Các thành tố của đổi mới quản trị nhà nước đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững và tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0: Thực tiễn quốc tế và hàm ý chính sách đối với Việt Nam, Quảng Ninh

TS. Lê Trung Kiên 18/12/2025 17:04

Bối cảnh quốc tế và yêu cầu đổi mới quản trị nhà nước

Các đánh giá quốc tế của Liên hợp quốc, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) khẳng định xu hướng chuyển đổi số, phát triển xanh, bền vững, bao trùm và tự cường đã trở thành “mệnh lệnh trung tâm” đối với sự phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19. Từ đầu năm 2020, WEF đã thảo luận về sự cần thiết phải chuyển mô hình sản xuất sang chú trọng hơn tới người lao động, xã hội, môi trường chứ không chỉ mang lại lợi ích cho các “cổ đông” doanh nghiệp. ADB nhận định các thành tố bền vững, bao trùm trong mô hình phát triển ở các nền kinh tế châu Á đang dần thay thế tư duy “tăng trưởng trước, môi trường và bình đẳng sau” trước đây[1]. Liên hợp quốc nhấn mạnh, tăng cường hợp tác và hội nhập khu vực là phương thức quan trọng để các nước đạt được mục tiêu phục hồi xanh, bền vững và tự cường[2].

Nhiều đánh giá quốc tế khác cho rằng, nếu các quốc gia có được tư duy vượt lên nghịch cảnh, lấy động lực từ khủng hoảng để tiến hành đổi mới khắc phục các điểm yếu trong quản trị và mô hình phát triển và bắt kịp các xu hướng phát triển của thế giới thì không những khắc chế được khó khăn mà còn có cơ hội đột phá. Thể chế quản trị hiệu quả, phù hợp với xu thế, từ cả góc độ chính phủ và thị trường, trở thành nhân tố chủ chốt quyết định thành công trong chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng bền vững hơn và tham gia hiệu quả cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0)[3].

Bài học thành công: Nghiên cứu ở 122 nước đang phát triển trong giai đoạn 1996 - 2019 cho thấy, các nước đưa ra luật lệ, thể chế tốt hơn, phát triển kinh tế tốt hơn. Các nước có cấu trúc kinh tế tạo môi trường và động lực cho người dân, như Singapore, Hồng Kông, New Zealand phát triển tốt hơn các nước, như Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Các nước thực hiện cải tổ kinh tế[4]hiệu quả hơn thì kinh tế tăng trưởng cao hơn, nhanh hơn và thu hút đầu tư nhiều hơn[5]. Đáng chú ý, cải cách thể chế giúp nâng cao khả năng cung cấp các dịch vụ công quy mô lớn trong điều kiện thiếu nguồn lực. Một số mô hình thành công, như dịch vụ công linh hoạt, có khả năng phản ứng, quản trị rủi ro, ứng phó khẩn cấp, ứng dụng công nghệ để hiện đại hóa dịch vụ, gia tăng tương tác với người dân.

Bài học thất bại: Nghiên cứu trên cũng cho thấy, các nước không tạo môi trường hiệu quả cho các chủ thể kinh tế và chậm cải cách thể chế, tăng trưởng sẽ hạn chế và không bền vững. Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, việc chậm cải cách thể chế, tăng cường thể chế thị trường, tái cơ cấu doanh nghiệp, quản lý rủi ro mất khả năng thanh toán, vỡ nợ đã góp phần khiến năng suất của Trung Quốc sụt giảm đáng kể trong vài năm trở lại đây (từ 2,8%/năm trước năm 2008 xuống còn 0,7%/năm giai đoạn 2009 - 2018)[6]. Trong đại dịch COVID-19, Viện Nghiên cứu phát triển xã hội Liên hợp quốc (UNRISD) nhận định, mô hình quản trị ở một số nước đã bộc lộ rõ những yếu kém về hệ thống, không chuẩn bị ứng phó với các vấn đề như về bất bình đẳng, thiếu hụt đầu tư, an sinh xã hội và dịch vụ thiết yếu.

Do đó, đổi mới quản trị nhà nước trở thành ưu tiên hàng đầu trong các khuyến nghị của nhiều tổ chức quốc tế, như OECD, Liên minh châu Âu (EU) với mục tiêu nâng cao tính linh hoạt, thích ứng, hiệu quả, hiệu năng của thể chế để các quốc gia có thể phục hồi bền vững và gia tăng tính tự cường trước các cú sốc bên ngoài[7]. ADB nhấn mạnh, đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát triển là biện pháp căn cơ, lâu dài bên cạnh các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, kích thích kinh tế trong ngắn hạn[8]. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng, các biện pháp kinh tế vĩ mô chỉ giúp hỗ trợ ổn định và ứng phó với các áp lực và rủi ro ngắn hạn, còn trong dài hạn, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đổi mới quản trị nhà nước có vai trò then chốt để hướng tới một nền kinh tế bền vững và tự cường hơn[9]. WB đánh giá, đại dịch COVID-19 đặt ra nhiều vấn đề mới về quản trị, yêu cầu về tính đồng bộ, hệ thống trong hoạch định, cách tiếp cận “toàn chính phủ” trong điều phối ở cấp Trung ương và quan trọng là năng lực thực thi chính sách ở các cấp. Kinh nghiệm quốc tế ứng phó với đại dịch COVID-19 cho thấy khủng hoảng làm bộc lộ các yếu kém về mức độ tiếp cận của người dân tới hệ thống y tế, sự thiếu phối hợp giữa chính quyền Trung ương và địa phương ở một số nước[10]. Trung tâm quản trị an ninh khu vực Giơ-ne-vơ cho rằng, các nước cần tiến hành đổi mới quản trị nhà nước với tư duy thông minh, có trọng tâm, trọng điểm, liên thông đồng bộ giữa các chính sách. Do đó, đổi mới quản trị nhà nước trở thành yêu cầu cấp bách để thích ứng và duy trì động lực tăng trưởng, nhất là năng lực hành động mau lẹ, sự linh hoạt, hiệu quả triển khai, tính minh bạch và chịu trách nhiệm[11].

Các thành tố của đổi mới quản trị nhà nước đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững và tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Thứ nhất, đẩy mạnh cải cách quản trị chính phủ nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả, giảm tình trạng phân mảnh trong mô hình quản trị, nâng cao hơn nữa năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình[12].

Nâng cao năng lực quản trị kinh tế - xã hội, hướng tới tư duy quản lý hệ thống, quản lý rủi ro, cách tiếp cận “toàn chính phủ” với vai trò dẫn dắt của chính quyền Trung ương. Nghiên cứu của Liên hợp quốc chỉ ra cách tiếp cận quản trị “toàn chính phủ” sẽ giúp gắn kết thông suốt giữa các cơ quan chính quyền và với người dân, để có thể ứng phó với các thách thức đa lĩnh vực, phức tạp và sự tham gia ngày càng đa dạng của các thành phần vào quản trị xã hội nhờ ứng dụng công nghệ[13]. Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) nhấn mạnh tính cần thiết của nâng cao năng lực quản lý rủi ro để ngăn chặn, sẵn sàng chuẩn bị trước các cú sốc bên ngoài[14].

Nâng cao hiệu quả của chính phủ. Nghiên cứu tại hơn 100 nước châu Phi và châu Á từ năm 2002 - 2018 cho thấy, hiệu quả của chính phủ (bao gồm quá trình hoạch định chính sách, thực thi và chính sách lấy người dân làm trung tâm) sẽ giúp gia tăng tăng trưởng kinh tế, đầu tư nước ngoài, cơ sở hạ tầng xã hội, đầu tư công, hệ thống mua sắm chất lượng, giảm tham nhũng và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh[15]. Năm 2020, Việt Nam đứng thứ 70/192 về nâng cao hiệu quả của chính phủ, tăng 17 bậc so với năm 2019[16]. Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) của Việt Nam từ năm 2011 - 2020 đã có những chuyển biến tích cực, thể hiện qua tỷ lệ tăng trưởng điểm PAPI dao động từ 0,1 - 3,1%, giải thích cho việc ứng phó với đại dịch COVID-19 hiệu quả[17]. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa hiệu quả quản trị nhà nước, một số nghiên cứu đưa ra khuyến nghị, như: 1- Thiết lập hệ thống kiểm soát và lập kế hoạch dựa trên kết quả; 2- Tuyển dụng đúng cán bộ với tiêu chuẩn chất lượng phù hợp; 3- Lương thỏa đáng; 4- Hệ thống linh hoạt và phân quyền[18].

Củng cố tính đồng bộ, hệ thống của thể chế chính sách. OECD đề xuất khung thể chế chính sách đồng bộ để phát triển bền vững, bao gồm: 1- Cân nhắc một cách hệ thống tác động của chính sách đối với các tầng lớp dân cư và vùng miền; 2- Khuyến khích tất cả các thành phần liên quan cùng tham gia quá trình hoạch định chính sách, triển khai và huy động nguồn lực; 3- Cân đối các ưu tiên và thúc đẩy sự phối hợp hành động ở mọi cấp chính quyền; 4- Có tầm nhìn dài hạn, cân nhắc tới nhu cầu của hiện tại, cũng như của các thế hệ tương lai; 5- Gia tăng tính bổ trợ, giảm tính xung đột/đánh đổi giữa các tác động về kinh tế, xã hội và môi trường của chính sách; 6- Kết nối chặt chẽ giữa chính sách trong nước và chính sách kinh tế đối ngoại[19].

Nâng cao hiệu quả thực thi ở cấp cơ sở. WB nhận định, một trong những lĩnh vực cần tập trung cải thiện hiệu quả về quản trị nhà nước tại các nước đang phát triển như Việt Nam là năng lực thực thi ở cấp cơ sở[20]. OECD nhấn mạnh tầm quan trọng của việc triển khai trên thực tiễn ở cấp cơ sở các chủ trương, chính sách đề ra. Nhân tố ảnh hưởng quan trọng tới khả năng thực thi ở cấp cơ sở là năng lực thể chế, bao gồm sự phối hợp giữa các cấp, tính trách nhiệm rõ ràng và sự đồng bộ của luật pháp.

Thứ hai, cải cách thể chế thị trường theo hướng nâng cao hiệu quả của khối doanh nghiệp nhà nước, phát huy vai trò năng động của doanh nghiệp tư nhân, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

Nâng cao năng lực cạnh tranh của doan nghiệp nhà nước. Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn với mức đóng góp 1/3 GDP nhưng tăng trưởng chậm hơn so với thành phần kinh tế khác[21]. OECD cho biết, các cải cách doanh nghiệp nhà nước sẽ giúp Việt Nam tăng năng suất và mang lại thêm 2,5% tăng trưởng GDP[22]. Tập đoàn Mckinsey (Mỹ) nhận định, việc tiếp tục cổ phẩn hóa, giảm đầu tư bền vững, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sẽ giúp các doanh nghiệp nhà nước gia tăng tính cạnh tranh ở cả thị trường trong và ngoài nước([23]). Thực tiễn tại một số quốc gia như Trung Quốc cho thấy, khủng hoảng và áp lực gia tăng là cơ hội để cải tổ mạnh mẽ các doanh nghiệp nhà nước. IMF nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực của chính phủ giám sát hiệu quả các DNNN để ngăn chặn rủi ro nợ công tăng cao giai đoạn phục hồi sau đại dịch COVID-19, cụ thể: 1- Đánh giá định kỳ về tính cần thiết và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước dựa trên đóng góp cho xã hội; 2- Hoàn thiện cơ chế bảo đảm tính minh bạch, chịu trách nhiệm trong quản lý và điều hành doanh nghiệp nhà nước; 3- Bảo đảm nguồn tài chính phù hợp cho doanh nghiệp nhà nước tương ứng với mục tiêu đóng góp về kinh tế - xã hội; 4- Bảo đảm “sân chơi” bình đẳng cho cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân[24].

Tiếp tục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây là thành phần kinh tế chiếm số lượng lớn trong tổng số doanh nghiệp (98%) và tạo ra hơn 40% GDP hằng năm, đồng thời phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam. Thực tiễn từ dịch đại dịch COVID-19 cho thấy, lợi thế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là tính năng động, linh hoạt trong sản xuất, kinh doanh, dễ thích ứng và có vai trò quan trọng trong tạo việc làm, ổn định an sinh xã hội. Một số nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn giúp kiến tạo các chuẩn mực về phát triển bền vững thông qua hoạt động kinh doanh[25]. Mặt khác, dù có đóng góp lớn cho GDP của đất nước, đây là nhóm doanh nghiệp dễ bị tổn thương nhất trước các cú sốc kinh tế, cần có sự hỗ trợ, đồng hành của nhà nước, nhất là về ưu tiên hỗ trợ trợ tài chính, tiếp cận tín dụng ngân hàng[26].

Xây dựng nền kinh tế nội sinh, tự lực, tự cường, thực hiện chủ trương phát triển đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam mạnh, hùng hậu. Kinh nghiệm của các nền kinh tế thành công, như Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, Trung Quốc cho thấy, các tập đoàn, doanh nghiệp mạnh sẽ có vai trò dẫn dắt và tạo đột phá cho nền kinh tế, là đầu tàu về phát triển khoa học, hình thành các ngành công nghiệp nội địa, có đủ năng lực để tham gia ở mức cao trong chuỗi giá trị, cung ứng toàn cầu. WB đề xuất Việt Nam cần thúc đẩy hệ thống doanh nghiệp có tính năng động cao, thể hiện qua khả năng cạnh tranh, tính dễ dàng khi gia nhập và rời khỏi thị trường, qua đó cho phép nguồn lực phân bổ tới các doanh nghiệp sáng tạo và có năng suất cao nhất. Để làm được điều này, các doanh nghiệp của mọi thành phần cần được tiếp cận công bằng tới tài chính, công bằng trước sự bảo vệ của pháp luật và các quy định minh bạch, công khai[27]. Kinh nghiệm phát triển của khu vực Đông Á nhiều năm qua cho thấy, để thành công, cần có các doanh nghiệp nội địa mạnh.

Thứ ba, đổi mới thể chế giáo dục để tăng năng suất, phát triển lực lượng lao động năng suất cao với kỹ năng của thế kỷ XXI. Nghiên cứu của Tập đoàn McKinsey vào năm 2017 cho thấy, các nước tăng trưởng cao ở châu Á là nhờ vào giáo dục[28]. Nếu không có sự điều chỉnh về thể chế, WB dự báo tới năm 2050, số năm học tập trung bình của Việt Nam chỉ tăng thêm 1,3 năm - mức rất thấp so với nhu cầu[29]. ADB cảnh báo các tác động của đại dịch COVID-19 tới giáo dục có thể ảnh hưởng tiêu cực tới năng suất của lực lượng lao động, làm thiệt hại khoảng 1,25 nghìn tỷ USD đối với các nước đang phát triển ở châu Á, tương đương 5,4% GDP ở khu vực trong năm 2020[30]. Tập đoàn Mckinsey nhận định, Việt Nam đạt nhiều thành tựu, với tỷ lệ nhập học cấp cơ sở cao chỉ đứng sau Nhật Bản, cao hơn Hàn Quốc và Hồng Kông; đồng thời, khuyến nghị Việt Nam cần tiếp tục phát huy thế mạnh này thông qua đổi mới thể chế giáo dục, hướng tới nâng cao tính thực học, vận dụng các kỹ năng thực hành, hành vi, và nhận thức phù hợp với bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, phương pháp tư duy và đổi mới sáng tạo. Nâng cao kỹ năng sẽ giúp tăng năng suất, thu hút các nhà chế tạo, tận dụng công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu[31].

Thứ tư, nâng cao năng lực kiến tạo đổi mới sáng tạo, phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D), quỹ đầu tư mạo hiểm. Việt Nam đứng hàng đầu về kinh tế đổi mới sáng tạo trong nhóm nước thu nhập trung bình thấp và đứng thứ 42 trên thế giới, và liên tục tăng trưởng[32]. Tập đoàn Kiểm toán PwC (Anh) khuyến nghịViệt Nam cần chủ động kiến tạo thay đổi, doanh nghiệp cần đi đầu trong các giải pháp mới và xã hội cần hợp tác tích cực để tạo ra tác động dài hạn về chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19 là giai đoạn mà Việt Nam cần hành động cấp bách để phát huy vai trò lớn hơn trong nền kinh tế khu vực, thể hiện qua cung cấp nguồn nhân lực số, là “sân chơi thử nghiệm các công nghệ sáng tạo mới”[33]. WB khuyến nghị để khắc phục năng lực khoa học, đổi mới sáng tạo còn yếu và hệ thống đổi mới sáng tạo còn non trẻ, chính phủ cần tăng đầu tư cho nghiên cứu, phát triển, huy động sự tham gia của doanh nghiệp, các học viện, trường, cải thiện quản trị công, chính sách nhất quán, điều phối hiệu quả, bảo đảm đủ nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực[34].

Thứ năm, kiến tạo thể chế để thu hút nguồn lực xã hội, bao gồm khu vực tư nhân vào đầu tư cơ sở hạ tầng hiện đại, kết nối. Bài học về hội nhập của Mexico cho thấy nước này đã không tận dụng được Hiệp định tự do thương mại (FTA) với Mỹ và Canada là do thiếu các cải cách trong nước tương ứng, mà quan trọng là đầu tư vào kết cấu hạ tầng để người dân tham gia và hưởng lợi từ thương mại)[35]. Mặc dù Việt Nam đã đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng (chỉ sau Trung Quốc ở khu vực, ADB dự kiến Việt Nam sẽ thiếu 237 tỷ USD trong giai đoạn 2021 - 2030 để đầu tư cho lĩnh vực này[36]. Trung tâm kết cấu hạ tầng toàn cầu (GI Hub - Global Infrastructure Hub) dự báo, trong giai đoạn 2016 - 2040, Việt Nam cần khoảng 605 tỷ USD để đầu tư kết cấu hạ tầng[37]. Trong khi đó, nợ công của Việt Nam đã lên đến 60% GDP (so với Malaysia là 52%, Philippines: 40%, Indonesia: 30%)[38]. Để đạt các mục tiêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 với mức tăng trưởng 6 - 7%/năm, trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và hoàn thành các Mục tiêu phát triển bền vững (SDG), ADB khuyến nghị Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách, tăng vai trò của khu vực tư nhân, nhất là trong phát triển cơ sở hạ tầng[39].

Thứ sáu, thúc đẩy kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Hầu hết các nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đầu tư vào kinh tế xanh ngày càng thu hút khu vực tư nhân do lợi nhuận từ các khoản đầu tư này trở nên hấp dẫn hơn. Điều quan trọng là vai trò tạo thiết lập thể chế của chính phủ thông qua các công cụ chính sách nhằm kiến tạo thị trường, thúc đẩy tài chính xanh[40]. Tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc năm 2021 (COP-26), Việt Nam đã cam kết giảm phát thải ròng về 0 vào năm 2050. Một số nước châu Âu và châu Á cam kết không phát thải khí CO2 đến năm 2050 và 13 nước cam kết loại bỏ than đá tính đến năm 2030[41]. Theo Báo cáo Boom & Bust (bùng nổ và thoái trào) năm 2021, Việt Nam hiện đứng thứ 5 thế giới về sản xuất năng lượng từ than đá([42]). Tập đoàn Mckinsey khuyến nghị Việt Nam đẩy nhanh việc giảm phụ thuộc vào các-bon, tìm kiếm các cơ hội khuyến khích các nguồn đầu tư vốn mới qua các chính sách khuyến khích, ưu đãi[43].

Thứ bảy, gia tăng năng suất và giá trị gia tăng cho ngành nông nghiệp. WB nhận định, ngành nông nghiệp của Việt Nam có lực lượng lao động lớn, chiếm đến khoảng 40% lực lượng lao động, đóng góp 14% GDP và cũng cần chuyển đổi công nghiệp hóa. Để tăng năng suất ngành nông nghiệp, ngành nông nghiệp phải tạo nhiều giá trị hơn, áp dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến nước ngoài[44]. Diễn đàn chuyển đổi số nông nghiệp Việt Nam năm 2021[45]nhận định, nông nghiệp là lĩnh vực ưu tiên cần thực hiện chuyển đổi số, bắt kịp xu thế thế giới và hòa nhập vào chuỗi cung ứng nông nghiệp thế giới. Dự kiến thị trường nông nghiệp số toàn cầu sẽ tăng từ 6,4 tỷ USD năm 2021 lên 9,3 tỷ USD năm 2025, phân mảnh và do một số tập đoàn chi phối nhờ vào hệ thống thông tin tài chính và chiến lược kinh doanh. Xu thế mới về nông nghiệp số là tận dụng công nghệ, phổ biến nhất là Internet vạn vật (IoT, trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa, rô-bốt, chuỗi khối..., giúp tăng hiệu quả, năng suất, lợi nhuận, giảm gánh nặng quản lý[46].

Thứ tám, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, tăng cường tính liên kết, bổ trợ giữa kinh tế trong nước và kinh tế đối ngoại.Với mạng lưới 17 FTA, Việt Nam được đánh giá nằm trong hệ thống “luật chơi” đẳng cấp quốc tế, hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu và khu vực; đồng thời, đóng góp cho tự do kinh tế, giúp tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống.

Báo cáo Phát triển thế giới năm 2020 khẳng định, tăng 1% hội nhập của Việt Nam vào chuỗi cung ứng giúp tăng 1% thu nhập bình quân đầu người, gấp hai lần so với tác động của thương mại quốc tế[47]. Tập đoàn Mitsui (Nhật Bản) nhận định, Việt Nam có thể tiếp tục tận dụng sự dịch chuyển chuỗi cung ứng, khi một số công ty đã chuyển cơ sở sản xuất chế tạo từ Trung Quốc sang Việt Nam, như Google (di động), Apple (tai nghe), các doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc). Các nhà chế tạo nước ngoài dự kiến sẽ hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp nội địa, không chỉ đơn thuần là lắp ráp[48].

Các FTA còn góp phần huy động nguồn lực bên ngoài và giúp thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế tiệm cận với các chuẩn mực khu vực và quốc tế, phù hợp với xu hướng tự do hóa thương mại, đầu tư, vốn là một trong những động lực chính cho phát triển kinh tế của Việt Nam. Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) khuyến nghị về tính cần thiết của các chính sách phát triển doanh nghiệp trong nước năng động, đồng thời nhấn mạnh việc thiết kế chính sách kinh tế đối ngoại để bổ trợ cho kinh tế trong nước về tạo việc làm, nâng cao năng suất và tạo tăng trưởng[49].

Một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam nói chung, Quảng Ninh nói riêng

Trên cơ sở đường lối và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đại hội Đảng XIII (tháng 1-2021) của Đảng và tham khảo một số kinh nghiệm quốc tế phù hợp, xin đề xuất một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng Ninh nói riêng, nhằm hoàn thiện hệ thống thể chế, nhất là thể chế kinh tế và đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng nhằm khơi thông tiềm lực, gắn kết chặt chẽ hơn kinh tế đối ngoại với kinh tế trong nước, tranh thủ các xu thế phát triển của thế giới nhằm gia tăng sức mạnh kinh tế nội sinh, cụ thể là:

Thứ nhất, tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật, quy định, chính sách, cải cách thực chất thủ tục hành chính thông suốt vì lợi ích người dân và mọi thành phần doanh nghiệp.

Thứ hai, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn, lành mạnh, công bằng về tiếp cận thị trường, nguồn vốn, sự bảo vệ của pháp luật giữa các thành phần kinh tế.

Thứ ba, cải tổ khu vực doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trên tiêu chí đóng góp cho kinh tế - xã hội và phát triển khu vực doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp địa phương năng động, sáng tạo.

Thứ tư, xây dựng bộ máy quản lý gọn nhẹ, với đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, liêm chính, có năng lực chuyên môn tinh thần sáng tạo, cởi mở, nhưng có khả năng kiểm soát rủi ro.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, có tri thức hiện đại, sáng tạo, có kỹ năng đáp ứng xu thế phát triển mới của kinh tế thế giới và Việt Nam, cũng như Quảng Ninh, có tính hành động, thực học, dám nghĩ, dám làm, chấp nhận thất bại để làm tốt hơn.

Thứ sáu, tập trung nguồn lực, cơ chế chính sách cho phát triển cơ sở hạ tầng cứng và mềm đồng bộ, hiện đại, có tầm nhìn và chất lượng, vận hành quản lý ứng dụng công nghệ cao.

Thứ bảy, xây dựng các thể chế cần thiết phục vụ tăng trưởng xanh, tài chính xanh, bảo vệ môi trường sinh thái gắn với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh./.


[1] ADB: “Asian Development Outlook 2020”, 2020, https://www.adb.org/publications/asian-development-outlook-2020.

[2] United Nations: “Covid-19: Towards an Inclusive, resilient and green recovery-building back better through regional cooperation”, 2021, https://repositorio.cepal.org/server/api/core/bitstreams/eaf2dc4a-05e5-4094-96bc-f505d7b12ca4/conten....

[3] Lin, Brian Chi-ang: “Institutional Failure and Sustainability Policy”, Journal of Econonmic Issues 55, No. 2, 2021, tr. 454 - 460

[4] Tự do kinh tế được đo lường bằng các chỉ tiêu: 1- Pháp quyền (quyền tài sản, liêm chính chính phủ, hiệu quả tư pháp); 2- Quy mô chính phủ (chi tiêu chính phủ, thuế, tài khóa); 3- Hiệu quả quản lý (tự do kinh doanh, tự do lao động, tự do tiền tệ); 4- Thị trường mở (tự do thương mại, tự do đầu tư và tự do tài chính).

[5] Jin Zhao - Ghulam Rasool Madni - Muhammad Awais Anwar - Syeda Masooma Zahra: “Institutional reforms and their impact on Economic Growth and Investment in Developing Countries”, Sustainability, 2021, 13, 4941, https://doi.org/10.3390/su13094941.

[6] Michael Pettis: “China’s economy needs Institutional Reform rather than additional captial deepening”, Carneige Endowmen for International Peace, ngày 24-7-2020, https://carnegieendowment.org/chinafinancialmarkets/82362.

[7] Anderson, Catherine and Marc De Tollenaere: Supporting institutional resilience, Development Co-operation Report 2020: Learning from Crises, Building Resilience, 2020.

[8] ADB: “Asian Development Outlook”, 2020, https://www.adb.org/publications/asian-development-outlook-2020.

[9] World Bank: “Institutional and Structural Reforms for a Stronger and More Inclusive Recovery: Policy Note for Mongolia”, 2020.

[10] Singhvi, Avishkar: “Institutional reform is key to post-Covid-19 national recovery”, Hindustan Times, Updated ngày 16-6-2021.

[11] World Bank: “Governance & Institutions COVID-19 Response Resources”,n.d.

[12] Brookings.edu: “How can Vietnam avoid the middle-income trap?”, 2019, https://www.brookings.edu/blog/future-development/2019/05/16/how-can-vietnam-avoid-the-middle-income....

[13] United Nations: “Taking a whole-of-government aproach”. In United Nations E-Government Survey 2012: E-Government for the People, 55-71, New York: United Nations, 2012.

[14] United Nations Development Programme: “Beyond Recovery: Towards 2030”,2020.

[15] King C.t. Duho - Mark Opolu Amankwa - I. Musah-Surugu: “Determinants and convergence of government effectiveness in Africa and Asia”, Public Administration and Policy, Issue 199, 2020.

[16]“Global effectiveness - Coutnry rankings”, Theglobaleconomy.com, 2021, https://www.theglobaleconomy.com/rankings/wb_government_effectiveness/.

[17] CECODES, VFF-CRT, RTA & UNDP: Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2020: Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân. Báo cáo nghiên cứu chính sách chung của Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Hỗ trợ cộng đồng (CECODES), Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Đào tạo cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (VFF-CRT), Công ty Phân tích Thời gian thực và Chương trình hát triển Liên hợp quốc (UNDP), Hà Nội, Việt Nam, 2021.

[18]“Public - sector organisations would be more efficient if they built planning and control systems based on results”,https://dobetter.esade.edu/en/measures-improve-public-sector-efficiency?_wrapper_format=html.

[19] OECD: Policy Response Covid-19, 2020.

[20] World Bank: Digital Vietnam: The Path to Tomorrow, Washington, DC: World Bank, 2021.

[21] Mckinsey: “What will it take to achieve Vietnam’s long-term growth aspirations?”, 2020, https://www.mckinsey.com/featured-insights/asia-pacific/.what-will-it-take-to-achieve-vietnams-long-....

[22] OECD: Multi-dimensional review of Viet Nam 2020.

[23] Mckinsey: “What will it take to achieve Vietnam’s long-term growth aspirations?”, Tlđd.

[24] IMF: “State owned enterprises in the time of Covid-19”, 2002, https://blogs.imf.org/2020/05/07/state-owned-enterprises-in-the-time-of-covid-19/.

[25] Abeam Consulting: “Key Success Factors of Digital Transformation in Southeast Asian Countries”, 2021.

[26] Mckinsey: “What will it take to achieve Vietnam’s long-term growth aspirations?”, Tlđd.

[27] World Bank: “Vibrant Vietnam Forging the Foundation of a High-Income Economy”, Main Report, 2020.

[28] Mckinsey: “What will it take to achieve Vietnam’s long-term growth aspirations?”, Tlđd.

[29] World Bank; Viet Nam 2035.

[30] ADB: “Asian Development Outlook, Tlđd.

[31] Mckinsey: “What will it take to achieve Vietnam’s long-term growth aspirations?”, Tlđd.

[32] Global Innovation Index 2020, 2020.

[33] PwC: “Time to Act Vietnam”, 2020.

[34] World Bank - OECD; “Review of Science, Technology and Innovation in Vietnam”, 2020, https://www.worldbank.org/content/dam/Worldbank/document/EAP/Vietnam/Vietnam-STI-review-executive-su...

[35] Ricardo Johnson: “Trade liberalization: the need for complementary domestic”, 2019, https://www.globaldev.blog/blog/trade-liberalization-need-complementary-domestic-policies.

[36] Ngoc Mai: “ADB approves US$4.6 million technical assistance for Vietnam’s private sector”, Hanoitimes, ngày 7-7-2021, http://hanoitimes.vn/adb-approves-us46-million-technical-assistance-for-vietnams-private-sector-3179....

[37] Yuki Fukuoka: “Global Strategic Studies Institute Monthly Report”, Mitsui & Co, tháng 6-2021, https://www.mitsui.com/mgssi/en/report/detail/__icsFiles/afieldfile/2021/08/02/2106c_fukuoka_e_1.pdf.

[38] Mckinsey: “What will it take to achieve Vietnam’s long-term growth aspirations?”, Tlđd.

[39] Ngoc Mai: “ADB approves US$4.6 million technical assistance for Vietnam’s private sector”, Tlđd.

[40] ADB: Asian Development Outlook 2020.

[41] Lauri Myllyvirta: “Most countries are making progress on phasing out coal - but not fast enough to offset China’s expansion”, Centre for Research on Energy and Clean Air (CREA), ngày 6-4-2021, https://energyandcleanair.org/most-countries-are-making-progress-on-phasing-out-coal/.

[42] Global Energy Monitor: “Boom and bust 2021: Tracking the Global Coal Plan Pipeline”, 2021, https://globalenergymonitor.org/wp-content/uploads/2021/04/BoomAndBust_2021_final.pdf

[43] Mckinsey: “What will it take to achieve Vietnam’s long-term growth aspirations?”, Tlđd

[44] Yuki Fukuoka: “Global Strategic Studies Institute Monthly Report”, Tlđd

[45] Do Bộ Ngoại giao phối hợp với Hiệp hội Nông nghiệp số Việt Nam và Báo điện tử Tin nhanh Việt Nam đồng tổ chức vào ngày 16-9-2021.

[46] Research and Market: “Global Digital Agriculture Market: Size & Forecast with Impact Analysis of Covid-19 (2021 - 2025”, 2021.

[47] GrantThornton trích dẫn World Development Report 2020, https://www.grantthornton.com.vn/insights/articles/Founders-insights/vietnams-high-income-ambitions-....

[48] Yuki Fukuoka: “Global Strategic Studies Institute Monthly Report”, Tlđd.

[49] UNCTAD: “Strengthening linkages between domestic and foreign direct investment in Africa”, Trade and Development Board, Fifty-seventh executive session, 2013.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Các thành tố của đổi mới quản trị nhà nước đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững và tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0: Thực tiễn quốc tế và hàm ý chính sách đối với Việt Nam, Quảng Ninh
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO