Cải cách hành chính trong các dịch vụ công nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp địa phương trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế: Từ lý thuyết đến bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Ninh

TS. Hồ Kim Hương* - Trần Đình Tuấn** 18/12/2025 17:04

Ngày nay, các nền kinh tế ở địa phương đang phát triển ứng phó với khủng hoảng và nỗ lực chống chịu theo những cách bền vững, toàn diện hơn và linh hoạt hơn trước những cú sốc trong tương lai để tránh tổn thất dài hạn cho lợi ích ngắn hạn. Các địa phương phát triển hướng tới sự phát triển xanh, linh hoạt và toàn diện. Đây không phải là một quá trình hoặc chuyển đổi đơn giản đối với các địa phương - đặc biệt là các địa phương ở các nước đang phát triển. Bài viết tập trung làm rõ bối cảnh các cú sốc kinh tế, đặc biệt là đại dịch COVID-19 ở Việt Nam và những ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển của các doanh nghiệp, từ đó làm rõ vai trò hỗ trợ của các địa phương trong cải cách hành chính trong các dịch vụ công, nhất là nội dung quá trình chuyển đổi số ở các địa phương. Trên cơ sở đó, tham luận đưa ra một số khuyến nghị đối với tỉnh Quảng Ninh trong vấn đề cải cách hành chính nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp địa phương khi có các cú sốc kinh tế xảy ra.

Bối cảnh khủng hoảng kinh tế và ảnh hưởng đến các doanh nghiệp

Các cú sốc kinh tế

Các cú sốc ảnh hưởng đến các nền kinh tế như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh hoặc các khuyết tật của thị trường... Đồng thời, trong bối cảnh hội nhập kinh tế trên phạm vi toàn cầu, mỗi chủ thể, mỗi nền kinh tế luôn phải đối diện với rất nhiều những vấn đề từ bên ngoài, trong đó có những vấn đề mang tính bất định, nhưng lại có tác động nhanh, mạnh, sâu rộng và có thể đưa đến nhiều hệ lụy khó đoán định, các cú sốc như vậy có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nhìn chung, các cú sốc đến từ bên ngoài (cú sốc ngoại sinh) và các cú sốc đến từ bên trong (cú sốc nội sinh) đều gây ra những tác động lớn đến nền kinh tế của các quốc gia. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư nói riêng và hoạt động kinh tế nói chung được thúc đẩy mạnh mẽ trên phạm vi khu vực, toàn cầu, kèm theo đó, các cú sốc cũng gia tăng và biên độ ngày càng ngắn hơn.

Các cú sốc ngoại sinh có thể đến từ vấn đề của một sản phẩm (khủng hoảng hoa Tulip); một chủ thể kinh tế (bong bóng từ Công ty Hải Nam, các công ty dotcom), hay vấn đề cấu trúc vận hành nền kinh tế - liều lượng giữa thị trường và nhà nước (khủng hoảng 1929 - 1933), có thể đến từ rủi ro chính sách (khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á năm 2008, khủng hoảng nợ Hy Lạp), rủi ro giao thương (tác động từ đại dịch COVID-19)... Dù đến từ hình thức nào, không thể phủ nhận rằng, cùng với mức độ sâu rộng của hội nhập, các nền kinh tế luôn phải thường trực với các cú sốc ngoại sinh. Tác động từ các cú sốc này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể tác động đơn chiều hoặc đa chiều, có thể ảnh hưởng đến thương mại, đầu tư hay tổ hợp các khía cạnh, lĩnh vực kinh tế, xã hội,... với mức độ tác động khác nhau đối với mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế, mỗi chủ thể và thường để lại những hệ lụy khó đoán định mà các quốc gia, các nền kinh tế, các chủ thể đều bị động trong ứng phó.

Đại dịch COVID-19 và ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế

Các cú sốc tác động đến các nền kinh tế cả ở tầm vĩ mô lẫn vi mô, cả cấu trúc lẫn hành vi và cao hơn nữa đang làm thay đổi/bắt buộc thay đổi nhận thức về vận hành, phát triển nền kinh tế điển hình như cú sốc liên quan đến COVID-19. Từ việc thực hiện với các biện pháp phong tỏa, giãn cách xã hội được áp dụng theo những hình thức khác nhau, khủng hoảng y tế toàn cầu đã nhanh chóng trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trên toàn thế giới.

Trong hơn 3 thập niên đổi mới, nền kinh tế Việt Nam nhiều lần chịu tác động bởi các cú sốc bên ngoài như cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 và cú sốc dịch tễ vào năm 2020. Khác với 2 cú sốc trước là về tài chính - tiền tệ, cú sốc COVID-19 lần này chưa từng có tiền lệ, tác động mạnh mẽ lên nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.

Sự ảnh hưởng của nền kinh tế do COVID-19 gây ra được lý giải bới 4 yếu tố: một cú sốc COVID-19; các biện pháp kiềm chế bệnh dịch; khả năng tận dụng điều kiện phát triển bên ngoài; năng lực hỗ trợ của Nhà nước. Việt Nam là một trong số ít quốc gia có tốc độ tăng trưởng dương trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, COVID-19 đã có những tác động mạnh mẽ đến kinh tế xã hội Việt Nam thời gian qua.

Doanh nghiệp địa phương và vai trò hỗ trợ của nhà nước trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Trong bối cảnh cú sốc kinh tế lớn như COVID-19,nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có chuyên gia người nước ngoài và người lao động nước ngoài chịu tác động nặng nề từ COVID-19 khi nguồn cung lao động bị thiếu. Chi phí sử dụng lao động trong thời kỳ này cũng cao hơn khi các doanh nghiệp phải đầu tư thêm khẩu trang, nước sát khuẩn, thực hiện các biện pháp an toàn trong lao động để tránh lây nhiễm vi-rút. Doanh nghiệp bị sụt giảm doanh thu do dịch COVID-19 dẫn đến phải giảm quy mô hoạt động kinh doanh. Sự sụt giảm doanh thu là không đồng đều giữa các loại hình doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đó, nhiều địa phương đã tiến hành các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp như rà soát, cắt bỏ những thủ tục hành chính không cần thiết nhằm giảm chi phí, thủ tục cho doanh nghiệp; khơi thông mọi nguồn lực cho đầu tư, kinh doanh; thực hiện tốt công tác phòng chống dịch COVID-19 đi cùng với thúc đẩy sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với công tác kiểm tra, giám sát và quản lý của Nhà nước chặt chẽ, hiệu quả. Đặc biệt, việc hỗ trợ doanh nghiệp được tập trung vào các hoạt động chính như: Hỗ trợ về đăng ký kinh doanh (Cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Cấp thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp; Các thủ tục đăng ký doanh nghiệp); Hỗ trợ trong hướng dẫn, tư vấn cho doanh nghiệp đầy đủ, nhanh chóng nhằm thúc đẩy, hỗ các doanh nghiệp gia nhập thị trường, thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh; Hỗ trợ về thủ tục liên quan đến đất đai, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Hộ trợ trong công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng công trình xây dựng, kiểm tra trong quá trình thi công, kiểm tra nghiệm thu hoàn thành công trình; Hỗ trợ liên qua đến công tác cải cách hành chính thuế; Hỗ trợ thu thút nguồn vốn (Ngân hàng cải cách hành chính gắn với mở rộng, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, phát hành thẻ, nâng cao chất lượng giao dịch, đẩy mạnh huy động vốn, đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế xã hội); Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (chuyên mục hỏi đáp pháp luật, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phản ánh kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật kinh doanh)... Nhìn chung, chính quyền các địa phương cần tiến hành việc chuyển đổi số trong các hoạt động để thúc đẩy hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh diễn ra các cú sốc như hiện nay.

Nội dung cải cách hành chính trong các dịch vụ công hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh ứng phó với các cú sốc kinh tế

Xây dựng hệ thống dữ liệu mở

Xây dựng hệ thống dữ liệu mở dành cho các hoạt động của doanh nghiệp địa phương liên quan đến việc hỗ trợ đăng ký kinh doanh, hướng dẫn các thủ tục kinh doanh, quyền sử dụng đất, thu hút vốn đầu tư, các khoản nộp thuế, hỗ trợ pháp lý... Hệ thống dữ liệu mở này cho phép các tỉnh cải thiện tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, chống tham nhũng và cuối cùng là nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực công, cũng như trao quyền cho người dân và doanh nghiệp thực hiện các sáng kiến dựa trên dữ liệu (OECD, 2015).

Dữ liệu mở được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau như dữ liệu mở là dữ liệu được cấp phép theo giấy phép mở, cho phép chúng ta tự do 3 việc sau đây: sử dụng và sử dụng lại, phân phối và phân phối lại (có thể tùy biến và pha trộn). Còn theo Nghị định số 47/2020/NĐ-CP, ngày 09-4-2020, đã đưa ra định nghĩa “Dữ liệu mở của cơ quan nhà nước: là dữ liệu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố rộng rãi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tự do sử dụng, tái sử dụng, chia sẻ”. Dù định nghĩa theo cách nào, dữ liệu mở luôn bảo đảm được 2 đặc trưng: khả năng sẵn sàng và khả năng tiếp cận dễ dàng. Hoạt động cung cấp dữ liệu mở tuân thủ theo các nguyên tắc được quy định tại Điều 17 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP:

- Dữ liệu mở phải toàn vẹn và phản ánh đầy đủ nội dung thông tin cơ quan nhà nước cung cấp liên quan đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp địa phương.

- Là dữ liệu được cập nhật mới nhất;

- Phải có khả năng truy cập sử dụng được trên môi trường mạng;

- Bảo đảm khả năng thiết bị số có thể gửi, nhận, lưu trữ và xử lý được;

- Tổ chức, cá nhân được tự do truy cập sử dụng dữ liệu mở, không yêu cầu khai báo định danh khi khai thác, sử dụng dữ liệu mở;

- Dữ liệu mở ở định dạng mở;

- Sử dụng dữ liệu mở là miễn phí;

- Ưu tiên cung cấp dữ liệu mở đối với dữ liệu mà người dân, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng cao.

Tuy nhiên, không phải dữ liệu công nào cũng có thể trở thành dữ liệu mở. Chẳng hạn, nội dung Điều 6 và Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin 2016 của Việt Nam quy định về các loại thông tin công dân không được tiếp cận hoặc tiếp cận có điều kiện đã cho thấy dữ liệu mở của cơ quan nhà nước thông thường sẽ không bao gồm các dữ liệu của cá nhân (mở đối với các cơ quan hay cá nhân được trao quyền tiếp cận), dữ liệu bí mật hoặc dữ liệu quan trọng chỉ số ít người biết của đơn vị tổ chức, dữ liệu bí mật quốc gia.

Nhìn chung, bằng việc xây dựng bộ dữ liệu thông qua cổng Dữ liệu Mở liên quan đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp địa phương sẽ góp phần thúc đẩy các hoạt động của doanh nghiệp cụ thể như:

• Minh bạch - các doanh nghiệp địa phương có thể tự do tiếp cận thông tin về những gì tỉnh của họ đang làm.

• Cải thiện Dịch vụ công - cung cấp cho doanh nghiệp địa phương nguồn nguyên liệu thô để tham gia và đóng góp vào việc cải thiện các dịch vụ công, cũng như nâng cao chất lượng của quá trình ra quyết định.

• Đổi mới - trao quyền cho doanh nghiệp để thực hiện các sáng kiến dựa trên dữ liệu như phát triển ứng dụng di động, phân tích dữ liệu, tạo ra các sản phẩm và nghiên cứu sáng tạo cùng nhiều hoạt động khác.

• Hiệu quả - Tỉnh có thể đưa ra các ứng dụng và dịch vụ công thông minh, hiệu quả hơn bằng cách cho phép thông tin được tái sử dụng dễ dàng hơn, cho phép người dân giúp cải thiện chất lượng dữ liệu.

Bên cạnh đó, OECD (2015) và Ủy ban Châu Âu (2016) khuyến nghị rằng, chính phủ và các địa phương nên bảo đảm mọi người không bị bỏ lỡ các cơ hội do công nghệ kỹ thuật số mang lại. Cần thực hiện các hành động để tăng tính hòa nhập cho các nhóm người dùng có hoàn cảnh khó khăn, bao gồm việc tăng cường sự thoải mái và quen thuộc của họ với việc sử dụng công nghệ, cũng như nâng cao nhận thức về các kênh trực tuyến để tương tác với chính phủ và các địa phương. Đồng thời, các địa phương nên cung cấp quyền truy cập vào các dịch vụ và thông tin trực tuyến cho càng nhiều người dùng càng tốt, đồng thời tôn trọng sự lựa chọn của những công dân thích các kênh ngoại tuyến hơn. Các kênh kỹ thuật số cũng như tương tác trực tiếp là điều cần thiết để mọi người tiếp cận dịch vụ hoặc tương tác với chính phủ điển hình như Anh đã sử dụng Dịch vụ quầy lễ tân (FOCS) cho những người không thể tự mình sử dụng các dịch vụ kỹ thuật số của chính phủ và cần sự hỗ trợ từ các quan chức chính phủ.

Xây dựng các phần mềm ứng dụng dịch vụ công cho doanh nghiệp sử dụng thiết bị di động

Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ thuê bao di động rất cao. Năm 2023, lượng người dùng smart phone tại Việt Nam dự kiến ở mức 63,8 triệu người, tăng 1,6% so với năm 2022 và chiếm 96,1% lượng người dùng Internet trên cả nước. Xét ở khu vực Đông Nam Á, lượng người dùng smart phone ước tính tại Việt Nam tính tới hết năm 2023 chỉ kém mỗi Indonesia, quốc gia có dân số đông nhất khu vực, và lớn hơn tất cả quốc gia khác. Tính đến năm 2026, lượng người dùng smart phone tại Việt Nam ước đạt 67,3 triệu người, tăng trưởng 1,7% so với năm trước đó và chiếm khoảng 96,9% lượng người dùng internet. Con số này mặc dù kém so với mức 141,3 triệu người dùng smart phone tại Indonesia cùng thời điểm, song tỷ lệ người dùng smart phone tại Indonesia chỉ chiếm 86,5% lượng người dùng Internet tại quốc gia này vào năm 2026, kém xa Việt Nam. Do vậy, để tăng cường cung cấp dịch vụ cho Công dân, các cơ quan nhà nước có thể tận dụng nền tảng Ứng dụng di động thông minh mới được triển khai (tham khảo nghiên cứu điển hình bên dưới) để triển khai các ứng dụng di động của riêng họ có thể truy cập qua một kho lưu trữ duy nhất.

Nền tảng ứng dụng di động thông minh được triển khai bao gồm các thành phần chính, đó là:

• Ứng dụng di động, có sẵn trên các nền tảng chính (iOS và Android)

• Trang web “cửa hàng ứng dụng” của chính phủ (mauritiusapps.govmu.org) để tham khảo và quảng bá các ứng dụng dành cho thiết bị di động cũng như mọi ứng dụng trong tương lai

• Một hệ thống Kiến trúc hướng dịch vụ sẽ cho phép triển khai nhanh chóng và nhất quán các máy chủ ứng dụng di động. Nền tảng tập hợp lại tất cả các dịch vụ phổ biến mà các ứng dụng Di động yêu cầu, chẳng hạn như quyền truy cập vào hệ thống bên ngoài, bộ lập lịch sao lưu và dịch vụ quản lý xác thực/nhận dạng. Kiến trúc dựa trên nền tảng chia sẻ dữ liệu đường cao tốc thông tin để cho phép tích hợp các dịch vụ khác nhau của chính phủ. Bảy ứng dụng di động đã được ra mắt và có sẵn thông qua nền tảng này.

• Ứng dụng giao thông thông minh (Lực lượng cảnh sát Mauritius)

• Ứng dụng cảnh sát thông minh (Lực lượng cảnh sát Mauritius)

• Ứng dụng Bảo vệ người tiêu dùng (Bộ Công nghiệp, Thương mại và Bảo vệ người tiêu dùng)

• SearchGov (Dịch vụ Thông tin Chính phủ)

• Cảnh báo khẩn cấp (Trung tâm quản lý và giảm thiểu rủi ro, thiên tai quốc gia)

• Phúc lợi gia đình (Bộ Bình đẳng giới, Phát triển trẻ em và Phúc lợi gia đình)

• Đồng hành cùng trường học (Bộ Giáo dục và Nhân lực, Giáo dục Đại học và Nghiên cứu Khoa học).

Việc triển khai các ứng dụng di động liên quan đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp địa phương sẽ góp phần thúc đẩy cải cách các thủ tục hành chính, tăng cường hỗ trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp địa phương trong trong các hoạt động liên quan đến việc đăng ký kinh doanh, hướng dẫn, tư vấn cho doanh nghiệp gia nhập thị trường, thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh, thủ tục liên quan đến đất đai, công tác cải cách hành chính thuế, thu thút nguồn vốn; hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp địa phương trong bối cảnh diễn ra các cú sốc kinh tế như COVID-19...

Tuy nhiên, việc thiết kế các dịch vụ công kỹ thuật số nên bảo đảm sự mặc định có tính bao trùm và đáp ứng các nhu cầu khác nhau như: nhu cầu của các doanh nghiệp. Các trang web cần được thiết kế để dễ dàng sử dụng trên các thiết bị di động mang lại trải nghiệm người dùng tích cực hơn. Một nghiên cứu được thực hiện bởi Ủy ban Châu Âu (2016) cho thấy, người dùng di động có xu hướng từ bỏ một giao dịch không thể thực hiện được trên thiết bị di động. Do vậy, các trang web trước tiên phải được thiết kế cho thiết bị di động tăng khả năng truy cập đối với người dùng. Nếu dịch vụ kỹ thuật số không thân thiện với người dùng, người dùng sẽ lãng phí thời gian tìm kiếm các trang web hoặc thông tin phù hợp, và cuối cùng có thể từ bỏ dịch vụ. Khả năng sử dụng không đầy đủ cũng có thể dẫn đến việc các cơ quan Chính phủ đầu tư nhiều nguồn lực hơn vào việc cung cấp hỗ trợ trực tuyến và sửa các lỗi về khả năng sử dụng cũng như những thiếu sót trong các dịch vụ kỹ thuật số mà lẽ ra có thể được ngăn chặn. Các địa phương nên áp dụng các phương pháp hiệu quả nhất về trải nghiệm người dùng (ví dụ như phương pháp UX) trong việc thiết kế các hệ thống và dịch vụ kỹ thuật số. Bằng cách áp dụng các phương pháp này về trải nghiệm người dùng và quy trình thiết kế lấy người dùng làm trung tâm, các cơ quan địa phương có thể:

• Xác định và đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp thông qua tiến hành nghiên cứu người dùng trong khi vẫn đáp ứng các mục tiêu của tổ chức.

• Tạo ra thông tin dễ hiểu và dễ vận hành.

• Tạo ra các hệ thống tạo điều kiện tốt hơn cho các giao dịch, nội bộ và bên ngoài.

• Cung cấp thông tin để người dùng có thể được truy cập ở bất cứ đâu và thông qua các kênh và công nghệ khác nhau.

• Khuyến khích sự tham gia bằng cách giúp dễ dàng kết nối với mọi người.

• Tăng năng suất và hiệu quả với các hệ thống khả dụng.

• Cải thiện dựa trên phản hồi và phân tích các phép đo hiệu suất khác. Hiện nay, Chính phủ Hoa Kỳ đã tích hợp trải nghiệm người dùng trong thiết kế các hệ thống và dịch vụ kỹ thuật số thông qua trang web của mình (Usability.gov).

Nhìn chung, các hệ thống cải cách của hành chính công liên quan đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp địa phương cần gắn với chuyển đổi số và bảo đảm hỗ trợ cho các bên liên quan với các nhu cầu khác nhau và bao gồm:

• Dịch vụ thân thiện với thiết bị di động đáp ứng

• Ứng dụng dành cho thiết bị di động

• Thông báo dựa trên SMS

• Tài liệu trợ giúp được cung cấp dưới dạng âm thanh và video để tăng khả năng tiếp cận

• Giao diện thân thiện với người dùng được thiết kế có tính đến trải nghiệm của người dùng hoặc khách hàng

• Bàn hỗ trợ kỹ thuật số được hỗ trợ cho khách hàng thích dịch vụ tại quầy.

Xây dựng Cổng hỗ trợ doanh nghiệp và bảo vệ quyền riêng tư, bảo đảm an ninh mạng khi sử dụng các dịch vụ công

Cổng hỗ trợ là một dịch vụ trực tuyến liên quan đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp địa phương và đóng vai trò là nền tảng để các địa phương tương tác với người dùng, với doanh nghiệp khi xử lý các khiếu nại của doanh nghiệp, cho phép giám sát các khiếu nại và thông báo cho doanh nghiệp về các chính sách, thông cáo của Chính phủ cùng những vấn đề khác liên quan đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp địa phương.

Cổng thông tin cần bảo đảm cho các doanh nghiệp được tải trực tiếp các yêu cầu của họ, chia sẻ mối quan tâm và ý tưởng của họ. Sau đó, các yêu cầu sẽ được chuyển đến các Bộ, ban, ngành và chính quyền địa phương nếu phù hợp. Doanh nghiệp cũng có thể theo dõi các yêu cầu của mình thông qua hệ thống bán vé. Phân tích dữ liệu từ cổng thông tin cho phép Chính phủ có được bức tranh toàn cảnh hơn về nhu cầu của doanh nghiệp địa phương và có thể phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn để giải quyết các vấn đề.

Những thách thức về bảo vệ quyền riêng tư và an ninh mạng ngày nay đòi hỏi một giải pháp toàn diện hơn vì các sáng kiến kỹ thuật số đang diễn ra ở khắp mọi nơi (Cisco Systems, 2017). Để bảo đảm an ninh và khả năng phục hồi, chính quyền địa phương phải phát triển năng lực thông qua cơ cấu và hành vi quản trị nội bộ, cũng như hợp tác với các tổ chức khác. Để bảo đảm quyền riêng tư, bảo đảm an ninh, các địa phương cần có hệ sinh thái an ninh mạng và bảo vệ quyền riêng tư dữ liệu mạnh mẽ, cụ thể gồm:

• Văn phòng bảo vệ dữ liệu (DPO) là cơ quan bảo vệ dữ liệu và thực thi quyền riêng tư. Ngoài các trách nhiệm khác, DPO còn có trách nhiệm thực hiện kiểm soát tất cả các hoạt động xử lý dữ liệu và xác minh xem việc xử lý dữ liệu có tuân thủ các quy định của pháp luật hay không.

• Ban hành luật bảo vệ dữ liệu quy định việc bảo vệ quyền riêng tư của các cá nhân. Đạo luật này gần đây đã được sửa đổi để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là Quy định bảo vệ dữ liệu chung.

• Lập Nhóm Ứng phó Khẩn cấp Máy tính tại các địa phương (CERT) có nhiệm vụ cung cấp thông tin và hỗ trợ cho các thành viên của mình trong việc thực hiện các biện pháp chủ động nhằm giảm thiểu rủi ro xảy ra sự cố bảo mật thông tin, cũng như ứng phó với những sự cố đó khi chúng xảy ra. Bằng cách xử lý các sự cố bảo mật và giám sát các vấn đề bảo mật xảy ra trong khu vực công và tư nhân. CERT cung cấp hướng dẫn về cách áp dụng các biện pháp thực hành tốt nhất về bảo mật thông tin, đồng thời cảnh báo và giáo dục quản trị viên hệ thống và người dùng về các mối đe dọa và biện pháp đối phó bảo mật thông tin mới nhất bằng cách phổ biến thông tin.

• Bộ phận An ninh CNTT đóng vai trò là đầu mối liên lạc chính về An ninh CNTT và chịu trách nhiệm phổ biến kiến thức về an toàn thông tin, thúc đẩy việc thực hiện các tiêu chuẩn an toàn thông tin và thiết lập các biện pháp thực hành bảo mật CNTT.

• Ban hành Chiến lược tội phạm mạng quốc gia tạo điều kiện thuận lợi nhằm giải quyết tội phạm mạng. Chiến lược này mang lại khả năng thực thi pháp luật và phản ứng tư pháp hình sự hiệu quả hơn nhằm mang lại một môi trường kỹ thuật số an toàn và bảo mật hơn.

• Ban hành Chiến lược an ninh mạng quốc gia giải quyết các vấn đề an ninh mạng. Chiến lược này xác định các mục tiêu, hướng dẫn và kế hoạch hành động chính để ứng phó hiệu quả với các mối đe dọa trên mạng, đồng thời thừa nhận thách thức cơ bản trong việc cân bằng các biện pháp nhằm bảo vệ an ninh.

Cải cách bộ máy quản lý phù hợp với chiến lược chuyển đổi số

Ở cấp độ tổ chức, việc quản trị các hoạt động chuyển đối số liên quan đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp địa phương cần được bảo đảm bởi hệ thống quản lý từ cấp tỉnh đến địa phương và các doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức này bao gồm các trưởng ban điều hành cấp cao về chuyển đổi số ở các địa phương (ví dụ: trưởng ban điều hành và/hoặc thư ký thường trực, trưởng phòng kỹ thuật số, trưởng phòng an ninh mạng, các chuyên viên điều phối...).

Bên cạnh đó, cần quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trong ban điều hành chuyển đổi số.Bảng dưới đây cung cấp chức năng cốt lõi trong ban quản lý chuyển đổi số để xác định các lĩnh vực cần cải thiện để nâng cao lợi ích và chuyển đổi kỹ thuật số thành công.

Bảng 1. Quy định chức năng trong ban quản lý chuyển đổi số

Chức năng

Lĩnh vực cải tiến

Lập kế hoạch chiến lược tại các Sở thông qua xây dựng Kế hoạch tổng thể về Kinh doanh điện tử/Chính phủ điện tử

Thẩm quyền ra quyết định để mang lại sự chuyển đổi và bảo đảm tư vấn, tiêu chuẩn và chính sách về CNTT được áp dụng.

Tư vấn về vấn đề CNTT

Xây dựng chính sách và tiêu chuẩn CNTT

Xây dựng Chiến lược chuyển đổi số

Cơ cấu quản trị toàn địa phương, lãnh đạo và thẩm quyền chuyển các khuyến nghị thành triển khai dự án

Công việc hàng ngày, vận hành, quản trị, hỗ trợ và quản lý CNTT (Ứng dụng, Hệ thống, Cơ sở dữ liệu, Mạng, Trang web) Hỗ trợ ứng dụng

Để giải quyết tình trạng thiếu nguồn lực hỗ trợ nhu cầu hoạt động CNTT-TT hàng ngày, các dịch vụ được quản lý có thể được ký hợp đồng với các nhà cung cấp dịch vụ thông qua các thỏa thuận khung. Các nhân viên CNTT-TT đang hoạt động hiện có có thể đóng vai trò giám sát, quản lý để quản lý các hợp đồng cung cấp dịch vụ người dùng và bảo đảm “đèn luôn sáng”.

Thiết kế và phát triển các dịch vụ kỹ thuật số

Cần phải phát triển nhanh chóng các dịch vụ kỹ thuật số để đáp ứng việc thực thi nguyên tắc mặc định kỹ thuật số. Các địa phương cần tham gia với khu vực công và tư nhân để cùng tạo ra các dịch vụ. Các diễn đàn như hackhaton, web cup... nên được tận dụng làm nền tảng để tương tác với công chúng và tạo ra giá trị cho công chúng

Tiếp thị và nhận thức

Tiếp thị và nâng cao nhận thức hiện không được thực hiện bởi các chủ sở hữu dịch vụ cũng như chính phủ không có đủ năng lực để thực hiện các chức năng đó. Các hình thức chiến lược tiếp thị mới sử dụng phương tiện kỹ thuật số sẽ được thực hiện thông qua các cơ quan truyền thông.

Thử nghiệm các công nghệ mới và Nghiên cứu & Phát triển

Nghiên cứu & phát triển và thử nghiệm các công nghệ mới, ví dụ: Internet of Things, Blockchain,...

Giám sát danh mục dự án cho địa phương

Xây dựng năng lực quản lý các dự án linh hoạt và các hình thức quản lý dự án mới thông qua các khóa đào tạo cấp chứng chỉ.

Xác định các vấn đề và cung cấp các giải pháp sáng tạo để thúc đẩy các dự án CNTT-TT tiến lên phía trước

Lên ý tưởng và thiết kế các dự án CNTT-TT

Cập nhật liên tục các kỹ năng công nghệ, rà soát công nghệ và nghiên cứu thị trường thông qua xây dựng năng lực để theo kịp những tiến bộ công nghệ mới nhất và dịch vụ thị trường. Điều này sẽ bảo đảm nhân viên hiểu, đề xuất, ước tính dự án bằng các công nghệ mới nhất, phù hợp với tương lai.

Kiểm toán an ninh

Các hệ thống quan trọng và phức tạp sẽ yêu cầu thiết kế bảo mật chuyên sâu

Đánh giá kỹ thuật của đề xuất

Nghiên cứu/điều tra thị trường sẽ đưa ra những ước tính và điểm chuẩn tốt hơn cho các đề xuất.

Tái cấu trúc Quy trình nghiệp vụ của các địa phương

Kiến thức về miền để có thể hiểu và đề xuất những thay đổi trong quy trình kinh doanh. Vai trò mới của các nhà phân tích kinh doanh có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực tái cấu trúc các quy trình.

Nhận thức an ninh

Tài liệu nâng cao nhận thức nên được cung cấp thông qua các hình thức kênh phân phối mới, ví dụ: ứng dụng di động, blog, mạng xã hội

Ứng phó sự cố an ninh

Các quy trình xử lý sự cố nên được tích hợp với hệ thống quản lý dịch vụ tập trung xử lý cả dịch vụ CNTT và sự cố bảo mật

Quản lý trung tâm dữ liệu

Phục hồi thảm họa đặc biệt là cho các hệ thống quan trọng cần phải được thực hiện. Các dịch vụ mới như phần mềm dưới dạng dịch vụ (SaaS) nên được triển khai.

Lưu trữ các trang web, ứng dụng và dịch vụ kỹ thuật số

Bảng điều khiển và phân tích cung cấp chế độ xem thống kê về việc sử dụng các dịch vụ kỹ thuật số để chủ sở hữu dịch vụ có thể thực hiện các biện pháp thích hợp để tăng mức độ tiếp thu.

Nguồn: CIB (2023)

Kinh nghiệm áp dụng cho tỉnh Quảng Ninh trong cải cách dịch vụ công nhằm hỗ trợ doanh nghiệp địa phương

Tỉnh Quảng Ninh luôn xác định lấy con người là trung tâm, doanh nghiệp là chủ thể, bảo đảm hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, xã hội, con người. Vì vậy, cần chăm lo, xây dựng đội ngũ doanh nhân tỉnh Quảng Ninh lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, quy mô; có ý thức giác ngộ chính trị, văn hóa kinh doanh, am hiểu pháp luật, có trách nhiệm xã hội cao; có đủ năng lực, trình độ, uy tín để thực hiện các nhiệm vụ trong quá trình hội nhập quốc tế. Nhiều năm qua, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đóng vai trò quan trọng thúc đẩy cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh. Tuy nhiên, theo báo cáo thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2023, toàn tỉnh Quảng Ninh có 1.272 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh, tăng 12% so cùng kỳ; 280 doanh nghiệp giải thể, tăng 6% so với cùng kỳ; 569 doanh nghiệp, hợp tác xã bỏ địa chỉ kinh doanh. Số liệu trên cho thấy các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh rời khỏi thị trường ngày một gia tăng.

Do vậy, tỉnh Quảng Ninh cần triển khai nhiều giải pháp đặc biệt là các dịch vụ công nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp đang hoạt động và thu hút các doanh nghiệp mới, đóng góp vào sự phát triển chung của toàn tỉnh. Đối với Nghị quyết hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh nâng cao hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững gắn với chuyển đổi số đến năm 2025, tỉnh cần triển khai giải pháp ứng dụng hiệu quả công nghệ số, nâng cao tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến toàn tỉnh; thúc đẩy chuyển đổi số trong doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Từ giải pháp này và từ kinh nghiệm ứng dụng chuyển đổi số của các địa phương trong cải cách dịch vụ công nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, trong thời gian tới, tỉnh cần tập trung vào những nội dung sau:

Một là, nâng cao nhận thức, kỹ năng số của các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

Ngân hàng Thế giới (WB) đặt ra rằng, trong những thập kỷ tới “các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt với cuộc chạy đua giữa công nghệ và giáo dục, và người chiến thắng sẽ là những người khuyến khích nâng cấp kỹ năng để tất cả đều có thể hưởng lợi từ các cơ hội kỹ thuật số”. Về khía cạnh này, Cơ quan Nghiên cứu Nghị viện Châu Âu (2015) cho rằng, cơ quan nhà nước có thể cần hỗ trợ đào tạo kỹ năng số, không chỉ như một cách hỗ trợ thị trường lao động, giúp người dân và doanh nghiệp cải thiện triển vọng việc làm, mà còn để bảo đảm rằng mọi doanh nghiệp đều có thể sử dụng dịch vụ chính phủ kỹ thuật số. Công chức cũng có thể cần được đào tạo thêm, có thời gian để học các kỹ năng mới để thích ứng với việc hỗ trợ cung cấp dịch vụ điện tử.

Bên cạnh đó, tỉnh cần nâng cao nhận thức về chuyển đổi và ứng dụng số trong các hoạt động cải cách dịch vụ công liên quan đến các hoạt động của doanh nghiệp thông qua các video, các cuộc thi và nội dung thông tin khác. Ứng dụng mạng xã hội để phổ biến rộng rãi thông tin và nội dung liên quan đến các hoạt động chuyển đổi số trong các dịch vụ công bằng cách: Tổ chức các cuộc thi gửi video công khai; Chia sẻ các video truyện ngắn về chuyển đổi số; Các cuộc thi giải thưởng mã thông báo công khai dựa trên nội dung đồ họa trong số những nội dung khác. Ngoài ra, tỉnh cũng cần sử dụng các kênh truyền thông về kỹ thuật số để tiếp cận doanh nghiệp. Truyền thông kỹ thuật số vượt ra ngoài tiếp thị trên Internet để bao gồm các kênh như điện thoại di động (cả SMS và MMS), truyền thông xã hội, quảng cáo hiển thị hình ảnh, tiếp thị công cụ tìm kiếm và bất kỳ hình thức truyền thông kỹ thuật số nào khác. Chú trọng vào các chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về quá trình chuyển đổi số trong các hoạt động cải cách dịch vụ công nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thông qua chiến dịch chuyển đổi số. Các dịch vụ công nhằm hỗ trợ doanh nghiệp của các cơ quan truyền thông về chuyển đổi số có thể thu hút doanh nghiệp thông qua việc sử dụng trang web, ứng dụng di động, trò chơi, tối ưu hóa công cụ tìm kiếm, tích hợp phương tiện truyền thông xã hội và truyền thông qua email cùng nhiều dịch vụ khác. Do đó, các chiến lược truyền thông về chuyển đổi số có thể được tỉnh tận dụng để nâng cao nhận thức trong các sáng kiến chuyển đổi số được triển khai cho doanh nghiệp như các ứng dụng di động và dữ liệu mở...

Hai là, xây dựng bộ dữ liệu số cho khu vực dịch vụ công hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương.

Dữ liệu và phân tích, ví dụ bảng điều khiển dựa trên dữ liệu, số liệu thống kê sử dụng dịch vụ công nên được các đơn vị quản lý cấp cao trong các cơ quan của tỉnh tận dụng để giám sát và liên tục cải thiện chất lượng dịch vụ số, cũng như tăng cường quá trình ra quyết định và xây dựng chính sách. Thực thi nguyên tắc một lần duy nhất trong tỉnh, trong đó người dân, doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần cho tỉnh và thông tin được sử dụng lại để cung cấp dịch vụ. Thúc đẩy khả năng tương tác cao trong các hệ thống và tăng cường chia sẻ dữ liệu, đặc biệt là các sổ đăng ký như công ty, tài sản, địa chỉ... Thay vì yêu cầu bản sao các tài liệu trong khi giao dịch, dữ liệu nên được lấy từ các cơ quan tỉnh thông qua các kênh trực tuyến và mọi thông tin nhận dạng và/hoặc xác minh được tiến hành bằng điện tử.

Ba là, tăng cường bảo vệ quyền riêng tư, bảo đảm an ninh trong các hoạt động cải cách dịch vụ công nhằm hỗ trợ doanh nghiệp địa phương

Phát triển quan hệ đối tác với doanh nghiệp để thu thập dữ liệu về các sự cố bảo mật và vi phạm quyền riêng tư. Hợp tác với các tổ chức quốc tế trong việc phát triển các chỉ số đánh giá và hiệu suất mạnh mẽ liên quan đến bảo mật, quyền riêng tư. Triển khai khung xác thực tỉnh, cho phép cả khu vực công và tư nhân xác thực trong việc cung cấp dịch vụ kỹ thuật số. Tăng cường các chính sách tiêu chuẩn liên quan đến việc sử dụng CNTT trong khu vực công. Nên áp dụng nguyên tắc “Mặc định kỹ thuật số” trong đó các cơ quan chủ động chuyển đổi dịch vụ của mình, sử dụng công nghệ kỹ thuật số đồng thời bảo đảm cung cấp hỗ trợ cho những người cần trợ giúp tiếp cận các dịch vụ của chính phủ. Tỉnhcần bảo đảm rằng họ có chiến lược/kế hoạch kinh doanh điện tử, bao gồm tái cấu trúc quy trình kinh doanh, kế hoạch chi tiết để đạt được chuyển đổi kỹ thuật số các dịch vụ và quy trình của mình.

Bốn là, thành lập bộ phận quản lý chuyển đổi số để điều phối hoạt động dịch vụ công trong hỗ trợ doanh nghiệp

Thiết lập các cơ chế giám sát và báo cáo như: thành lập tổ công tác về chuyển đổi số, tốt nhất là do chủ tịch tỉnh chủ trì, có thẩm quyền thu hút sự tham gia của các bên liên quan và khiến mọi việc diễn ra trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược dựa trên công nghệ như khuyến nghị chiến lược chuyển đổi, khả năng tích hợp và khả năng tương tác giữa các cơ quan... Tăng cường giám sát việc triển khai các dự án chuyển đổi kỹ thuật số, tiến độ cần được báo cáo, xem xét bởi tổ công tác chuyển đổi số của tỉnh. Tối ưu hóa hiệu quả hoạt động, đơn giản hóa sự phối hợp của từng đơn vị/bộ phận trong hệ sinh thái chuyển đổi số. Thực hiện các chương trình xây dựng năng lực liên tục và tùy chỉnh, đồng thời tạo điều kiện cho các nhân viên CNTT hỗ trợ hệ sinh thái chuyển đổi số tiếp xúc với ngành về lĩnh vực công nghệ và kinh doanh. Trao quyền cho chủ sở hữu dịch vụ hoặc sản phẩm kinh doanh phụ trách các dịch vụ và hệ thống tại các sở phù hợp với năng lực và kỹ năng để thiết kế các dịch vụ xoay quanh nhu cầu của doanh nghiệp địa phương trong khi sử dụng các dịch vụ công. Phân tích và rà soát khung pháp lý và quy định hiện hành để hỗ trợ chuyển đổi số trong các hoạt động dịch vụ công trên toàn tỉnh./. Sơn, Bùi Thị Huệ (2021), Dữ liệu mở trong chuyển đổi Chính phủ số tại Việt Nam, Tạp chí Công thương, số 1/1/2021.




    Nổi bật
        Mới nhất
        Cải cách hành chính trong các dịch vụ công nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp địa phương trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế: Từ lý thuyết đến bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Ninh
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO