Chăn nuôi thủy sản ứng dụng công nghệ cao ở tỉnh Phú Thọ
Thực hiện chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng gia tăng giá trị, với chính sách hỗ trợ giống, kỹ thuật, thức ăn, những năm qua trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã xuất hiện và lan tỏa nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao mang lại giá trị kinh tế thiết thực, nâng cao thu nhập cho người dân.

Thu nhập cao từ ứng dụng khoa học công nghệ
Năm 2019, được Trung tâm Thủy sản tỉnh hỗ trợ hệ thống máy cảm biến, máy sục khí ô xy, ông Kim Đình Úp - thôn Yên Lạc 1, xã Tề Lỗ, tỉnh Phú Thọ - đã triển khai mô hình “Nuôi cá sông trong ao” với 2 bể quy mô hơn 200m2.
Việc theo dõi diễn biến trong bể nuôi về sự thay đổi của môi trường nước, lượng ô xy, độ pH, nhiệt độ nước, thậm chí dịch bệnh trên cá,... thông qua điện thoại thông minh.
Hệ thống cảm biến được kết nối với hệ thống quạt nước tạo ô xy trong ao nên người chăn nuôi vẫn có thể điều khiển bật tắt quạt dễ dàng. Việc sử dụng hệ thống cảm biến này đã giảm được rất nhiều chi phí mua thuốc và lượng hóa chất xử lý ao, do được hệ thống cảnh báo đúng bệnh, đúng chủng loại, liều lượng, thời điểm...
Nhờ đó, đàn cá sinh trưởng và phát triển khỏe mạnh, giảm lượng thức ăn hao hụt, chi phí nhân công theo dõi ao nuôi. Nhờ áp dụng tốt các biện pháp kỹ thuật và có hệ thống cảm biến trợ giúp nên dù thời tiết diễn biến phức tạp, nắng mưa thất thường nhưng đàn cá vẫn sinh trưởng ổn định.
Tỷ lệ nuôi sống đạt hơn 90%, tiêu tốn thức ăn dưới 2kg thức ăn/kg tăng trọng, trọng lượng bình quân đạt 8 - 20kg/con. Năm 2025, gia đình ông Úp thu hoạch đạt gần 80 tấn cá, thu lãi đạt gần 300 triệu đồng, lãi tăng gấp 3 lần so với nuôi truyền thống.
Năm 2024, được hỗ trợ hệ thống máy cảm biến, máy sục khí ô xy nuôi thủy sản, gia đình ông Phùng Văn Trọng, thôn Nhật Chiêu 2, xã Liên Châu đã triển khai nuôi cá áp dụng kỹ thuật trên quy mô 3ha.
Nhờ áp dụng tốt các biện pháp kỹ thuật và có hệ thống cảm biến trợ giúp nên dù thời tiết diễn biến phức tạp, nắng mưa thất thường nhưng đàn cá vẫn sinh trưởng ổn định.
Tỷ lệ nuôi sống sau 3 tháng đạt hơn 82,7%, tiêu tốn thức ăn dưới 2kg thức ăn/kg tăng trọng, trọng lượng bình quân đạt gần 2kg/con. Năm 2025, gia đình thu hoạch bán cá thu lãi hàng chục triệu đồng so với nuôi truyền thống.

Lan tỏa sản xuất thủy sản ứng dụng công nghệ cao
Phú Thọ là tỉnh có tiềm năng, lợi thế mặt nước sông, hồ, đầm rất lớn; trên địa bàn có các con sông lớn chảy qua, gồm: sông Thao, sông Đà, sông Lô, Sông Hồng và nhiều sông nhỏ, ngòi lớn như: sông Bứa, sông Chảy, sông Cà Lồ cụt; sông Phan, sông Đáy, ngòi Lao, ngòi Giành, ngòi Me,... với gần 5.000 hồ đập lớn, nhỏ.
Tổng diện tích nuôi thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 của tỉnh đạt 17.595ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ; tổng sản lượng thủy sản ước đạt 40.955 tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng nuôi đạt 37.676 tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ.
Số lượng lồng nuôi cá trên sông và hồ chứa đạt gần 6.700 lồng, tăng 4,29% so với cùng kỳ, sản lượng nuôi đạt gần 10,5 nghìn tấn. Sản lượng giống đạt 3.648,9 triệu con, tăng 1,5%; tỷ lệ cá giống đặc sản, giống có năng suất, chất lượng cao đưa vào nuôi chiếm 70% cơ cấu giống nuôi.
Diện tích nuôi tôm càng xanh đạt 127ha, với sản lượng gần 100 tấn/năm; đã xây dựng được thương hiệu “tôm càng xanh Cẩm Khê” cho sản phẩm tôm càng xanh Cẩm Khê...
Các hộ nuôi thủy sản ngày càng mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật, tập trung đầu tư chuyển sang hình thức nuôi thâm canh và bán thâm canh với nhiều loài cá giống mới, có giá trị kinh tế và cho năng suất cao.
Các hình thức nuôi và đối tượng nuôi ngày càng phong phú và đa dạng như nuôi ao, hồ, bể, nuôi lồng. Ngoài các đối tượng cá truyền thống còn mở rộng sang các loài có giá trị kinh tế như: cá rô phi, chép lai, lăng, cá tầm, ếch, ốc nhồi, ba ba, trai lấy ngọc, tôm càng xanh, lươn không bùn, chạch làn.
Nuôi cá nước lạnh (cá tầm) những năm gần đây đã đem lại thu nhập đáng kể cho người nuôi, tổng thể tích nuôi cá nước lạnh đạt trên 9.000m3 với 2 công ty, 1 hợp tác xã và 7 hộ nuôi, sản lượng ương nuôi cá giống đạt trên 1,2 triệu con/năm, sản lượng cá thương phẩm đạt trên 100 tấn/năm.
Hiện có 1.162 cơ sở nuôi thuỷ sản lồng bè gồm 12 tổ chức và 1.150 cá nhân với tổng số lồng nuôi là 6.667 lồng, sản lượng nuôi đạt 10,57 nghìn tấn. Trong đó, số lồng nuôi trên hồ chứa đạt 5.094 lồng chủ yếu tập trung trên hồ Hoà Bình, đối tượng nuôi chính trên lồng, bè là cá lăng, trắm đen, rô phi…
Trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số vùng sản xuất tập trung như: sản xuất giống thủy sản ở xã Vĩnh Hưng, Cẩm Khê; nuôi thủy sản thương phẩm tập trung ở Vĩnh Phú, Tam Hồng, Yên Lạc; hình thành các vùng nuôi thủy sản chất lượng cao tại xã Hùng Việt, Thanh Thủy; phát triển nuôi cá lồng trên hồ Hòa Bình và các hồ thủy lợi, trên các sông Đà, sông Lô…

Duy trì và phát triển ngành thủy sản theo hướng mới
Với mục tiêu duy trì ổn định diện tích mặt nước nuôi thủy sản khoảng 19.800ha với sản lượng đạt khoảng 87.000 tấn/năm; tốc độ tăng trưởng ổn định, từng bước chuyển từ hình thức nuôi truyền thống sang nuôi thâm canh và bán thâm canh, ứng dụng công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp và chi cục thủy sản tỉnh rà soát, bổ sung, xây dựng các chính sách, cơ chế ưu đãi, hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất thủy sản thân thiện với môi trường, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong chuỗi liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ thủy sản.
Tăng cường đầu tư cho xây dựng hậu cần nghề cá, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ. Hỗ trợ kinh phí để triển khai các chương trình, dự án, mô hình nuôi các đối tượng thủy sản giống mới, thủy sản mang lại giá trị kinh tế, nuôi lồng, bè áp dụng công nghệ cao.
Tăng cường phát triển các dịch vụ, công nghiệp phụ trợ phục vụ chăn nuôi, thủy sản; mở rộng thị trường tiêu thụ. Các hệ thống công nghiệp phụ trợ, dịch vụ phục vụ phát triển chăn nuôi, thủy sản đáp ứng yêu cầu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Trên địa bàn tỉnh có 6 cơ sở sản xuất và ương dưỡng giống thuỷ sản đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, trong đó 3 cơ sở sản xuất giống thuỷ sản. Đàn giống cá bố mẹ khoảng trên 20.000 con các loại, gồm cá trắm, trôi, mè, chép. Sản lượng hàng năm khoảng 1 - 1,5 tỷ cá bột các loại. Sản lượng cá bột chủ yếu được sản xuất tại trung tâm phát triển nông, lâm nghiệp và thuỷ sản của tỉnh. Ngoài ra, có 18 cơ sở kinh doanh giống thuỷ sản, hàng năm cung ứng hàng tỷ cá giống các loại cho nhu cầu trong và ngoài tỉnh…
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ hậu cần nghề cá ưu tiên hướng đến xây dựng các sản phẩm thủy sản bản địa, chủ lực của địa phương.
Khai thác tiềm năng cung cấp nước của các công trình thủy lợi lớn để mở rộng diện tích và xây dựng vùng nuôi tập trung; phát triển thương hiệu đặc trung vùng miền,... từng bước chuyển từ hình thức nuôi truyền thống sang nuôi thâm canh và bán thâm canh, ứng dụng công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; cơ cấu lại sản xuất theo hướng thâm canh tăng năng suất, chất lượng.
Mở rộng diện tích nuôi các đối tượng thủy đặc sản, loài bản địa có giá trị kinh tế cao như cá lăng, nheo, ngạnh, trắm cỏ, trắm đen, chép lai, rô phi, diêu hồng, cá quả, tôm càng xanh, lươn, ếch,... nâng tỷ lệ giống có giá trị kinh tế cao lên trên 70%; khuyến khích áp dụng quy trình nuôi tiên tiến, nuôi an toàn sinh học, VietGAP nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
Tăng cường công tác quan trắc, cảnh báo môi trường vùng nuôi; hướng dẫn người nuôi thực hiện các biện pháp phòng bệnh tổng hợp, quản lý tốt nguồn nước và thức ăn; phòng chống thiên tai, giảm thiểu thiệt hại do mưa bão, lũ lụt gây ra.
Hỗ trợ giống, kỹ thuật; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nuôi thủy sản theo hướng gia tăng giá trị, sản lượng và bền vững.
Phấn đấu tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh đạt 4.5%/năm; giá trị đạt trung bình từ 135 - 150 triệu đồng/ha, trở thành trung tâm sản xuất giống thủy sản của khu vực phía Bắc./.
