Chính sách, cơ chế đột phá trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững

Phạm Thị Thùy Hương 18/12/2025 17:01

Bài tham luận phân tích vị trí, vai trò then chốt của nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển bền vững của tỉnh Quảng Ninh; làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân trong công tác thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân lực; đồng thời đề xuất các giải pháp mang tính đột phá về thể chế, chính sách, quy hoạch, đào tạo và hợp tác nhằm phát huy hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của địa phương trong giai đoạn mới.

Nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước ta càng đặc biệt coi trọng việc thu hút, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục xác định “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo” là một đột phá chiến lược". 

Đại hội cũng đặt ra yêu cầu phải “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”.

Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong việc thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh, thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh đã xác định rõ “phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với tăng nhanh quy mô và nâng cao chất lượng dân số”, là một trong ba khâu đột phá chiến lược, là yếu tố quan trọng, nền tảng vững chắc tạo đà cho sự phát triển bền vững. 

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh được triển khai đồng bộ, quyết liệt và linh hoạt. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành nhiều chỉ thị, kết luận định hướng đổi mới tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, trong đó nổi bật là Nghị quyết số 15-NQ/TU về đẩy mạnh cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Đề án phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Đề án “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tỉnh Quảng Ninh theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Hội đồng nhân dân tỉnh cụ thể hóa bằng các nghị quyết quan trọng, như: Nghị quyết số 35/2021/NQ-HĐND, ngày 27-8-2021 về thu hút, đào tạo nhân lực cho Đại học Hạ Long, Cao đẳng Việt - Hàn, Cao đẳng Y tế; Nghị quyết số 05/2022/NQ-HĐND, ngày 09-10-2022 về thu hút sinh viên xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ và hỗ trợ đào tạo sau đại học cho viên chức ngành y tế, giáo dục; Nghị quyết số 28/2023/NQ-HĐND, ngày 08-12-2023 của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định về chính sách thu hút bác sỹ về làm việc tại một số đơn vị thuộc tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025; các chính sách hỗ trợ nhà ở công nhân, đào tạo lại lao động phục vụ chuyển đổi công nghệ... 

Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành nhiều đề án trọng điểm, như: “Đề án phát triển nguồn nhân lực tỉnh đến năm 2025, tầm nhìn đến 2030”; “Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2024 - 2030”; “Đề án phát triển nhà ở cho người lao động ngành than, khu công nghiệp”; “Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo”... tỉnh Quảng Ninh đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó lao động cần có trình độ chuyên môn, kỹ năng mềm, khả năng thích ứng với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế với phương châm: “Phát triển con người Quảng Ninh có phẩm chất, trí tuệ, năng lực thích ứng với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế là nền tảng tinh thần vững chắc, là động lực nội sinh quan trọng cho phát triển nhanh, bền vững”.

Đặc biệt, trong điều kiện tỉnh Quảng Ninh đang đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực có năng lực về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số tại các cơ quan, đơn vị là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực thi chính sách, nhiệm vụ chuyên môn và phát triển bền vững của tỉnh trong giai đoạn mới. 

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 179/2025/NĐ-CP, ngày 01-7-2025 quy định về mức hỗ trợ đối với người làm công tác chuyên trách về chuyển đổi số, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng, ngày 17-7-2025, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Nghị quyết số 57/2025/NQ-HĐND quy định về chính sách thu hút, hỗ trợ nhân lực về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong các cơ quan của hệ thống chính trị thuộc tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025 - 2030 với sự mong chờ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác chuyển đổi số, kỳ vọng sẽ tạo động lực, khích lệ tinh thần làm việc nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nhiệm vụ được giao. 

Trong đó, chính sách có quy định nhiều mức hỗ trợ thiết thực với người có trình độ chuyên môn về lĩnh vực công nghệ thông tin, lĩnh vực khoa học công nghệ gồm: người có bằng tiến sĩ, tốt nghiệp đại học hệ chính quy, loại khá trở lên và có chuyên ngành đào tạo sau đại học cùng ngành đào tạo ở bậc đại học sẽ được hỗ trợ một lần tối đa với mức 1 tỷ đồng/người; người có bằng thạc sĩ, tốt nghiệp đại học hệ chính quy, loại khá trở lên và có chuyên ngành đào tạo sau đại học cùng ngành đào tạo ở bậc đại học sẽ được hỗ trợ 700 triệu đồng; sinh viên tốt nghiệp đại học xuất sắc hệ chính quy được hỗ trợ 500 triệu đồng, tốt nghiệp loại giỏi 400 triệu đồng, loại khá 300 triệu đồng... 

Bên cạnh đó, các đối tượng thu hút còn được hỗ trợ thêm tiền thuê nhà hằng tháng từ 4 đến 5 triệu đồng/người tùy theo địa bàn công tác và nhận phụ cấp tăng thêm từ 1 đến 5 triệu đồng/người/tháng trong thời gian tối đa 5 năm. 

Có thể thấy, đây là bước đi có ý nghĩa chiến lược của tỉnh Quảng Ninh nhằm tạo cơ chế khuyến khích, thu hút đội ngũ nhân lực chất lượng cao, chuyên sâu về công nghệ và chuyển đổi số vào làm việc trong khu vực công. Từ đó, tăng cường năng lực tham mưu, tổ chức triển khai thực hiện các chương trình đổi mới sáng tạo và số hóa trong toàn hệ thống chính trị của tỉnh. Chính sách này sẽ góp phần giải quyết bài toán về nguồn lực, thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Quảng Ninh trong thực hiện, triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Nhờ sự chỉ đạo sát sao và các chính sách cụ thể, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh đã từng bước được nâng lên rõ rệt. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cũng như lao động trong các ngành kinh tế trọng điểm đã được triển khai hiệu quả; giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã triển khai tổ chức 371 lớp đào tạo, bồi dưỡng trong nước cho hơn 28.644 lượt học viên với tổng kinh phí là 81,98 tỷ đồng. 

Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị, địa phương chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của cơ quan, đơn vị mình để triển khai thực hiện, khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tự đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; tỷ lệ lao động qua đào tạo đến cuối năm 2024 đạt trên 87%, trong đó hơn 50% có bằng cấp, chứng chỉ; năng suất lao động ước đạt 513,2 triệu đồng/lao động. Các chính sách phát triển nhân lực của tỉnh đã góp phần quan trọng vào quá trình cơ cấu lại kinh tế, phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch chất lượng cao.

Đặc biệt, các chính sách đãi ngộ trong ngành giáo dục và y tế ngày càng được cải thiện, góp phần thu hút và giữ chân nhân tài làm việc tại tỉnh. Việc áp dụng các chính sách thu hút đối với những người có trình độ cao, như bác sĩ, dược sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ đã nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực trong các lĩnh vực này, đáp ứng tốt hơn yêu cầu công việc và nhu cầu phát triển của tỉnh. 

Các chính sách đã giúp tỉnh Quảng Ninh phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực, như giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ và các ngành dịch vụ, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của tỉnh trong tương lai. 

Theo đó, chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về làm việc tại Trường Đại học Hạ Long giai đoạn 2015 - 2017, kéo dài đến 2020 đã thu hút được 21 trường hợp (14 tiến sĩ và 7 thạc sĩ); Nghị quyết số 05/2022/NQ-HĐND đã thu hút được 2 trường hợp công chức vào làm việc tại Sở Giáo dục và Đào tạo và Sở Tài chính; Nghị quyết số 28/2023/NQ-HĐND đã thu hút được 64 trường hợp vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Y tế. Các chính sách tạo việc làm và hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động địa phương đã góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng cường khả năng cạnh tranh của nguồn lao động. 

Tỷ lệ thất nghiệp trong tỉnh giữ ở mức thấp, việc làm được tạo ra hằng năm tăng, nhất là trong các ngành kinh tế trọng điểm, như công nghiệp chế biến, xây dựng, du lịch và công nghệ thông tin. Điều này chứng tỏ hiệu quả của các chính sách tạo việc làm và hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, duy trì sự phát triển bền vững của tỉnh. 

Các cơ sở giáo dục, đào tạo nghề cũng được nâng cấp. Tính đến hết năm 2024, tỉnh Quảng Ninh có 39 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, được đầu tư nâng cấp về cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo. Đáng chú ý, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2025, 80% giảng viên và cán bộ quản lý được đào tạo nâng cao năng lực số, kỹ năng sư phạm phù hợp với môi trường số, tiến tới 100% vào năm 2030, bảo đảm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho thị trường lao động. 

Quá trình triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho lao động đã mang lại kết quả rõ rệt, giúp giảm bớt tình trạng thiếu hụt nhân lực có tay nghề, đồng thời đáp ứng được nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là trong các ngành có yêu cầu kỹ thuật cao.

Những thành tựu này đã tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của tỉnh, không chỉ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn giúp tỉnh Quảng Ninh tạo việc làm ổn định cho người lao động, giữ được tỷ lệ thất nghiệp thấp, thúc đẩy nền kinh tế địa phương phát triển mạnh mẽ.

Các chính sách được ban hành bước đầu tạo cơ sở cho việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh, tuy nhiên vẫn còn một số nội dung cần tiếp tục hoàn thiện để nâng cao hiệu quả thực thi, như: Chính sách thu hút nhân lực chưa quy định cụ thể, rõ ràng về nhóm ngành, lĩnh vực trọng tâm cần ưu tiên thu hút theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh; mức hỗ trợ, thu hút tuy được quan tâm điều chỉnh ở mức cao so với các địa phương trong khu vực, song vẫn cần tiếp tục rà soát để bảo đảm tính cạnh tranh và hấp dẫn hơn nữa; việc phát triển và sử dụng nguồn nhân lực vẫn còn một số hạn chế, bất cập về chất lượng đào tạo, trình độ tay nghề của lao động; phân bổ nguồn lực chưa đồng đều, sự phối hợp chưa chặt chẽ, khoa học giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nhân lực; phương pháp đào tạo, quảng bá hình ảnh, dự báo nhân lực lao động hiệu quả chưa cao, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao,… đây là những rào cản trong việc phát triển và sử dụng nguồn nhân lực mà tỉnh Quảng Ninh cần tập trung giải quyết trong thời gian tới.

Với mục tiêu xây dựng tỉnh Quảng Ninh giàu mạnh, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030, trở thành vùng đô thị lớn mang tầm khu vực và quốc tế vào năm 2045, là một trong những đầu tàu kinh tế quan trọng của quốc gia, tự tin, vững vàng, tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới. Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2025 - 2030 tiếp tục xác định một trong ba đột phá chiến lược là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có tư duy đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xanh, kinh tế số gắn với tăng nhanh quy mô, nâng cao chất lượng dân số và chuyển dịch cơ cấu lao động. 

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ phẩm chất, năng lực, tư duy mới, uy tín ngang tầm nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

Trước nguy cơ thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành, “tổng công trình sư” trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, ngành kinh tế mới, nhân lực phục vụ công nghiệp quốc phòng, an ninh và các lĩnh vực quan trọng khác. 

Thực tiễn trên cho thấy, tạo đột phá về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao yêu cầu cấp thiết; cần phải đầu tư mạnh mẽ hơn với các cơ chế đặc thù, giải pháp cụ thể, kịp thời, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước, đòi hỏi tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới phải có sự đột phá hơn nữa trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Các giải pháp đưa ra phải được xây dựng kỹ lưỡng, khoa học, phù hợp với giai đoạn phát triển mới.

Một là, nhóm giải pháp về định hướng và thể chế chính sách:Tập trung thu hút, phát triển, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao và lao động có kỹ năng gắn với tăng quy mô và nâng cao chất lượng dân số. 

Đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị. Có giải pháp khuyến khích tăng dân số (nhà ở, y tế, giáo dục). 

Xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ về nhà ở, môi trường làm việc để thu hút lao động về làm việc tại tỉnh Quảng Ninh, bao gồm nhà ở cho công nhân, nhà ở xã hội, nhà ở cho người có thu nhập thấp và nhà ở cho nguồn nhân lực chất lượng cao, các chuyên gia, nhân tài, nhà khoa học gắn với các thiết chế văn hóa, giáo dục.

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các sở, ban, ngành trong phát triển và sử dụng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh đầu tư vào giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, nhất là giáo dục nghề nghiệp. 

Hoàn thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ thu hút nhân tài, đặc biệt đối với cán bộ khoa học, quản lý, thạc sĩ, tiến sĩ, bác sĩ, dược sĩ, cử nhân xuất sắc, nhằm thu hút nhân lực về địa phương làm việc và hạn chế tình trạng “chảy máu“ chất xám. 

Đồng thời, triển khai thực hiện có hiệu quả nghị quyết, quy định về chính sách thu hút hỗ trợ nhân lực về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong các cơ quan của hệ thống chính trị thuộc tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025 - 2030.

Hai là, nhóm giải pháp về hạ tầng giáo dục: Nghiên cứu sắp xếp lại hệ thống các trường đại học, cao đẳng, cơ sở dạy nghề trên toàn tỉnh Quảng Ninh phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội dài hạn. 

Nghiên cứu rà soát lại các chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên đạt chuẩn; chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành giáo dục để có chính sách tương xứng, đáp ứng yêu cầu. Nâng cao chất lượng kiểm định đào tạo, đồng thời tăng cường khảo sát, đánh giá chất lượng đầu ra của các cơ sở giáo dục.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục, từng bước hiện đại hóa các trang thiết bị phòng học, giảng đường để triển khai ứng dụng công nghệ dạy học mới, đặc biệt đối với trường đại học. 

Hiện đại hóa và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ sở đào tạo, hình thành hệ thống thư viện điện tử kết nối giữa các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp sử dụng lao động và giữa các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh, từng bước mở rộng phạm vi kết nối với các cơ sở đào tạo trên toàn quốc và trên thế giới.

Tiếp tục thu thập, lưu trữ, tổng hợp và số hóa dữ liệu về thị trường lao động, cập nhật thông tin người lao động, quản lý dữ liệu và kết nối chia sẻ với cơ sở dữ liệu dân cư, đăng ký doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội. 

Đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ việc thu thập, lưu trữ, phân tích và dự báo về cung, cầu lao động phục vụ công tác quản lý, phân tích và công bố thông tin về thị trường lao động của tỉnh. 

Cung cấp và quảng bá thông tin về nguồn lao động tỉnh Quảng Ninh cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp tiềm năng và doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh. 

Hỗ trợ các nhà đầu tư, người sử dụng lao động tuyển dụng lao động cho các văn phòng, nhà máy, công trường của các doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh.

Ba là, nhóm giải pháp trong công tác quy hoạch, đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên địa bàn tỉnh theo hướng gắn kết chặt chẽ với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược phát triển các ngành, các lĩnh vực quản lý, sản xuất, kinh doanh ứng dụng khoa học, công nghệ cao, công nghệ mới, ngành dịch vụ, du lịch chất lượng cao, nhằm giải quyết vấn đề mất cân đối cung và cầu trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay.

Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần dựa trên cơ sở quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và nhu cầu nhân lực trong thời gian tới, đặc biệt là các nền kinh tế mũi nhọn, như du lịch, dịch vụ, thương mại. 

Công tác dự báo số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cần phải được nâng cao, bảo đảm nhanh chóng, kịp thời đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Bốn là, nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực cho các ngành trọng điểm:Các ngành kinh tế trọng điểm có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của tỉnh, vì vậy cần sớm triển khai các đề án, chương trình nâng cao chất lượng nhân lực, gắn với công tác quy hoạch và cơ cấu từng ngành. Các chương trình này cần có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm tính kế thừa và phát triển. 

Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng lực lượng lao động cho các ngành kinh tế trọng điểm, bao gồm: nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến chế tạo, xây dựng, vận tải kho bãi (đặc biệt là nhân lực trong lĩnh vực kinh tế cảng biển), du lịch, công nghệ thông tin, truyền thông, khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo.

Để thực hiện có hiệu quả giải pháp nêu trên, Đề án đề xuất các chương trình nâng cao chất lượng nhân lực trong các ngành kinh tế và ngành kinh tế trọng điểm, bao gồm: Chương trình đào tạo, bồi dưỡng các lớp hằng năm cho cán bộ quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp; các chương trình phát triển nguồn nhân lực cho các ngành trọng điểm bao gồm: ngành nông nghiệp; công nghiệp; xây dựng; vận tải kho bãi (trong đó trọng tâm là ngành kinh tế cảng biển); du lịch; thông tin - truyền thông; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo; y tế.

Năm là, nhóm giải pháp về nguồn lực bên ngoài: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chính sách thu hút đầu tư để các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến Quảng Ninh đầu tư trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; thực hiện các dự án chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho lao động nữ, lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phát triển làng nghề, kinh tế trang trại, mô hình lập nghiệp, khởi nghiệp; chú trọng công tác đào tạo nghề hướng vào các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ để phục vụ tốt nhu cầu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh trong những năm tới.

Sáu là, nhóm giải pháp nâng cao năng lực cho các cơ sở đào tạo, đào tạo nghề nghiệp, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp: Công tác quy hoạch phải bảo đảm cả quy mô về số lượng và chất lượng. Về số lượng, phải căn cứ trên nhu cầu đào tạo nghề của các trường trong tỉnh Quảng Ninh, có tính đến thay thế lực lượng về hưu và luân chuyển công tác. Về chất lượng, phải bảo đảm trước hết là trình độ chuyên môn và cơ cấu đội ngũ giảng viên theo độ tuổi và giới tính.

Việc tuyển chọn giáo viên đào tạo nghề nghiệp cần phải được chú trọng từ khâu tạo nguồn đến xây dựng tiêu chí và quy trình tuyển chọn. Để làm tốt công tác này, ngoài công tác truyền thông rộng rãi nhằm tạo nguồn cung chất lượng và ổn định, quá trình tuyển dụng phải dựa trên các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệpvì quá trình tuyển dụng chính là quá trình thu hút nhân lực có chuyên môn tốt.

Phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; tập trung đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao theo chuẩn quốc tế, có kiến thức, kỹ năng, trách nhiệm nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và nhu cầu phát triển của tỉnh Quảng Ninh. 

Tiếp tục phát triển Trường Đại học Hạ Long trở thành một trong những trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao của khu vực. Nâng cao năng lực đào tạo của Trường Cao đẳng Việt - Hàn; phát huy hiệu quả các cơ sở đào tạo, dạy nghề trên địa bàn tỉnh.

Bảy là, nhóm giải pháp về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực:Nghiên cứu, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội về đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác đào tạo và dạy nghề cần được áp dụng như một mũi nhọn nhằm phát huy hiệu quả các định hướng mà tỉnh đề ra. 

Nghiên cứu, xây dựng kho cơ sở dữ liệu giữa các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và các cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh Quảng Ninh nhằm cung cấp thông tin minh bạch, kịp thời về nhu cầu và cơ hội việc làm giữa các đơn vị có nhu cầu tuyển dụng với học viên trong các cơ sở đào tạo./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Chính sách, cơ chế đột phá trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO