Bứt phá từ khoa học - công nghệ
Sau khi xác lập khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu”, trọng tâm đặt ra là cụ thể hóa chủ trương thành thể chế, chính sách và chương trình hành động khả thi. Từ Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đến Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và Chương trình hành động của Thành phố Hồ Chí Minh đều thể hiện sự chuyển dịch từ định hướng sang hành động bằng các mục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp cụ thể, tạo động lực phát triển trong kỷ nguyên số.

Cụ thể hóa bằng nghị quyết và chương trình hành động cụ thể
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” xác định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Nghị quyết cũng nêu rõ nguyên tắc phân vai, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, kiến tạo.
Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định mục tiêu quốc gia đến năm 2030 là: đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế trên 55%; quy mô kinh tế số tối thiểu 30% GDP; chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 2% GDP (trên 60% từ nguồn xã hội); chi ngân sách cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tối thiểu 3% tổng chi ngân sách hằng năm; nhân lực nghiên cứu khoa học đạt 12 người/vạn dân.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW khi xác lập khoa học công nghệ, đổi mới sáng taọ và chuyển đổi số là nền tảng của mô hình tăng trưởng mới, vì vậy yêu cầu đặt ra hiện nay không còn là tiếp tục khẳng định vai trò, mà là tổ chức triển khai thực chất, có trọng tâm, đầu ra và trách nhiệm rõ ràng.
Trọng tâm là chuyển từ quản lý theo đầu vào sang điều hành theo mục tiêu, sản phẩm và tác động thực tế đối với phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế cần khắc phục: “thể chế tạo động lực và phát triển khoa học và công nghệ còn nhiều bất cập; chưa tạo lập môi trường lành mạnh cho hoạt động khoa học và công nghệ phát triển phù hợp với thông lệ quốc tế...
Thiếu cơ chế, chính sách hữu hiệu để huy động nguồn lực của xã hội cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó có nguồn lực từ doanh nghiệp”. Đây chính là cơ sở lý luận để Nghị quyết số 57-NQ/TW và Chương trình hành động Đại hội XIV của Đảng đặt thể chế lên vị trí “điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước”.
Trên nền tảng đó, Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định, một trong những khâu đột phá là đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030: đóng góp của TFP vào tăng trưởng GRDP đạt 60%; kinh tế số chiếm 30 - 40% GRDP; tổng chi xã hội cho R&D đạt 2 - 3% GRDP, bố trí ít nhất 4 - 5% tổng chi ngân sách hằng năm cho khoa học, công nghệ, chuyển đổi số - đều là những chỉ tiêu được đặt cao hơn hoặc tương đương mặt bằng chung cả nước theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, phù hợp với vị thế đầu tàu của thành phố.
Để đưa nghị quyết vào cuộc sống, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Chương trình hành động số 03-CTrHĐ/TU, ngày 14-11-2025, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Trong đó, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một nhiệm vụ trọng tâm, hướng tới đẩy mạnh kinh tế số, xây dựng chính quyền số và xã hội số.
Trong thực tiễn, các mô hình cụ thể đã bắt đầu vận hành. Trung tâm Nghiên cứu vật liệu cấu trúc nano và phân tử (INOMAR) thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là tổ chức khoa học - công nghệ công lập đầu tiên cả nước được Thành phố phê duyệt tham gia Đề án xây dựng trung tâm nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Đại học Quốc gia Thành phố vào top 100 châu Á năm 2030; Tòa nhà Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh (SIHUB) vận hành theo mô hình hợp tác công - tư từ ngày 23-8-2025; Trung tâm Tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh - 1 trong 2 điểm đặt trụ sở của Trung tâm Tài chính quốc tế quốc gia - theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 của Quốc hội...
Tính đến nay, thành phố hiện có hơn 2.000 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chiếm gần 50% cả nước, hơn 450 tổ chức khoa học và công nghệ, 134 phòng thí nghiệm hiện đại và khoảng 20.000 chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực khoa học - công nghệ.
Theo bảng xếp hạng của StartupBlink công bố tháng 5-2025, thành phố đã vươn lên vị trí 110 thế giới về hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo - thứ hạng cao nhất từ trước đến nay và lần đầu tiên lọt top 5 khu vực Đông Nam Á.
Vẫn còn những “nút thắt” cần tháo gỡ
Dù đã có hệ thống văn kiện đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, quá trình hiện thực hóa mục tiêu bứt phá khoa học - công nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn đối diện với một số thách thức nhất định.
Thứ nhất, thể chế quản lý khoa học - công nghệ còn nặng tính hành chính, chưa tạo lập môi trường lành mạnh phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thứ hai, thiếu cơ chế huy động nguồn lực xã hội, nhất là từ doanh nghiệp. Nghị quyết số 57-NQ/TW yêu cầu khu vực tư nhân đóng góp trên 60% trong tổng mức chi 2% GDP cho R&D vào năm 2030, song hiện đầu tư của doanh nghiệp cả nước mới đạt khoảng 20.000 tỷ đồng/năm, chưa bằng 1/6 mục tiêu đề ra, trong khi ngân sách nhà nước vẫn chiếm tới 70 - 80% tổng đầu tư cho R&D.
Thứ ba, hạ tầng dữ liệu chưa hoàn thiện để chuyển đổi số toàn diện, nhất là khi thành phố vừa hợp nhất từ 3 địa phương với hệ thống dữ liệu, phần mềm quản lý khác nhau, đòi hỏi phải xây dựng lại chiến lược dữ liệu dùng chung ngay từ những tháng đầu vận hành.
Thứ tư, nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ nguồn vẫn còn thiếu và yếu. Cả nước hiện thiếu hụt gần 200.000 kỹ sư công nghệ thông tin so với nhu cầu thực tế, riêng lĩnh vực bán dẫn năng lực đào tạo trong nước mới đáp ứng khoảng 20% nhu cầu 5.000 - 10.000 kỹ sư mỗi năm và ngay tại Thành phố Hồ Chí Minh - địa phương có nền tảng đào tạo hàng đầu cả nước - vẫn đang thiếu hụt nhân lực trình độ cao ở 2 ngành trọng tâm là trí tuệ nhân tạo và bán dẫn.
Một số kiến nghị, giải pháp
Lần đầu tiên, các dự án hạ tầng chiến lược gắn với vai trò trung tâm tài chính - công nghệ của Thành phố Hồ Chí Minh được đưa trực tiếp vào Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV với mốc thời gian, cơ quan chủ trì và nguồn lực cụ thể, thay vì chỉ dừng ở chủ trương định hướng.
Đây là cơ sở để tin rằng, trong nhiệm kỳ 2026 - 2030, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ không còn là khẩu hiệu, mà trở thành động lực thực chất đưa Thành phố Hồ Chí Minh giữ vững vai trò đầu tàu phát triển của cả nước, hiện thực hóa khát vọng trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu Đông Nam Á vào năm 2030. Để hiện thực hoá khát vọng này, chúng ta nên:
Một là, hoàn thiện cơ chế tài chính cho khoa học - công nghệ, mạnh dạn thí điểm cơ chế khoán chi, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu có thể triển khai ngay tại các mô hình đã vận hành như INOMAR, SIHUB trước khi nhân rộng; đồng thời có chính sách khuyến khích, đồng tài trợ để thu hút nguồn lực xã hội, nhất là từ doanh nghiệp, tham gia đầu tư khoa học - công nghệ.
Hai là, đẩy nhanh tích hợp dữ liệu số giữa 3 khu vực, hình thành “bộ não số” chung của siêu đô thị, ưu tiên đồng bộ hóa ngay từ giai đoạn vận hành chính quyền địa phương 2 cấp.
Ba là, xây dựng chính sách đãi ngộ đặc thù để giữ chân và thu hút nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, ưu tiên 2 lĩnh vực đang thiếu hụt nghiêm trọng là trí tuệ nhân tạo và bán dẫn, nhất là tại các khu vực hợp nhất./.
