Vấn đề và Bình luận

“Chủ nghĩa thực dân số” và ứng phó của các quốc gia đang phát triển

Vũ Thanh Vân 29/06/2026 09:56

Trong khi đế quốc của các nước thuộc địa xưa kia giành giật, phân chia những vùng đất giàu tài nguyên, ngày nay các tập đoàn công nghệ khổng lồ đang âm thầm xâm lấn không gian mạng các quốc gia đang phát triển bằng thuật toán, cáp quang biển và trung tâm dữ liệu.

"Chủ nghĩa thực dân số" đang đặt hàng tỷ người dùng ở châu Á và châu Phi vào thế lưỡng nan: từ chối công nghệ đồng nghĩa với tụt hậu, nhưng chấp nhậ nó lại là trao đi chủ quyền dữ liệu và quyền tự quyết trên chính sân nhà. Đối mặt với nguy cơ ấy, mỗi quốc gia đang phát triển buộc phải tìm kiếm con đường riêng từ giải pháp tình thế đến ứng phó chiến lược.

b2.jpg
Một giờ công nghệ thông tin của học sinh Nam Sudan tại một trại tị nạn ở miền Bắc Uganda_Ảnh: TL

Tình thế lưỡng nan

Trong kỷ nguyên số, dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI), các quốc gia đang phát triển phải đối mặt với những thách thức truyền thống và phi truyền thống chưa từng có.

Chủ quyền quốc gia không chỉ bị đe dọa bởi sự hung hăng của các thế lực hiếu chiến, mà còn bởi “chủ nghĩa thực dân số” do sự xóa mờ giữa không gian địa lý và không gian mạng.

“Chủ nghĩa thực dân số” tìm cách kiểm soát không gian mạng, thu thập và khai thác dữ liệu cho các mục đích chính trị và thương mại. Thông qua việc triển khai, kiểm soát cơ sở hạ tầng số và khai thác tài sản dữ liệu, các cường quốc công nghệ và các tập đoàn đa quốc gia chi phối, thao túng, kiểm soát và bóc lột có chủ đích đối với các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển ở châu Á và châu Phi.

Chủ yếu tập trung ở Mỹ và châu Âu, các tập đoàn công nghệ lớn (Big Tech) từng ngày, từng giờ thu thập khối lượng dữ liệu khổng lồ từ người dùng như lịch sử truy cập, nội dung ưa thích, thói quen cá nhân và nhu cầu mua sắm...

Các thông tin tưởng như tản mạn, riêng lẻ này khi được tập hợp trong một thời gian đủ dài, với một khối lượng đủ lớn sẽ được phân tích để tìm ra những thông tin cốt lõi về đặc điểm và hành vi của người dùng, từ đó định hướng các nội dung, hoặc điều hướng các quảng cáo.

Dữ liệu của người dùng bị biến thành tài nguyên thô để tạo ra lợi nhuận khổng lồ ở nước ngoài, trong khi quốc gia hoặc người tạo ra dữ liệu hầu như không nhận được lợi ích gì, thậm chí không biết dữ liệu của mình đang được khai thác như thế nào.

Xu hướng đáng lo ngại này gắn liền với mô hình chủ nghĩa tư bản giám sát, theo đó các trải nghiệm của con người đều bị lợi dụng, phân tích cho các mục tiêu thương mại và chính trị.

Ý niệm lý tưởng về môi trường Internet tự do hay không gian mạng rộng mở của đầu thế kỷ XXI đã nhường bước trước hiện thực u ám về không gian mạng bất bình đẳng, đầy phụ thuộc.

Các quốc gia đang phát triển ngày càng phụ thuộc vào các cường quốc công nghệ và các tập đoàn công nghệ lớn về hạ tầng, công nghệ. Các hệ thống cáp quang biển, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, Internet vạn vật (IoT), AI phủ sóng càng rộng, các quốc gia đang phát triển càng trở nên phụ thuộc. Sự phụ thuộc vào các nền tảng này khiến các quốc gia này mất quyền kiểm soát đối với nền kinh tế số, thậm chí thỏa hiệp chủ quyền mạng.

Đáng lo ngại hơn, với ưu thế vượt trội và khả năng thống trị, các tập đoàn công nghệ lớn không chỉ kiến tạo sân chơi mà còn xác lập luật chơi, từ đó áp đặt các quy tắc và tiêu chuẩn.

Trong báo cáo Chủ quyền số và chủ nghĩa thực dân dữ liệu, Marcus Vinícius De Freitas - chuyên gia cao cấp tại Trung tâm Chính sách cho phương Nam (Morocco) - cho rằng, các hệ thống AI mang theo những định kiến văn hóa, ngôn ngữ và chủng tộc, từ đó củng cố các hành vi phân biệt đối xử.

Ông nhận định: “các hệ thống AI ngày càng định hình đời sống kỹ thuật số được huấn luyện chủ yếu dựa trên các bộ dữ liệu tạo ra ở Bắc bán cầu. Những bộ dữ liệu này bao hàm các giá trị văn hóa và định kiến cụ thể, tạo ra sự phân biệt đối xử bằng thuật toán, gây bất lợi có hệ thống cho phần lớn dân số thế giới”.

Hậu quả nghiêm trọng của “Chủ nghĩa thực dân số” là sự xói mòn đối với chủ quyền số và quyền tự quyết của các quốc gia đang phát triển. Các tập đoàn đa quốc gia, các công ty công nghệ lớn thường đến với những lời hứa hẹn phát triển công nghệ nội địa, thúc đẩy kết nối và tiến bộ xã hội, nhưng thực chất lại khoét sâu khoảng cách công nghệ, đẩy các quốc gia đang phát triển vào tình thế lưỡng nan.

Một mặt, nếu các quốc gia đang phát triển không sử dụng các công nghệ và nền tảng số, họ sẽ không có cơ hội để thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số.

Mặt khác, họ buộc phải sử dụng và ngày càng phụ thuộc vào những công nghệ mà họ không thể định hình, trong khi dữ liệu nội địa bị khai thác và tập trung về các cơ sở dữ liệu ở nước ngoài, vượt khỏi tầm kiểm soát của các chính phủ.

b3.jpg
Trung Quốc đẩy mạnh quá trình quốc tế hóa đồng nhân dân tệ thông qua hạ tầng kỹ thuật số_Ảnh: Atlantic Council

Ứng phó chiến lược

Nhận thức được tình thế lưỡng nan mà “Chủ nghĩa thực dân số” gây ra, các quốc gia đang phát triển đã triển khai cả biện pháp tình thế và chính sách, giải pháp chiến lược. Các bước đi này nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào hệ sinh thái và nền tảng công nghệ số của phương Tây, đồng thời khẳng định chủ quyền số.

Tuy nhiên, mức độ hiệu quả của các ứng phó này phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh chính trị, nguồn lực kinh tế, năng lực công nghệ và quyết tâm chính trị. Trung Quốc là một trong những quốc gia theo đuổi mô hình công nghệ lấy nhà nước làm trung tâm với những ứng phó quyết liệt nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng của các tập đoàn công nghệ nước ngoài trong khi phát triển hệ sinh thái số nội địa bao trùm.

Thông qua chính sách Vạn Lý Trường Thành trên không gian mạng, Trung Quốc kiểm soát nội dung và chặn hoàn toàn các nền tảng nước ngoài như Facebook, Google với lý do bảo vệ an ninh quốc gia.

Bên cạnh đó, Trung Quốc bảo hộ thị trường, tạo điều kiện thúc đẩy các tập đoàn công nghệ nội địa như Huawei, Baidu, Alibaba, TikTok phát triển.

Các tập đoàn này không chỉ hoạt động trong phạm vi lãnh thổ của Trung Quốc mà còn mở rộng hoạt động, gây ảnh hưởng ở Mỹ và các quốc gia châu Âu.

Trung Quốc cũng đưa ra sáng kiến Con đường tơ lụa số nhằm triển khai hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu, hệ thống cáp quang ở các quốc gia châu Phi nhằm tăng cường ảnh hưởng chính trị, kinh tế và công nghệ.

Chính phủ Trung Quốc cũng thực hiện triệt để chính sách bản địa hóa dữ liệu nhằm ngăn chặn các công ty công nghệ nước ngoài khai thác và tước đoạt dữ liệu.

Trung Quốc đã thông qua Luật An ninh mạng năm 2017, Luật An ninh dữ liệu năm 2021, buộc các nhà điều hành hạ tầng số phải lưu trữ dữ liệu tại Trung Quốc và phải trải qua đánh giá an ninh nếu muốn chuyển dữ liệu ra nước ngoài.

Ứng phó của Trung Quốc gắn liền với chiến lược quốc gia chủ quyền, chủ quyền số và công nghệ. Công nghệ được xác định như đòn bẩy cho sự phát triển trong xu thế chung của toàn thế giới, nhưng những mặt trái của công nghệ hoặc nguy cơ công nghệ bị thế lực bên ngoài lợi dụng phải được kiểm soát chặt chẽ.

Trong khi đó, các quốc gia nhỏ hơn với nguồn lực kinh tế và công nghệ khiêm tốn hơn phải tìm kiếm các cách tiếp cận khác. Một số quốc gia ở châu Phi một mặt xây dựng luật bảo vệ quyền riêng tư, luật dữ liệu cá nhân, đồng thời đa dạng hóa quan hệ hợp tác về công nghệ.

Ví dụ, Nam Phi ban hành Luật Bảo vệ thông tin cá nhân, theo đó các tổ chức phải có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu trước khi thu thập thông tin, các cá nhân có quyền biết ai đang nắm giữ dữ liệu của họ và yêu cầu sửa chữa hoặc xóa bỏ thông tin.

Mặc dù chưa thể đánh giá được hiệu quả thực tế của luật này trong thực tế, nhưng nó vẫn đặt ra những nền tảng và ranh giới pháp lý cần thiết, buộc các tập đoàn công nghệ phải cân nhắc tuân thủ. Nam Phi cũng đồng thời sử dụng các nền tảng và dịch vụ công nghệ của Mỹ, Trung Quốc.

Theo chuyên gia Marcus Vinícius De Freitas, các quốc gia ở Nam bán cầu nên thiết lập một liên minh Bandung kỹ thuật số với tinh thần giống như Hội nghị Bandung 1955 về không liên kết.

Liên minh này sẽ giúp các quốc gia đang phát triển trong khu vực khẳng định sự độc lập về công nghệ trước các đế chế công nghệ số, đồng thời xây dựng một trật tự công nghệ số công bằng, tôn trọng chủ quyền và vì lợi ích phát triển chung.

Theo đó, các quốc gia này được khuyến khích đầu tư, hợp tác nguồn lực để xây dựng các trung tâm dữ liệu, mạng lưới cáp quang biển và hạ tầng điện toán đám mây dùng chung.

Trong khi các chính sách, giải pháp ứng phó mang tầm vĩ mô của chính phủ mang tính thiết yếu, mỗi cá nhân người dân cần nâng cao năng lực số của mình.

Chủ quyền số được kiến tạo trên nền tảng và năng lực công nghệ quốc gia, nhưng cũng gắn liền với nhận thức và kỹ năng sử dụng công nghệ số một cách hiệu quả, có trách nhiệm của người dân./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        “Chủ nghĩa thực dân số” và ứng phó của các quốc gia đang phát triển
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO