Văn hóa - Xã hội

Tỉnh Khánh Hoà: Từ quá trình hội lưu văn hóa đến nguồn lực phát triển bền vững

Trương Huyền • 01/11/2026 13:32

Mảnh đất Khánh Hòa là địa điểm hội lưu của nhiều dòng văn hóa trong thời gian dài, gắn với quá trình cộng cư, giao lưu và tiếp biến giữa người Việt, người Chăm và các dân tộc anh em, đồng thời hòa hợp cùng những giá trị văn hóa đặc sắc của cư dân miền biển. Sự hội tụ ấy tạo nên diện mạo văn hóa đa dạng, giàu bản sắc, vừa phản ánh chiều sâu lịch sử, vừa chứa đựng tiềm năng và nguồn lực nội sinh cho phát triển hiện đại.

khanh-hoa-1.jpg
Thành cổ Diên Khánh - di tích văn hóa mang tính trải nghiệm và giáo dục_Ảnh: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam

Dấu mốc hội tụ lịch sử gần 400 năm

Lịch sử vùng đất Khánh Hòa trải qua nhiều thế kỷ với những biến động gắn liền với tiến trình lịch sử dân tộc. Đến trước thế kỷ XIV, địa phận lãnh thổ Đại Việt đến tỉnh Quảng Trị ngày nay, phía Nam là vương quốc Champa.

Năm 1306, Vua Champa là Chế Mân đã dâng 2 châu Ô - Lý (châu Thuận và châu Hóa) làm sính lễ dẫn cưới công chúa Huyền Trân (từ Quảng Trị đến Bắc sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam). Sau sự kiện này, người Việt lần lượt di cư vào châu Thuận và châu Hóa và cùng người Chăm khai đất lập làng sinh sống.

Năm 1471, Vua Lê Thánh Tông tiến hành cuộc “bình Chiêm”, sau đó, vùng đất Quảng Nam (từ núi Hải Vân vào đến núi Đá Bia, tỉnh Phú Yên) trở thành Đạo Thừa tuyên thứ 13 của quốc gia Đại Việt. Đến năm 1558, Đoan Quận công Nguyễn Hoàng trực tiếp trấn thủ đất Thuận Hóa, rồi kiêm trấn thủ Quảng Nam (năm 1570).

Trong hành trình mở mang bờ cõi đất nước về phương Nam của cha ông ta, “Hoàng đế Nguyễn Phúc Tần năm thứ 5 là năm Quý Tỵ (1653) sai Cai Cơ Hùng Lộc đánh dẹp. Người Chiêm hàng, do đấy chiếm lấy đất từ sông Phan Rang trở về phía đông đến địa giới Phú Yên, đặt dinh Thái Khang gồm 2 phủ Thái Khang, Diên Ninh và 5 huyện Quảng Phúc, Tân Định, Phúc Điền, Vĩnh Xương, Hoa Châu”(1).

Như vậy, với việc đặt dinh Thái Khang và phân chia các đơn vị hành chính, chúa Nguyễn đã đưa vùng đất Khánh Hòa ngày nay hội nhập vào lãnh thổ Ðại Việt. Sự kiện này được xem là dấu mốc quan trọng trong quá trình hình thành địa giới hành chính của tỉnh Khánh Hòa ngày nay.

Trong chặng đường dài lịch sử đó, vùng đất này được nhiều lần đổi tên, thay đổi địa giới tuỳ theo mục đích của chính quyền quân chủ, thực dân qua các thời kỳ.

Tháng 10-1832 (năm Minh Mạng thứ 13), triều Nguyễn thực hiện cuộc cải cách hành chính lần thứ 2, thành lập 31 tỉnh trên toàn quốc, trong đó, “chia tỉnh hạt gọi là tỉnh Khánh Hòa”(2).

khanh-hoa-2.jpg
Di tích quốc gia đặc biệt Tháp Bà Ponagar Nha Trang_Ảnh: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam

Sự đa dạng bản sắc văn hóa

Tỉnh Khánh Hòa nằm ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, sườn Đông của bán đảo Đông Dương, gần nhất với con đường hàng hải huyết mạch xuyên Biển Đông, có vị thế chiến lược về kinh tế và quốc phòng - an ninh.

Đây là vùng kinh tế trọng điểm kết nối khu vực Nam Trung Bộ với Nam Tây Nguyên. Đặc điểm địa hình tiêu biểu của Khánh Hòa là núi chạy sát biển nên bờ biển có dạng răng cưa, xen kẽ các vụng biển là đảo, quần đảo ven bờ dày đặc. Các cồn cát và bàu nước ngọt góp phần tạo nên hệ sinh thái đa dạng, mang đặc trưng riêng của địa phương.

Cùng với khí hậu ôn hòa, mảnh đất Khánh Hòa chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, đặc sắc, nổi tiếng với yến sào, trầm hương, nhiều loài hải sản quý hiếm cùng các sản phẩm nông nghiệp độc đáo, như sầu riêng, nho, táo, tỏi, nha đam, ớt, cừu, bò…

Những điều trên làm cho nơi đây trở thành điểm đến đặc biệt của du khách, nhiều người đến làm việc, sinh sống và quyết định định cư ở đây như quê hương thứ hai.

Văn hóa phi vật thể ở Khánh Hòa mang đậm yếu tố biển, thể hiện qua phong tục tập quán của người đi biển, qua truyền thuyết, huyền thoại, nghi lễ, loại hình diễn xướng dân gian, nghề thủ công truyền thống.

Nội dung phản ánh khát vọng sống của cộng đồng cư dân miền biển, được lưu truyền, biến tấu bằng nhiều phương thức khác nhau như truyền khẩu, mô phỏng, bắt chước…

Ngoài ra, các lễ hội mang nhiều yếu tố biển như lễ hội cầu ngư, thờ cúng cá ông, hò bá trạo, cúng lỗ lường, lễ hội vía Bà, múa bóng,… là những sinh hoạt vừa mang tính tâm linh, vừa mang yếu tố văn hóa biển vô cùng đặc sắc của cư dân nơi đây với những điểm tương đồng với cư dân vùng Nam Trung bộ.

Trong không gian tự nhiên và văn hóa này, trải qua biến thiên của lịch sử, các tộc người đã hội cư, cộng cư tạo ra nhiều dòng người, nhiều lớp văn hóa nơi đây.

Mảnh đất Khánh Hòa có nhiều dân tộc anh em cùng đoàn kết chung sống qua nhiều thế hệ, trong đó có người Raglai, sống tập trung ở vùng núi cao (chiếm khoảng 50% người Raglai ở Việt Nam). Trong nhóm người Mã Lai - Đa Đảo, người Raglai còn duy trì được nhiều truyền thống văn hóa cổ, quý giá (3).

Đây vốn là địa bàn cư trú của người Chăm, vì vậy còn lưu giữ nhiều dấu tích văn hóa Champa (tháp Chàm, điêu khắc đá, tín ngưỡng, tôn giáo, sản xuất, đời sống cũng như tên làng, tên đất), tạo nên nét đặc sắc vùng văn hóa Nam Trung bộ, minh chứng quá trình tiếp biến văn hóa Việt - Chăm.

Từ truyền thống mẫu hệ của người Chăm, văn hóa Khánh Hòa luôn bền rễ trước sự xâm nhập của ít nhất 3 ảnh hưởng phụ hệ Trung Hoa, Ấn Độ, Pháp.

Cũng tại mảnh đất này, quá trình cộng cư và hòa cư diễn ra trong thời gian dài. Người Việt đã giao lưu, tiếp nhận và chuyển hóa những giá trị văn hóa của các cộng đồng dân tộc, góp phần hình thành bản sắc văn hóa phong phú, đặc sắc.

Vì vậy, một trong những đặc trưng văn hóa Khánh Hòa là sự ảnh hưởng và đan xen những sắc thái văn hóa giữa người Việt với người Chăm, người Raglai và với cả người Hoa, mà trong đó văn hóa của người Việt là chủ thể của quá trình tiếp biến.

Có thể nói, “Khánh Hòa là vùng đất đặc biệt, kết tụ giữa núi lửa, biển sâu, tạo nên linh khí của trời đất. Trên núi có trầm hương, kỳ nam, ngoài biển có yến sào. Yến sào giúp bồi bổ sức khỏe còn trầm hương lại bồi bổ tinh thần, là hương thơm kỳ lạ có tính chất kết nối, được các tôn giáo lớn chấp nhận”(4).

Đến nay, sau sáp nhập, tỉnh Khánh Hòa mới có dân số khoảng 2,3 triệu người với hơn 36 dân tộc đang sinh sống, như Kinh, Chăm, Raglai, Hoa, Êđê, Cơho, Tày, Nùng, Mường, Thái, Khmer, Thổ…

Người dân nơi đây phát huy những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam, như yêu nước, yêu thương con người, sống có ý nghĩa và tình cảm, cần cù, thông minh, sáng tạo và lòng ham học hỏi...

Sự hội lưu văn hóa ở Khánh Hòa không chỉ tạo ra sự kết nối giữa các truyền thống văn hóa, mà còn thúc đẩy sáng tạo và khả năng tiếp nhận những giá trị mới của đời sống xã hội hiện đại.

khanh-hoa-3.jpg
Biểu diễn văn nghệ ở làng Chăm Hữu Đức (xã Phước Hữu)_Ảnh: Báo Khánh Hoà online

Để văn hoá trở thành nguồn lực phát triển bền vững

Thời gian tới, tỉnh Khánh Hòa cần đổi mới phương thức khai thác các giá trị văn hóa theo hướng gắn bảo tồn di sản với phát triển du lịch chất lượng cao và kinh tế sáng tạo.

Nghiên cứu, xây dựng bản đồ số hội lưu văn hóa tỉnh Khánh Hòa, trong đó, tích hợp hệ thống dữ liệu về di tích, địa danh lịch sử, kiến trúc, lễ hội, tín ngưỡng, làng nghề, nghệ thuật dân gian và các tuyến giao lưu văn hóa Việt - Chăm - Raglai.

Mỗi địa điểm sẽ được giới thiệu bằng hình ảnh, đồng thời thể hiện câu chuyện lịch sử, sự hình thành các giá trị văn hóa và mối liên hệ với những địa bàn khác.

Có thể xem xét tổ chức mạng lưới tham quan di sản theo các chủ đề liên kết, như hành lang văn hóa biển và giao thương; hành lang văn hóa Raglai, Chăm gắn với miền núi và tri thức bản địa; tuyến di sản lịch sử gắn với quá trình hình thành các cộng đồng cư dân.

Đẩy mạnh giáo dục lịch sử, văn hóa và truyền thống quê hương trong nhà trường, gia đình và cộng đồng. Tập trung phát huy giá trị của các di tích văn hóa Chăm, lễ hội cầu ngư, tín ngưỡng thờ cá Ông, nghệ thuật diễn xướng dân gian, nghề thủ công truyền thống và tri thức bản địa.

Khuyến khích nghệ nhân, người nắm giữ tri thức bản địa, hộ sản xuất truyền thống, hợp tác xã và doanh nghiệp cùng tham gia xây dựng sản phẩm, tổ chức trải nghiệm văn hóa và phát triển dịch vụ.

Mặt khác, bên cạnh mở rộng địa giới quản lý, tỉnh cần hướng tới hình thành một cấu trúc liên kết văn hóa, trong đó mỗi địa bàn vừa phát huy bản sắc riêng, vừa bổ sung giá trị cho toàn bộ không gian văn hóa chung.

Nghiên cứu xây dựng hệ chỉ số phản ánh khả năng chuyển hóa vốn văn hóa thành lợi ích xã hội và kinh tế để tránh tình trạng đánh giá hiệu quả phát triển văn hóa chủ yếu bằng số lượng lễ hội, di tích được tu bổ hoặc lượt khách tham quan.

Trong đó phản ánh các tiêu chí, như mức độ duy trì di sản, số người thực hành và truyền dạy, khả năng tiếp nối của các loại hình văn hóa có nguy cơ mai một; mức độ tham gia vào quản lý di sản, số sinh kế được tạo ra và sự hưởng lợi của người dân; mức độ tham gia của doanh nghiệp địa phương và khả năng hình thành các ngành nghề sáng tạo; sự giao lưu giữa các cộng đồng, cơ hội tiếp cận các hoạt động văn hóa và sự tôn trọng khác biệt văn hóa

Ứng dụng công nghệ số trong lưu trữ, giới thiệu và quảng bá di sản, mở rộng khả năng tiếp cận văn hóa của công chúng trong nước và quốc tế. Phối hợp giữa cơ quan quản lý văn hóa, doanh nghiệp du lịch, cơ sở nghiên cứu và cộng đồng dân cư trong xây dựng sản phẩm, quảng bá hình ảnh địa phương và phân phối lợi ích từ hoạt động du lịch.

Xây dựng đồng bộ thiết chế văn hóa cơ sở, phát triển phong trào văn hóa nghệ thuật quần chúng trên địa bàn tỉnh. Chú trọng công tác bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, giữ gìn những giá trị văn hóa mang tính chất “hồn cốt” của dân tộc, của quê hương Khánh Hòa./.


(1 ) Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, tập 3 (Viện Sử học phiên dịch và chú giải), Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2006, tr. 102
(2 ) Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, tập 3 (Viện Sử học phiên dịch và chú giải), Sđd, tr. 102
( 3) Xem: Phan Xuân Biên - Phan An - Phan Văn Dốp - Võ Công Nguyên - Nguyễn Văn Huệ: Văn hóa và xã hội người Raglai ở Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998
( 4) Thanh Hà, Thái Bình: Tính cách hiền hòa là “điểm vàng” để người Khánh Hòa vươn xa, VOV, ngày 1-4-2023

Trương Huyền