Cải cách thể chế gắn với mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng con người Quảng Ninh trong kỷ nguyên mới

TS. Phạm Văn Phong 18/12/2025 17:02

Trong kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên của tri thức và công nghệ, việc phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành yếu tố quyết định sự thịnh vượng của mỗi quốc gia. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để thúc đẩy các lĩnh vực này, coi đây là “đột phá quan trọng hàng đầu” và động lực chính cho phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị chỉ ra những hạn chế như thể chế, chính sách chưa đáp ứng yêu cầu, nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu và hạ tầng số chưa đồng bộ; khẳng định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là điều kiện tiên quyết để nước ta vươn lên hùng cường, thịnh vượng.

Trong bối cảnh chung đó, tỉnh Quảng Ninh, một cực tăng trưởng toàn diện của khu vực phía Bắc đã quán triệt sâu sắc các định hướng chiến lược của Trung ương và coi cải cách thể chế là chìa khóa để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng con người địa phương. Với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền tỉnh năng động, sáng tạo, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2020 - 2025 đã đạt nhiều thành tựu nổi bật, tiếp tục dẫn đầu cả nước về các chỉ số cải cách và tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cũng đặt ra không ít vấn đề, còn nhiều “điểm nghẽn” về thể chế và các công cụ thực thi cần giải quyết.

Thực tiễn cải cách thể chế tại Quảng Ninh giai đoạn 2020 - 2025

Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền tỉnh trong cải cách thể chế

Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã thể hiện vai trò tiên phong, quyết liệt trong cải cách thể chế, coi đây là nền tảng thúc đẩy mọi lĩnh vực phát triển. Quán triệt phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, tỉnh đã tập trung sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo hướng “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, đáp ứng mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành thông suốt, không chồng chéo chức năng. 

Tỉnh Quảng Ninh là một trong những địa phương đầu tiên trong cả nước thí điểm thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh trực thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, tạo bước đột phá trong đơn giản hóa thủ tục hành chính và phục vụ người dân, doanh nghiệp[1]. Nỗ lực cải cách hành chính gắn với chính quyền điện tử, tăng cường kỷ luật, kỷ cương đã giúp tỉnh Quảng Ninh nhiều năm liền duy trì vị trí dẫn đầu về các chỉ số đánh giá hiệu quả quản trị địa phương.

Tỉnh ủy Quảng Ninh thường xuyên ban hành các nghị quyết chuyên đề để định hướng đổi mới quản trị địa phương trên các lĩnh vực trọng yếu. Chẳng hạn, tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 5-2-2022, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Nghị quyết số 13-NQ/TU, ngày 28-4-2023, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. UBND tỉnh cũng tích cực triển khai cải cách hành chính trong khối đảng và chính quyền.

Thể chế thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Tỉnh Quảng Ninh xác định phát triển khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST) là một trong những trọng tâm chiến lược gắn liền với mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng của tỉnh. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, tỉnh đã chủ động cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về KHCN và ĐMST bằng các kế hoạch hành động cụ thể. Tỉnh Quảng Ninh sớm ban hành, triển khai Kế hoạch số 538-KH/TU, ngày 19-5-2025, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhằm thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. 

Tỉnh tập trung đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản trị công và sản xuất, kinh doanh; khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới quy trình, công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Đến năm 2025, kinh tế số ước chiếm khoảng 10% GRDP của tỉnh - một con số phản ánh sự đóng góp ngày càng tăng của KHCN và ĐMST vào nền kinh tế địa phương. 

Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trên địa bàn có nhiều chuyển biến tích cực, một số dự án công nghệ cao đã và đang được triển khai. Hạ tầng cho khoa học và công nghệ được quan tâm đầu tư, thể hiện qua việc củng cố mạng lưới các tổ chức KHCN, thành lập các trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ tại địa phương. Tỷ lệ các nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh có kết quả ứng dụng vào thực tiễn ngày càng cao cho thấy hiệu quả của thể chế quản lý khoa học địa phương đã được nâng lên.

Cùng với đó, thể chế thúc đẩy ĐMST và khởi nghiệp được tỉnh Quảng Ninh chú trọng hoàn thiện. Môi trường thể chế thông thoáng, minh bạch mà tỉnh dày công xây dựng (thể hiện qua các chỉ số PCI, PAR, SIPAS dẫn đầu nhiều năm) chính là “vườn ươm” cho các ý tưởng đổi mới sáng tạo nảy nở. 

Tỉnh đã phát động mạnh mẽ phong trào khởi nghiệp sáng tạo trong thanh niên, sinh viên và cộng đồng doanh nghiệp. Nhiều câu lạc bộ khởi nghiệp, không gian làm việc chung được hình thành để kết nối các doanh nghiệp khởi nghiệp với nhà đầu tư và chuyên gia. Tỉnh Quảng Ninh đã chủ động liên kết với Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) nhằm tranh thủ sự hỗ trợ về chuyên môn, nguồn lực cho hệ sinh thái khởi nghiệp địa phương.

Bên cạnh việc hỗ trợ doanh nghiệp ĐMST, tỉnh Quảng Ninh còn chú trọng đổi mới thể chế trong khu vực công để khuyến khích sự sáng tạo và cải tiến liên tục trong các cơ quan nhà nước. Tỉnh đã triển khai cơ chế khuyến khích sáng kiến, cải tiến trong đội ngũ cán bộ, công chức; nhiều sáng kiến cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin do cán bộ địa phương đề xuất đã được áp dụng hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công. Tỉnh cũng tích cực tổng kết thực tiễn, rút ra các bài học góp phần để Trung ương hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật.

Thể chế thúc đẩy chuyển đổi số

Cùng với khoa học, công nghệ, tỉnh Quảng Ninh coi chuyển đổi số là một trụ cột chiến lược và đã có những bước đi tiên phong trong xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Tỉnh đã đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông tin và triển khai chính quyền điện tử đồng bộ. Hệ thống Trung tâm điều hành và Cổng dịch vụ công trực tuyến của Quảng Ninh được kết nối thông suốt từ cấp tỉnh đến cấp xã, tạo điều kiện giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường mạng thuận tiện, nhanh chóng. 

Nhờ đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, người dân và doanh nghiệp Quảng Ninh có thể thực hiện hầu hết các thủ tục một cách trực tuyến, giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch. Tỉnh cũng là địa phương đi đầu trong việc ứng dụng các công nghệ mới, như dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành (Trung tâm Điều hành đô thị thông minh tại Hạ Long cho phép giám sát và quản lý nhiều dịch vụ công (giao thông, an ninh, môi trường…) theo thời gian thực, hỗ trợ lãnh đạo ra quyết định kịp thời, chính xác).

Kết quả chuyển đổi số tại Quảng Ninh giai đoạn 2020 - 2025 thể hiện rõ nét qua chỉ số kinh tế số của tỉnh (chiếm khoảng 10% GRDP năm 2025) và nhiều ngành, lĩnh vực. Nhiều doanh nghiệp trên địa bàn đã chuyển đổi mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng số, áp dụng thương mại điện tử, thanh toán số, góp phần hình thành hệ sinh thái kinh tế số năng động.

Thành tựu chuyển đổi số của tỉnh Quảng Ninh còn thể hiện qua những mô hình sáng tạo mang tính đột phá. Tỉnh đã xây dựng thành công mô hình “Chính quyền số thân thiện”, trong đó người dân có thể tương tác với chính quyền 24/7 qua các kênh số (cổng dịch vụ công, tổng đài, ứng dụng di động) để phản ánh kiến nghị và được phản hồi nhanh chóng. Tỉnh Quảng Ninh cũng tích hợp các cơ sở dữ liệu quan trọng (dân cư, đất đai, doanh nghiệp…) phục vụ công tác quản lý, tiến tới hình thành dữ liệu dùng chung toàn tỉnh, liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia. Nhiều thủ tục, như cấp phép đầu tư, đăng ký kinh doanh, quản lý đất đai,… được giải quyết theo hướng “một cửa điện tử” nhanh gọn. 

Việc liên kết, chia sẻ dữ liệu giữa các sở, ngành giúp loại bỏ các yêu cầu trùng lặp, giảm phiền hà cho doanh nghiệp. Không dừng ở đó, Quảng Ninh còn triển khai thí điểm các mô hình mới như “Xã thông minh” ở khu vực nông thôn nhằm thu hẹp khoảng cách số giữa đô thị và nông thôn; xây dựng “Cửa khẩu thông minh” tại Móng Cái để ứng dụng công nghệ trong quản lý hoạt động xuất, nhập khẩu, xuất, nhập cảnh hiệu quả.

Thể chế thúc đẩy xây dựng con người Quảng Ninh

Phát triển văn hóa, xã hội và con người luôn được tỉnh Quảng Ninh chú trọng hài hòa cùng với phát triển kinh tế. Quan điểm “phát triển văn hóa, con người là nền tảng tinh thần của xã hội” đã được thể chế hóa thành các chương trình, nghị quyết cụ thể ở tỉnh Quảng Ninh. Đặc biệt, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 17-NQ/TU, ngày 30-10-2023 “Về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Quảng Ninh gắn với truyền thống của giai cấp công nhân Vùng mỏ”. Nghị quyết này đặt ra mục tiêu xây dựng con người Quảng Ninh phát triển toàn diện, vừa có tri thức, kỹ năng, vừa giàu bản sắc văn hóa và lòng tự hào dân tộc. 

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai sâu rộng, 100% các khu dân cư trong tỉnh đã xây dựng hương ước, quy ước phù hợp với nếp sống văn minh. Tỉnh cũng tiên phong trong phát triển công nghiệp văn hóa, tạo ra một số sản phẩm du lịch, dịch vụ văn hóa độc đáo, góp phần bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa quý báu của tỉnh, của đất nước. Việc lồng ghép phát triển văn hóa với các ngành kinh tế (du lịch di sản, kinh tế đêm, kinh tế sáng tạo...) đang mở ra hướng đi bền vững, vừa tăng thu nhập, vừa nâng cao đời sống tinh thần cho người dân.

Thể chế phát triển nguồn nhân lực của Quảng Ninh có nhiều đổi mới đáng kể nhằm xây dựng con người Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu thời đại mới. Tỉnh đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục các cấp ở mức cao nhất và liên tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất giáo dục, đưa vào sử dụng nhiều trường học đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng giáo dục phổ thông của Quảng Ninh có bước tiến rõ rệt, thể hiện qua thành tích học sinh giỏi quốc gia, quốc tế tăng cao trong các năm, nhất là năm 2024 - 2025. 

Đặc biệt, giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã thực hiện chính sách miễn học phí cho học sinh từ bậc mầm non đến THPT, thể hiện cam kết mạnh mẽ việc đầu tư cho con người. Trong giáo dục đại học và dạy nghề, tỉnh Quảng Ninh tập trung nguồn lực xây dựng Trường Đại học Hạ Long trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của vùng. Các trường cao đẳng, trung cấp nghề trên địa bàn cũng được nâng cao năng lực đào tạo theo chuẩn quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực tỉnh có nhu cầu cao, như du lịch, công nghệ thông tin, công nghiệp chế biến chế tạo.

Về thể chế chính sách, Quảng Ninh đã và đang triển khai nhiều cơ chế đãi ngộ, thu hút nhân tài để giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Tỉnh chú trọng tạo môi trường làm việc thuận lợi và đời sống vật chất tốt hơn cho chuyên gia, lao động trình độ cao đến làm việc. Chẳng hạn, tỉnh đã ban hành chính sách hỗ trợ về nhà ở, bao gồm phát triển nhà ở công nhân, nhà ở xã hội và nhà ở dành riêng cho nguồn nhân lực chất lượng cao (chuyên gia, nhà khoa học) gắn với việc xây dựng các thiết chế văn hóa, giáo dục phục vụ họ[2]

Đồng thời, tỉnh Quảng Ninh tiên phong thực hiện xóa 100% nhà tạm, nhà dột nát; bảo đảm không còn hộ nghèo, cận nghèo theo chuẩn nghèo của tỉnh từ năm 2023, giúp ổn định đời sống nhân dân, góp phần xây dựng nguồn nhân lực của tỉnh chất lượng hơn. Các dịch vụ an sinh xã hội, như y tế, chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm,... được bảo đảm rộng khắp, giúp nâng cao tuổi thọ, thể lực của người dân tỉnh Quảng Ninh. Những nỗ lực này đã góp phần làm cho đời sống nhân dân không ngừng cải thiện, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo, góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của con người Quảng Ninh trong sự nghiệp phát triển đất nước, con người Việt Nam.

Những vấn đề đặt ra về thể chế và yêu cầu cải cách

Mặc dù tỉnh Quảng Ninh đã đạt nhiều thành tựu về cải cách thể chế, thực tiễn triển khai vẫn bộc lộ một số vấn đề, “điểm nghẽn” cần giải quyết nhằm đáp ứng tốt hơn các mục tiêu phát triển mới.

Một số quy định pháp luật ở tầm quốc gia còn chưa đồng bộ, thống nhất, gây khó khăn khi thực thi ở địa phương. Chẳng hạn, lĩnh vực đầu tư, đất đai, môi trường còn tồn tại tình trạng chồng chéo, chưa thống nhất giữa các văn bản pháp luật, khiến quá trình tổ chức thực hiện và huy động nguồn lực phát triển gặp vướng mắc. Đây là “điểm nghẽn” thể chế vượt quá thẩm quyền giải quyết của tỉnh, đòi hỏi sự hoàn thiện từ Trung ương.

Một số cơ chế, chính sách đặc thù khuyến khích khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa được luật hóa kịp thời, làm hạn chế dư địa địa phương khi chủ động thí điểm các mô hình mới. Việc thiếu vắng khung pháp lý về những lĩnh vực mới, như kinh tế số, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sandbox cho công nghệ mới,... cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới thể chế linh hoạt hơn để bắt kịp tốc độ phát triển công nghệ.

Đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh Quảng Ninh nhìn chung vững về nghiệp vụ chuyên môn nhưng vẫn còn một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Một số tổ chức đảng và chính quyền cơ sở có thời điểm chưa phát huy đầy đủ vai trò lãnh đạo, còn biểu hiện thiếu chủ động, sáng tạo, thậm chí có tâm lý e ngại, sợ trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ mới phát sinh. Điều này phần nào làm chậm tiến độ triển khai các chính sách đổi mới tại cơ sở.

Vai trò của KHCN và ĐMST trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh còn mờ nhạt, chưa tương xứng với tiềm năng. Đánh giá cuối nhiệm kỳ cho thấy KHCN, ĐMST ở tỉnh Quảng Ninh chưa thực sự trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng còn khiêm tốn. Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, hàm lượng đổi mới trong sản phẩm, dịch vụ địa phương còn thấp. Điều này một phần do thể chế, chính sách khuyến khích chưa đủ mạnh, nguồn đầu tư cho nghiên cứu khoa học từ ngân sách địa phương còn hạn chế; chưa có nhiều chính sách ưu đãi thuế, tín dụng để thu hút doanh nghiệp đầu tư cho R&D; liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp trên địa bàn chưa chặt chẽ.

Cơ sở hạ tầng số ở một số nơi, nhất là vùng sâu, vùng xa còn chưa đồng bộ, nguy cơ tạo khoảng cách số giữa các khu vực. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin đôi lúc còn vướng do thiếu quy định thống nhất về quản lý dữ liệu và bảo mật. Bài toán an ninh mạng, an toàn thông tin cũng là thách thức khi tỉnh ứng dụng ngày càng nhiều công nghệ số, đòi hỏi năng lực ứng phó sự cố và bảo vệ dữ liệu tốt hơn. Hơn nữa, thể chế quản lý đối với các mô hình kinh doanh mới trên nền tảng số, như thương mại điện tử, kinh tế chia sẻ còn đang trong quá trình hoàn thiện, có thể dẫn đến lúng túng trong quản lý nếu không sớm ban hành khung pháp lý phù hợp.

Tỉnh Quảng Ninh dù rất chú trọng phát triển nguồn nhân lực nhưng thực tế vẫn thiếu hụt cả về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao. Quy mô dân số của tỉnh còn thấp so với yêu cầu phát triển (dân số khoảng 1,39 triệu người năm 2024)[3], gây hạn chế về thị trường lao động. Việc thu hút nhân tài từ ngoài tỉnh vào làm việc còn gặp khó khăn do chế độ, chính sách đãi ngộ chưa đủ mạnh, chi phí sinh hoạt tại tỉnh Quảng Ninh khá cao (xếp thứ hai cả nước). 

Nếu không có giải pháp đột phá, tỉnh Quảng Ninh sẽ đối mặt với nguy cơ thiếu nhân lực cho các ngành mũi nhọn, như công nghệ thông tin, du lịch chất lượng cao, tài chính,... tương lai. Bên cạnh đó, trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, chất lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất ở một số khu vực, đặc biệt miền núi, hải đảo còn bất cập, cần cải thiện để đảm bảo công bằng giáo dục trong xã hội.

Giải pháp cải cách thể chế đột phá cho tỉnh Quảng Ninh

Hoàn thiện thể chế quản trị số, xây dựng chính quyền số

Thể chế quản trị số cần được xem là mũi nhọn cải cách để tỉnh Quảng Ninh tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu trong chuyển đổi số. Trước hết, tỉnh cần đẩy mạnh cải cách nền hành chính công trên nền tảng số ở mọi cấp, mọi ngành. Cụ thể, tiếp tục đơn giản hóa và số hóa triệt để các quy trình giải quyết công việc nội bộ và liên thông giữa các cơ quan. Mục tiêu tiến tới “phi giấy tờ” trong hoạt động hành chính, mọi văn bản, hồ sơ xử lý đều thực hiện trên môi trường mạng (trừ những nội dung mật theo quy định).

Rà soát cắt giảm mạnh các giấy tờ, điều kiện không cần thiết trong thủ tục đầu tư, kinh doanh, nhất là những thủ tục liên quan đến tiếp cận nguồn lực (đất đai, vốn) và cơ hội kinh doanh. Thay vào đó, tăng cường ứng dụng cơ sở dữ liệu dùng chung và chia sẻ dữ liệu giữa các sở, ngành để tự động kiểm tra, đối chiếu thông tin khi giải quyết thủ tục, giảm gánh nặng xuất trình giấy tờ cho người dân, doanh nghiệp; hoàn thiện quy chế phối hợp liên thông dữ liệu giữa các cơ quan, thiết lập cơ sở pháp lý cho việc sử dụng dữ liệu số (chữ ký số, hồ sơ số) có giá trị tương đương bản giấy, qua đó tháo gỡ những rào cản pháp lý cuối cùng cho giao dịch điện tử.

Một giải pháp đột phá về thể chế quản trị số là xây dựng mô hình quản lý “phi địa giới hành chính” trên môi trường số. Theo đó, tỉnh có thể thí điểm tổ chức lại quy trình cung cấp dịch vụ công theo hướng tập trung thay vì theo địa giới xã. Người dân ở bất cứ đâu trong tỉnh có thể nộp hồ sơ trực tuyến và được phân luồng giải quyết bởi bất kỳ cán bộ nào trong hệ thống có năng lực, không nhất thiết thuộc địa phương nơi người dân cư trú. 

Điều này tận dụng tối đa nguồn lực cán bộ, tránh tình trạng nơi thừa, nơi thiếu, đồng thời tăng tính cạnh tranh, minh bạch giữa các đơn vị cung cấp dịch vụ công. Để triển khai, tỉnh Quảng Ninh cần sớm phát triển các nền tảng số dùng chung cấp tỉnh (về định danh điện tử, thanh toán số, cổng dịch vụ công hợp nhất, hệ thống đánh giá hài lòng trực tuyến) nhằm thống nhất một “trải nghiệm số” cho người dân toàn tỉnh.

Cùng với đó, tỉnh phải đặc biệt chú trọng bảo đảm an ninh mạng và an toàn thông tin trong chính quyền số. Thể chế quản trị số cần đi kèm với các quy định nghiêm ngặt về bảo vệ dữ liệu cá nhân của người dân, cơ chế phân quyền truy cập dữ liệu công vụ rõ ràng và kế hoạch thường xuyên diễn tập an ninh mạng. Tỉnh Quảng Ninh có thể chủ động ban hành Quy chế bảo vệ dữ liệu ở cấp tỉnh, phù hợp với Luật An ninh mạng và thông lệ quốc tế, để các cơ quan, doanh nghiệp, người dân trên địa bàn tuân thủ. Song song, đầu tư nâng cao năng lực cho Đội ứng cứu sự cố an ninh mạng của tỉnh, bảo đảm sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công mạng ngày càng tinh vi.

Để thể chế quản trị số vận hành hiệu quả, yếu tố con người là then chốt. Quảng Ninh cần tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ, công chức các cấp. Cán bộ phải thành thạo sử dụng các hệ thống chính quyền điện tử, có tư duy dữ liệu và sẵn sàng thay đổi thói quen làm việc. Tỉnh có thể đưa các tiêu chí về kỹ năng số vào đánh giá cán bộ hằng năm, khuyến khích các sáng kiến số trong giải quyết công việc.

Đổi mới thể chế thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo

Trước hết, tỉnh nên chủ động vận dụng các cơ chế, chính sách đặc thù mà Trung ương cho phép thí điểm để tạo đột phá trong phát triển KHCN và ĐMST. Việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 193/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt cho phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số quốc gia là cơ hội để tỉnh Quảng Ninh đề xuất các sáng kiến thí điểm tại địa phương. Tỉnh có thể xin thực hiện cơ chế “sandbox” - không gian thử nghiệm có kiểm soát cho những công nghệ mới hoặc mô hình kinh doanh mới trong phạm vi tỉnh. Chẳng hạn, thí điểm triển khai xe tự lái, dịch vụ chia sẻ dữ liệu, fintech… dưới sự giám sát của cơ quan chức năng, để vừa thúc đẩy cái mới vừa thu thập cứ liệu chính sách.

Thứ hai, Quảng Ninh cần tăng cường đầu tư và hoàn thiện cơ chế tài chính cho khoa học, công nghệ. Ngân sách địa phương nên ưu tiên dành tối thiểu 2% chi cho hoạt động KHCN, ĐMST phù hợp với mục tiêu quốc gia. Đồng thời, tỉnh có thể thành lập Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp tỉnh, hoạt động theo mô hình quỹ quay vòng, để tài trợ một phần cho các dự án nghiên cứu, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp và tổ chức trên địa bàn. 

Cơ chế quản lý quỹ cần linh hoạt, giảm tối đa thủ tục hành chính để doanh nghiệp dễ tiếp cận. Song song, đẩy mạnh xã hội hóa nguồn vốn cho ĐMST, khuyến khích thành lập các quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo tư nhân, thu hút vốn từ các tập đoàn, các quỹ đầu tư mạo hiểm trong và ngoài nước đến với tỉnh Quảng Ninh. Tỉnh có thể hỗ trợ nhà đầu tư khởi nghiệp bằng chính sách ưu đãi thuế hoặc đồng đầu tư cùng quỹ tư nhân vào các startup tiềm năng.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế thu hút và trọng dụng nhân tài khoa học, công nghệ. Bài toán nhân lực chất lượng cao chính là yếu tố then chốt để thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Quảng Ninh cần ban hành cơ chế đãi ngộ đặc biệt cho các chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học giỏi về làm việc tại tỉnh (theo dự án hoặc dài hạn). Có thể nghiên cứu áp dụng trả lương đặc thù cao hơn quy định chung, hoặc hợp đồng thuê chuyên gia quốc tế trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn phục vụ các dự án trọng điểm của tỉnh. 

Bên cạnh đó, xây dựng môi trường làm việc “đáng đến, đáng ở” cho nhân tài, như hỗ trợ tối đa về thủ tục hành chính, cấp visa (cho chuyên gia nước ngoài), bố trí nhà ở, trường học cho con em chuyên gia... Tỉnh Quảng Ninh cũng cần tạo điều kiện để các chuyên gia, trí thức tham gia tư vấn chính sách cho tỉnh thông qua các hội đồng, ủy ban tư vấn KHCN và ĐMST.

Thứ tư, thúc đẩy mạnh mẽ liên kết “ba nhà”: nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Về phía nhà nước, các sở, ngành cần đóng vai trò cầu nối, định hướng nhu cầu để nhà khoa học và doanh nghiệp gặp nhau. Tỉnh có thể tổ chức định kỳ các diễn đàn đổi mới sáng tạo để doanh nghiệp nêu nhu cầu công nghệ, viện, trường giới thiệu sản phẩm nghiên cứu, qua đó hình thành các cặp hợp tác cung - cầu công nghệ. Thể chế về chuyển giao công nghệ cần thông thoáng, đơn giản hóa thủ tục xác lập quyền sở hữu trí tuệ, đăng ký kết quả nghiên cứu, giúp kết quả nghiên cứu được thương mại hóa nhanh hơn. 

Tỉnh Quảng Ninh cũng nên xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm khởi nghiệp tại những địa bàn trọng điểm (Hạ Long, Uông Bí…) với cơ chế một cửa hỗ trợ startup về không gian làm việc, dịch vụ pháp lý, tư vấn gọi vốn. Những trung tâm này có thể liên kết với Trung tâm ĐMST quốc gia (NIC) để học hỏi mô hình và nhận sự hỗ trợ chuyên môn.

Thứ năm, gắn kết chặt chẽ ĐMST với phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Thể chế tỉnh nên tiếp tục hướng đến giữ vững vị trí nhóm đầu cả nước về môi trường đầu tư kinh doanh, vì đây là yếu tố quan trọng nhất tạo niềm tin cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới. Cải cách hành chính không được phép chững lại, ngược lại, cần tạo đột phá mới trong cải thiện môi trường kinh doanh để thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn công nghệ lớn đến với tỉnh Quảng Ninh. 

Tỉnh có thể tập trung xúc tiến đầu tư vào Khu kinh tế Vân Đồn - nơi định hướng trở thành đặc khu kinh tế thế hệ mới với các ngành công nghiệp giải trí, công nghệ cao và Khu kinh tế Quảng Yên - trung tâm công nghiệp chế biến chế tạo và công nghiệp phụ trợ. Tại các khu vực này, cơ chế một cửa liên thông trong cấp phép đầu tư phải thực hiện triệt để, thời gian giải quyết hồ sơ đầu tư cần rút ngắn ngang tầm các nền kinh tế cạnh tranh trong khu vực. Ngoài ra, thể chế cũng cần bảo đảm thực thi nghiêm minh quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và minh bạch. Khi khu vực tư nhân thực sự yên tâm và hứng khởi đầu tư, đổi mới sáng tạo sẽ tự nhiên bùng nổ và lan tỏa.

Đổi mới thể chế nguồn nhân lực văn hóa và xây dựng con người Quảng Ninh

Trước hết, tỉnh Quảng Ninh cần tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW năm 2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Thể chế quản lý giáo dục địa phương cần trao quyền chủ động nhiều hơn cho các cơ sở giáo dục trong việc thiết kế chương trình phù hợp với nhu cầu tỉnh. Tỉnh nên thúc đẩy mô hình giáo dục mở, học tập suốt đời, hỗ trợ phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, hệ thống giáo dục thường xuyên để mọi người dân đều có cơ hội nâng cao tri thức, kỹ năng. 

Mục tiêu đến 2030, tỉnh Quảng Ninh nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về chất lượng giáo dục ở các cấp học, do vậy cần có lộ trình cụ thể nâng cao chuẩn đội ngũ giáo viên, đầu tư cơ sở vật chất trường, lớp, đặc biệt quan tâm giáo dục vùng khó khăn. Áp dụng cơ chế tuyển dụng đặc cách hoặc hợp đồng để thu hút giáo viên giỏi về dạy ở miền núi, hải đảo với chế độ đãi ngộ cao hơn, nhằm giải quyết tình trạng thiếu giáo viên chất lượng ở những nơi này.

Chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần được đẩy mạnh hơn nữa. Quảng Ninh đã đề cập các giải pháp khuyến khích tăng dân số, thu hút nhân lực (về nhà ở, y tế, giáo dục) trong dự thảo phương hướng nhưng cần cụ thể hóa thành chương trình hành động. Tỉnh nên xem xét ban hành một nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó xác định rõ chỉ tiêu và giải pháp cho từng ngành, lĩnh vực. 

Đặt mục tiêu mỗi năm thu hút được bao nhiêu chuyên gia trình độ cao trong các ngành ưu tiên (công nghệ thông tin, du lịch, y tế chất lượng cao…), số lượng lao động qua đào tạo tăng thêm, tỷ lệ lao động kỹ năng cao... Từ đó, tỉnh xây dựng cơ chế phối hợp “đặt hàng” nhân lực giữa tỉnh với các trường đại học lớn trong nước. Tỉnh Quảng Ninh có thể ký thỏa thuận với những đại học hàng đầu (Đại học Quốc gia, Bách Khoa, Đại học Kinh tế Quốc dân…) để tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi về làm việc tại tỉnh, đổi lại tỉnh có chính sách hỗ trợ tài chính cho các sinh viên trong quá trình học. Đây là cách tạo nguồn nhân lực có định hướng trước, giảm rủi ro, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao.

Về phát triển văn hóa và con người, thể chế cần hướng tới việc biến các giá trị văn hóa thành “sức mạnh mềm”, nguồn lực cho phát triển bền vững. Trước hết, tỉnh Quảng Ninh cần kiên trì thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TU, ngày 30-10-2023, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh “Về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Quảng Ninh trở thành nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh, bền vững”. Có thể cân nhắc xây dựng Bộ chỉ số đánh giá phát triển văn hóa và con người Quảng Ninh dựa trên hướng dẫn của UNESCO về Chỉ số Văn hóa, làm thước đo để định kỳ xem xét hiệu quả chính sách văn hóa. 

Tỉnh cũng nên tăng cường đầu tư cho các thiết chế văn hóa cơ sở, như nhà văn hóa thôn, thư viện, bảo tàng, trung tâm văn hóa, thể thao ở các địa phương,... theo hướng xã hội hóa, thu hút doanh nghiệp và cộng đồng tham gia. Thể chế khuyến khích phát triển công nghiệp văn hóa cần rõ ràng, từ cơ chế ưu đãi đất, cho đến các dự án công viên văn hóa, phim trường, hỗ trợ quảng bá sản phẩm văn hóa đặc sắc của tỉnh Quảng Ninh ra quốc tế. Một môi trường văn hóa phong phú sẽ nuôi dưỡng sự sáng tạo của con người, tạo ra thế hệ công dân Quảng Ninh năng động, có bản sắc và có khả năng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa.


[1] Song Hà: 10 năm thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh (2014 - 2024): Bước đột phá trong cải cách hành chính của Quảng Ninh, Trang Thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, https://www.quangninh.gov.vn/chuyen-de/chuyendoiso/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=135007

[2] Tiến Dũng: Quảng Ninh nỗ lực giải quyết nhu cầu nhà ở cho người lao động, Thời báo Tài chính Việt Nam điện tử, https://thoibaotaichinhvietnam.vn/quang-ninh-no-luc-giai-quyet-nhu-cau-nha-o-cho-nguoi-lao-dong-1827...

[3] Dân số Quảng Ninh, https://danso.info/dan-so-quang-ninh/?utm_source=chatgpt.com

    Nổi bật
        Mới nhất
        Cải cách thể chế gắn với mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng con người Quảng Ninh trong kỷ nguyên mới
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO