Chính trị - Thời sự

76 năm vun đắp quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga: Từ nền tảng vững chắc đến động lực phát triển mới

Hà Anh 08/09/2026 11:09

76 năm (1950 - 2026) kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam và Liên bang Nga đã xây dựng được nền tảng quan hệ đặc biệt dựa trên lịch sử, lòng tin chính trị và sự gắn bó giữa nhân dân 2 nước. Từ sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất và xây dựng đất nước của Việt Nam, quan hệ 2 nước phát triển thành Đối tác chiến lược toàn diện với mạng lưới hợp tác ngày càng sâu rộng, thực chất.

to-lam.jpg
Phó Thủ tướng Liên bang Nga Dmitry Chernyshenko đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân tại sân bay Vnukovo, Moscow, Liên bang Nga_Ảnh: TTXVN

Trong bối cảnh tình hình quốc tế biến động nhanh chóng và Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là giữ gìn những giá trị đã được vun đắp, mà còn phải chuyển hóa nền tảng tin cậy đó thành những động lực hợp tác mới.

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (từ ngày 7 - 9-9-2026) mang ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ một hoạt động đối ngoại cấp cao, mở ra cơ hội định hình những phương hướng hợp tác dài hạn, thực chất và hiệu quả hơn.

Từ tình hữu nghị đến đối tác chiến lược toàn diện

Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên bang Nga có điểm khởi đầu từ tình hữu nghị và sự ủng hộ lẫn nhau trong những giai đoạn lịch sử đặc biệt. Qua 76 năm, 2 nước từng bước xây dựng một khuôn khổ quan hệ dựa trên tin cậy chính trị, lợi ích thực chất và khả năng bổ trợ lẫn nhau, đưa quan hệ từ hữu nghị truyền thống lên Đối tác chiến lược và Đối tác chiến lược toàn diện.

Điểm đáng chú ý của chặng đường 76 năm là quan hệ Việt Nam - Nga đã vượt qua bước ngoặt có tính hệ thống khi Liên Xô tan rã. Việt Nam và Liên bang Nga không chỉ kế thừa những giá trị của quan hệ hữu nghị Việt Nam - Liên Xô, mà còn chủ động định hình lại quan hệ trên cơ sở phù hợp với môi trường quốc tế và lợi ích của 2 nước trong thời kỳ mới.

Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị năm 1994 tạo nền tảng pháp lý quan trọng; Tuyên bố về quan hệ đối tác chiến lược năm 2001 đánh dấu bước phát triển mới; và việc nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2012 thể hiện mức độ ngày càng sâu rộng của quan hệ song phương.

Cùng với những dấu mốc chính trị, 2 nước từng bước hình thành một hệ thống cơ chế hợp tác tương đối toàn diện. Từ năm 1991 đến nay, hơn 80 hiệp định, thỏa thuận và nghị định thư đã được ký kết, bao phủ nhiều lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, quốc phòng - an ninh đến khoa học - công nghệ, giáo dục, văn hóa và giao lưu nhân dân.

Các cơ chế như Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế - thương mại và khoa học - kỹ thuật, Đối thoại chiến lược giữa 2 Bộ Ngoại giao hay các cơ chế hợp tác giữa Quốc hội, các địa phương và tổ chức xã hội đã góp phần tạo ra tính liên tục cho quan hệ hợp tác song phương.

Nếu khuôn khổ pháp lý tạo nền tảng, tin cậy chính trị chính là tài sản đặc biệt làm nên độ bền vững của quan hệ hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga. Trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao giữa 2 nước được duy trì thường xuyên, từ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội đến các bộ, ngành và địa phương.

Việc Tổng thống Vladimir Putin nhiều lần thăm Việt Nam, trong đó có chuyến thăm cấp Nhà nước tháng 6-2024, cùng các cuộc tiếp xúc cấp cao trong những năm gần đây cho thấy tính liên tục của quan hệ chính trị song phương.

Trong quan hệ quốc tế, khi môi trường chiến lược biến động nhanh, khả năng duy trì đối thoại và giữ được kênh hợp tác ổn định là một nguồn lực quan trọng.

Việt Nam và Nga có nhiều điểm tương đồng trong cách tiếp cận đối với những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng giữa các quốc gia và đề cao đối thoại nhằm duy trì hòa bình, ổn định. Trên nền tảng đó, 2 nước duy trì phối hợp tại các diễn đàn đa phương, đồng thời tìm kiếm những lĩnh vực có thể thúc đẩy lợi ích chung.

Trong các lĩnh vực khác, quan hệ hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất. Hợp tác dầu khí là minh chứng rõ nét nhất. Liên doanh Vietsovpetro, được thành lập từ năm 1981, không chỉ là một biểu tượng của hợp tác Việt Nam - Liên Xô, mà còn trở thành một mô hình hợp tác kinh tế có tính bền vững giữa 2 nước.

Sau đó, việc hình thành Rusvietpetro tại Nga cho thấy hợp tác năng lượng đã phát triển theo hướng hai chiều: doanh nghiệp 2 nước cùng đầu tư, khai thác nguồn lực và chia sẻ lợi ích trên thị trường của nhau.

Các thỏa thuận mới về dầu khí, trong đó có việc kéo dài hoạt động của những liên doanh quan trọng và mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp 2 nước, tiếp tục cho thấy năng lượng vẫn là một trụ cột có khả năng tạo ra lợi ích dài hạn.

Nếu trong giai đoạn trước, quan hệ kinh tế phần nào gắn với vai trò hỗ trợ của Liên Xô đối với Việt Nam, thì hiện nay, nền tảng hợp tác ngày càng dựa trên lợi ích song phương và năng lực bổ sung cho nhau.

Việt Nam có thị trường năng động, vị trí kết nối với Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương; Nga có thế mạnh về năng lượng, công nghiệp, khoa học - công nghệ, giáo dục và một số lĩnh vực công nghệ cao. Đây là cơ sở để quan hệ kinh tế có thể mở rộng sang những lĩnh vực mới, thay vì chỉ dựa vào những ngành nghề truyền thống.

Việc 2 nước ký thỏa thuận liên Chính phủ về hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam tháng 3-2026 là một dấu hiệu đáng chú ý theo hướng đó. Hợp tác hạt nhân dân sự không chỉ liên quan đến một dự án năng lượng, mà còn kéo theo nhu cầu về đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học, công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị an toàn và chuỗi cung ứng công nghiệp.

Nếu được triển khai hiệu quả, đây có thể trở thành một trường hợp điển hình cho cách thức chuyển từ hợp tác truyền thống sang những lĩnh vực gắn với nhu cầu phát triển dài hạn của Việt Nam.

Bên cạnh dầu khí và năng lượng, mạng lưới hợp tác đang mở rộng sang nông nghiệp, công nghiệp, ngân hàng, khoa học - công nghệ, y tế, giáo dục và du lịch.

Các dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam tại Nga, hoạt động của Ngân hàng Liên doanh Việt - Nga, cũng như các dự án nông nghiệp và chế biến sữa của doanh nghiệp Việt Nam cho thấy dòng vốn và hoạt động kinh doanh giữa 2 nước đã có chiều hướng đa dạng hơn. Đây là cơ sở quan trọng để quan hệ kinh tế từng bước thoát khỏi mô hình hợp tác dựa chủ yếu vào một số dự án lớn.

Một nền tảng khác ít thể hiện trên các con số thương mại nhưng có ý nghĩa lâu dài là vốn xã hội được hình thành qua giáo dục, khoa học và giao lưu nhân dân.

Trong nhiều thập niên, hàng chục nghìn cán bộ, chuyên gia Việt Nam đã được đào tạo tại Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay. Những thế hệ này không chỉ tiếp nhận kiến thức chuyên môn, mà còn tạo nên một mạng lưới con người hiểu biết về đất nước, văn hóa và xã hội của nhau.

Hiện nay, hơn 3.000 sinh viên Việt Nam đang học tập tại Nga và mỗi năm Việt Nam dành khoảng 1.000 suất học bổng nhà nước cho sinh viên Nga sang học tập tại Việt Nam.

Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga, được thành lập năm 1988, cũng là một trường hợp đặc biệt của hợp tác khoa học 2 nước, với hoạt động nghiên cứu trong các lĩnh vực như y học, sinh thái và vật liệu.

Cùng với đó là các hoạt động giao lưu văn hóa, những ngày văn hóa của 2 nước, các chương trình nghệ thuật, trao đổi địa phương và sự hiện diện của cộng đồng người Việt tại Nga. Những kết nối này tạo ra một lớp nền xã hội tương đối bền vững cho quan hệ song phương.

Chính sự kết hợp giữa ký ức lịch sử, tin cậy chính trị, lợi ích thực chất và kết nối con người đã tạo cho quan hệ Việt Nam - Nga khả năng thích ứng trước những thay đổi của môi trường quốc tế.

Đây cũng là điểm khác biệt quan trọng: tình hữu nghị truyền thống tạo nên điểm xuất phát, nhưng để quan hệ tiếp tục phát triển trong thế kỷ XXI, nền tảng ấy phải được chuyển hóa thành năng lực hợp tác mới.

tong-thong-va-tong-bi-thu.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Nga Vladimir Putin tại cuộc hội đàm vào tháng 5-2025_Ảnh: Kremlin.ru

Mở rộng không gian hợp tác, tạo động lực phát triển mới

Nếu 76 năm quan hệ hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga đã tạo dựng một nền tảng đủ vững chắc về lịch sử, tin cậy chính trị, lợi ích kinh tế và kết nối nhân dân, thì yêu cầu đặt ra hiện nay là làm thế nào chuyển những nguồn lực đó thành động lực phát triển mới.

Trong bối cảnh cả Việt Nam và Liên bang Nga đều đứng trước những thay đổi nhanh của môi trường kinh tế, công nghệ và địa - chính trị, duy trì những khuôn khổ hợp tác truyền thống là cần thiết nhưng chưa đủ.

Do đó, ý nghĩa chuyến thăm Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là mở ra một giai đoạn hợp tác mới, trong đó nền tảng tin cậy chính trị được chuyển hóa thành những lĩnh vực, dự án và cơ chế hợp tác cụ thể, có chiều sâu và tầm nhìn dài hạn hơn.

Trước hết, chuyến thăm mang ý nghĩa như một dấu mốc mới trong quan hệ chính trị - đối ngoại giữa 2 nước. Từ khi Việt Nam và Liên bang Nga thiết lập quan hệ trong khuôn khổ mới sau năm 1991, đây là chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên tới Nga của người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam đồng thời trên 2 cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch nước.

Trong ngoại giao cấp cao, cấp độ và thời điểm của một chuyến thăm còn truyền tải thông điệp về mức độ ưu tiên của quan hệ. Việc chuyến thăm diễn ra trong giai đoạn Việt Nam đang triển khai những định hướng phát triển mới sau Đại hội XIV của Đảng càng cho thấy mong muốn tiếp tục củng cố và làm sâu sắc các quan hệ đối tác quan trọng trên cơ sở đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa.

Ở chiều ngược lại, sự quan tâm của lãnh đạo và các cơ quan truyền thông Nga đối với chuyến thăm cho thấy Nga cũng nhìn nhận Việt Nam như một đối tác quan trọng tại Đông Nam Á. Vì vậy, ý nghĩa trước tiên của chuyến thăm là củng cố lòng tin ở cấp chiến lược, tạo không gian chính trị thuận lợi để hai bên thảo luận những vấn đề cụ thể hơn.

Trong quan hệ song phương, nhất là khi môi trường quốc tế có nhiều biến động, một nền tảng chính trị ổn định có giá trị ở việc duy trì đối thoại thường xuyên, ở khả năng tạo điều kiện để các cơ chế hợp tác kinh tế, khoa học - công nghệ và giao lưu nhân dân được vận hành bền vững.

Trong nhiều năm, thương mại song phương được đánh giá chưa tương xứng với nền tảng chính trị và quy mô thị trường của 2 nước. Theo số liệu được công bố, kim ngạch thương mại Việt Nam - Nga năm 2025 đạt khoảng 4,77 tỷ USD, trong khi mục tiêu hai bên hướng tới là 15 tỷ USD trong trung hạn.

Khoảng cách này cho thấy dư địa phát triển còn lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra câu hỏi về những điểm nghẽn cần được tháo gỡ. Các ưu đãi thương mại trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á - Âu đã tạo điều kiện thuận lợi, song khả năng tận dụng thị trường, kết nối doanh nghiệp, logistics, thanh toán và hiểu biết về nhu cầu của nhau vẫn cần được cải thiện.

Do đó, động lực mới trước hết phải được thể hiện bằng một cách tiếp cận mới đối với hợp tác kinh tế. Đó là chuyển từ hợp tác dựa nhiều vào một số lĩnh vực truyền thống sang đa dạng hóa ngành nghề; từ trao đổi hàng hóa đơn thuần sang đầu tư, sản xuất và kết nối chuỗi cung ứng; từ những dự án riêng lẻ sang các chương trình hợp tác có tính dài hạn.

Điều này đặc biệt quan trọng bởi tiềm năng của 2 nền kinh tế không tự động chuyển thành kết quả nếu thiếu cơ chế kết nối. Nhiều chuyên gia cho rằng, quan hệ kinh tế không nhất thiết chỉ được thúc đẩy bởi một vài dự án quy mô rất lớn; một mạng lưới các dự án vừa và nhỏ, được triển khai bởi doanh nghiệp 2 nước trong nhiều lĩnh vực, có thể tạo ra nền tảng rộng và bền vững hơn.

Một vài dự án lớn có thể tạo dấu ấn, nhưng chính số lượng lớn các quan hệ kinh doanh thường xuyên mới tạo nên sức sống của thị trường và khả năng chống chịu của hợp tác kinh tế trước biến động bên ngoài.

Từ góc độ đó, làm mới hợp tác kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga không có nghĩa là thay thế những trụ cột cũ, mà là nâng cấp chúng và mở rộng sang những tầng hợp tác có giá trị gia tăng cao hơn.

Năng lượng vẫn sẽ giữ vai trò quan trọng trong quan hệ giữa 2 nước, nhưng không nên chỉ giới hạn ở dầu khí. Khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), các công nghệ năng lượng mới và đặc biệt là điện hạt nhân đang mở ra những khả năng hợp tác khác về chất.

Thỏa thuận liên Chính phủ về hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam được ký tháng 3-2026 là một ví dụ điển hình. Nếu dầu khí là lĩnh vực đã chứng minh khả năng hợp tác lâu dài của 2 nước thì điện hạt nhân có thể trở thành một trong những lĩnh vực định hình giai đoạn tiếp theo, bởi nó không chỉ liên quan đến sản xuất điện, mà còn bao gồm chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học, tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị an toàn, bảo đảm nhiên liệu và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Nói cách khác, đây là loại hình hợp tác có khả năng tạo ra hệ sinh thái hợp tác dài hạn, thay vì chỉ tạo ra một dự án đơn lẻ.

info-vn-nga-2026(1).jpg
Đồ họa: Thanh Hải

Tương tự, giáo dục và khoa học cũng cần được nhìn nhận theo hướng mới. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là đào tạo sinh viên Việt Nam tại Nga thì trong giai đoạn hiện nay, hợp tác có thể phát triển theo chuỗi đào tạo nhân lực - nghiên cứu chung - phát triển công nghệ - chuyển giao - thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Cách tiếp cận này phù hợp với nhu cầu nâng cao năng lực khoa học - công nghệ của Việt Nam và đồng thời khai thác những thế mạnh của Nga trong khoa học cơ bản, kỹ thuật, năng lượng, vũ trụ và một số ngành công nghệ chuyên sâu.

Đây cũng là không gian quan trọng để mở rộng quan hệ sang những lĩnh vực mới. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghệ cao, vũ trụ, hàng hải, đường sắt, y tế và dược phẩm đều có thể trở thành những hướng hợp tác tiềm năng.

Vấn đề cốt lõi là xác định được những lĩnh vực mà Nga có lợi thế công nghệ, Việt Nam có nhu cầu phát triển và hai bên có khả năng cùng tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc chuỗi giá trị.

Đó mới là tiêu chí để phân biệt giữa mở rộng hợp tác về mặt hình thức và tạo ra động lực phát triển thực chất. Chẳng hạn, hợp tác khoa học - công nghệ chỉ tạo ra giá trị lớn khi kết quả nghiên cứu có thể đi tiếp đến đào tạo nhân lực, thử nghiệm, chuyển giao và ứng dụng trong sản xuất.

Hợp tác đường sắt, hàng hải hay vũ trụ cũng cần được cụ thể hóa bằng dự án, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế tài chính và nguồn nhân lực tương ứng.

Vì vậy, chuyến thăm Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa quan trọng ở chỗ tạo động lực chính trị để hai bên xác định lĩnh vực ưu tiên, đồng thời thúc đẩy việc xây dựng các cơ chế triển khai.

Một động lực khác có ý nghĩa lâu dài là giao lưu nhân dân và kết nối thế hệ trẻ. Việc 2 nước xác định năm 2026 là Năm Hợp tác song phương về khoa học và giáo dục có ý nghĩa vượt ra ngoài một chương trình kỷ niệm.

Đây là cơ hội để kết nối đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo với giao lưu thanh niên, qua đó tạo ra những mối liên hệ mới dựa trên tri thức và lợi ích nghề nghiệp.

Du lịch và hàng không cũng đang tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình này. Lượng khách Nga đến Việt Nam tăng mạnh, cùng với việc duy trì và mở rộng các đường bay trực tiếp, cho thấy giao lưu nhân dân 2 nước có khả năng phục hồi và phát triển nhanh.

Khi việc đi lại thuận tiện hơn, quan hệ song phương sẽ không chỉ được cảm nhận ở cấp Chính phủ hay doanh nghiệp mà ngày càng hiện diện trong đời sống xã hội.

Quan hệ Việt Nam - Nga đã có nền tảng vững chắc qua 76 năm, nhưng giá trị của nền tảng ấy chỉ được phát huy đầy đủ khi tạo ra những động lực hợp tác mới.

Chuyến thăm Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là cơ hội để hai bên chuyển sự tin cậy chính trị thành các chương trình, dự án và kết quả cụ thể, đưa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện đi vào chiều sâu và phù hợp hơn với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        76 năm vun đắp quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga: Từ nền tảng vững chắc đến động lực phát triển mới
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO