định hướng chiến lược rõ ràng, Quảng Ninh có cơ sở vững chắc để hiện thực hóa mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030. Tỉnh được kỳ vọng phát triển thành một vùng đô thị hiện đại, thông minh, xanh – số, đóng vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng của khu vực phía Bắc và cả nước trong giai đoạn tới.
Tài liệu tham khảo
1. Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh. (2023, 29 tháng 12). Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Ninh năm 2023. Báo Pháp luật Việt Nam. https://www.baophapluat.vn/hop-bao-cong-bo-so-lieu-thong-ke-kinh-te-xa-hoi-tinh-quang-ninh-nam-2023-post500514.html
2. Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh. (2025). Quảng Ninh đứng thứ 6 cả nước về tăng trưởng kinh tế năm 2024. Báo Kiểm toán. https://baokiemtoan.vn/quang-ninh-dung-thu-6-ca-nuoc-ve-tang-truong-kinh-te-37855.html
3. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh. (2025, 27 tháng 9). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025–2030. Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh. https://pbgdpl.quangninh.gov.vn/wp-content/uploads/2025/10/Nghi-quyet-01-DHDB-Dang-bo-tinh-lan-thu-XVI.signed.pdf
4. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh. (2022, 05 tháng 02). Nghị quyết số 09-NQ/TU về chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
5. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. (2023). Kế hoạch số 37/KH-UBND về chuyển đổi số tỉnh Quảng Ninh năm 2023. Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh.
https://www.quangninh.gov.vn/Chuyen-e/…/ChiTietTinTuc.aspx?nid=132073
6. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. (2024). Kế hoạch số 73/KH-UBND năm 2024 về chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh. Thư viện Pháp luật. https://thuvienphapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/nghi-quyet-09-nq-tu-ngay-05-02-2022-cua-ban-thuong-vu-tinh-uy-quang-ninh-ve-chuyen-doi-so-toan-dien-tin-138035927.html
7. Bộ Thông tin và Truyền thông. (2023). Kết quả đánh giá chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) năm 2022. Nhân Dân điện tử.
https://dangcongsan.org.vn/quangninh/…/53735v.html
8. Công an Tỉnh Quảng Ninh. (2024). Quảng Ninh phấn đấu đứng trong top 5 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số toàn diện. Công an Tỉnh Quảng Ninh. https://congan.quangninh.gov.vn/tin-trong-tinh/quang-ninh-phan-dau-dung-trong-top-5-tinh-thanh-pho-dan-dau-ca-nuoc-ve-chuyen-doi-so-toan-dien-29450.html
