Kinh tế và Hội nhập

Bắc Ninh tháo gỡ “nút thắt” xử lý nước thải, tạo nền tảng cho phát triển xanh

Nguyễn Thị Bích Hạnh, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững • 14/10/2026 14:24

Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng, đồng thời đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hạ tầng môi trường. Với một địa bàn tập trung nhiều khu, cụm công nghiệp, làng nghề và các khu đô thị, xử lý nước thải không chỉ là vấn đề môi trường mà ngày càng trở thành một điều kiện bảo đảm chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Nhận diện những khoảng trống còn tồn tại, thành phố Bắc Ninh đang từng bước hoàn thiện hệ thống thu gom, xử lý nước thải, tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn tại cụm công nghiệp, làng nghề và khu dân cư, qua đó tạo nền tảng cho phát triển theo hướng xanh và bền vững hơn.

f140b509-99e0-4126-b851-3088fd3d39fd.jpg
Đoàn giám sát hệ thống xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Thuận Thành_Ảnh: PV

Áp lực từ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa

Phát triển công nghiệp là một trong những động lực quan trọng tạo nên quy mô và sức cạnh tranh của kinh tế Bắc Ninh. Sau sáp nhập, không gian công nghiệp của thành phố được mở rộng đáng kể.

Tính đến tháng 9-2026, thành phố có 33 khu công nghiệp được thành lập, với tổng diện tích khoảng 10.171ha; trong đó 20 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động.

Đáng chú ý, các khu công nghiệp đang hoạt động đều đã được đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung, bảo đảm nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra môi trường. Đây là nền tảng quan trọng để hoạt động sản xuất công nghiệp gắn chặt hơn với yêu cầu bảo vệ môi trường.

Nếu tại 20 khu công nghiệp đang hoạt động, hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung đã được đầu tư đầy đủ, thì tại các cụm công nghiệp, việc hoàn thiện hạ tầng xử lý nước thải vẫn còn những khoảng trống.

Bắc Ninh hiện có 94 cụm công nghiệp đã được hình thành theo các quyết định thành lập, chấp thuận đầu tư hoặc quy hoạch chi tiết; 67 cụm đã hoàn thành đầu tư hạ tầng kỹ thuật và đi vào hoạt động. Trong số này, mới có 41 cụm đầu tư trạm xử lý nước thải tập trung, còn 26 cụm chưa có công trình xử lý tập trung.

Khoảng trống này đáng lưu ý bởi phần lớn các cụm công nghiệp trên địa bàn được hình thành trước năm 2022. Trong 19 cụm chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung do ủy ban nhân dân cấp xã làm chủ đầu tư, có tới 16 cụm có tỷ lệ lấp đầy trên 80%, nghĩa là phần lớn diện tích sản xuất trong các cụm này đã được khai thác.

Một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã tự đầu tư công trình xử lý nước thải riêng. Tuy nhiên, việc các cơ sở tự xử lý và xả thải làm tăng yêu cầu kiểm soát chất lượng nước thải, đồng thời gây khó khăn cho việc quản lý thống nhất trong toàn cụm.

Đây là một trong những vấn đề phát sinh từ quá trình phát triển qua nhiều giai đoạn. Nhiều cụm công nghiệp ra đời trong giai đoạn yêu cầu về hạ tầng môi trường chưa được đặt ra đầy đủ như hiện nay; sản xuất phát triển và tỷ lệ lấp đầy tăng nhanh hơn khả năng bổ sung các công trình bảo vệ môi trường.

Tại 14 cụm công nghiệp đã lấp đầy 100%, quỹ đất không còn để bố trí hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung. Việc cải tạo hoặc bổ sung công trình trong điều kiện mặt bằng hạn hẹp vừa đòi hỏi chi phí lớn, vừa khó tổ chức đấu nối đồng bộ với các cơ sở đang hoạt động.

Nếu các khu, cụm công nghiệp thể hiện sức ép môi trường từ quá trình công nghiệp hóa, tại các làng nghề, bài toán xử lý nước thải lại gắn với đặc điểm sản xuất nhỏ lẻ, phân tán và xen kẽ trong khu dân cư.

Bắc Ninh hiện có 27 làng nghề và làng nghề truyền thống, hoạt động trong nhiều lĩnh vực như mây tre đan, tranh dân gian, điêu khắc gỗ mỹ nghệ, gốm sứ, chế biến thực phẩm, nấu rượu, sản xuất đồ mộc...

Hai làng nghề tại phường Vân Hà đã được bố trí vốn đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung công suất 1.500m³/ngày. Tuy nhiên, tại nhiều làng nghề khác chưa có hệ thống xử lý tập trung, nước thải sản xuất mới chủ yếu được xử lý sơ bộ trước khi thải ra môi trường.

Đặc trưng sản xuất theo hộ gia đình khiến việc giải quyết vấn đề môi trường ở khu vực này không thể đơn giản áp dụng mô hình của một khu công nghiệp tập trung.

Nguồn thải xuất phát từ nhiều cơ sở, khối lượng biến động theo quy mô và thời vụ; nhiều hộ còn sử dụng thiết bị, công nghệ cũ, trong khi khả năng tài chính không đủ để đầu tư hệ thống xử lý riêng hoàn chỉnh. Nước thải tại một số nơi chưa được xử lý hoặc xử lý chưa triệt để, còn xả vào hệ thống sông, kênh, mương.

Sức ép còn hiện diện ở khu vực đô thị và nông thôn. Báo cáo của Đảng ủy Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Ninh tháng 9-2026 cho thấy, trên địa bàn có 3 nhà máy xử lý nước thải tập trung đang hoạt động, bên cạnh một số trạm xử lý nước thải của các khu đô thị, khu dân cư.

Tuy nhiên, còn có khu đô thị, khu dân cư chưa có trạm xử lý nước thải tập trung, theo đó nước thải vẫn theo hệ thống thoát nước công cộng ra ao, hồ, sông, ngòi mà chưa được xử lý đầy đủ.

Thực tế trên cho thấy, vấn đề Bắc Ninh phải giải quyết hiện nay không đơn thuần là xây thêm một số công trình xử lý nước thải. Đó là yêu cầu từng bước thu hẹp khoảng cách giữa tốc độ mở rộng sản xuất, đô thị hóa với tốc độ hoàn thiện hạ tầng môi trường.

Từ góc độ phát triển xanh, đây là mối quan hệ cần được xử lý hài hòa: tăng trưởng kinh tế phải đi cùng năng lực kiểm soát các nguồn thải phát sinh; lợi ích từ công nghiệp hóa, đô thị hóa cần đồng thời tạo nguồn lực để giải quyết những tác động môi trường do chính quá trình phát triển đó tạo ra.

5a1ec4f5-81fc-44a2-a466-8459f0e365db.jpg
Thành ủy Bắc Ninh tổ chức hội nghị xem xét đánh giá thực trạng và tìm giải pháp xử lý tiêu thoát nước cho các khu công nghiệp trong năm 2026_Ảnh: PV

Từng bước tháo gỡ những “điểm nghẽn” về hạ tầng xử lý

Điểm đáng chú ý là những hạn chế trong xử lý nước thải đã được thành phố nhìn nhận khá cụ thể, không chỉ dừng ở việc xác định số công trình còn thiếu mà đi sâu hơn vào nguyên nhân của từng nhóm vấn đề.

Với các cụm công nghiệp hình thành từ lâu, khó khăn lớn là quỹ đất và khả năng đấu nối. Với làng nghề, trở ngại lại nằm ở tính nhỏ lẻ, phân tán của sản xuất và chi phí xử lý vượt khả năng của nhiều hộ.

Ở một số khu đô thị, khu dân cư, lại xuất hiện tình trạng trạm xử lý đã được đầu tư nhưng chưa vận hành hiệu quả do dân cư còn ít, lượng nước thải không đủ cho công suất thiết kế hoặc công tác quản lý sau đầu tư chưa tốt, dẫn tới công trình xuống cấp, hư hỏng.

Việc nhận diện đúng đặc điểm của từng khu vực có ý nghĩa quan trọng bởi bài toán xử lý nước thải không thể giải quyết bằng một mô hình duy nhất.

Thành phố Bắc Ninh đã xác định trước mắt tập trung xử lý 26 cụm công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, 8 cụm chưa hoàn thiện thủ tục môi trường và 8 làng nghề chưa có phương án bảo vệ môi trường được phê duyệt.

Định hướng là xây dựng kế hoạch khắc phục riêng cho từng cụm công nghiệp, từng làng nghề, trong đó xác định cụ thể danh mục công việc, thứ tự ưu tiên, nguồn vốn, cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp và thời hạn hoàn thành.

Đối với các cụm công nghiệp còn quỹ đất, yêu cầu đặt ra là khẩn trương bố trí địa điểm và đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom nước thải, thoát nước mưa và xử lý nước thải tập trung.

Riêng 14 cụm đã lấp đầy 100%, không còn quỹ đất, thành phố đặt vấn đề lựa chọn các giải pháp linh hoạt hơn, như cải tạo, mở rộng công trình hiện có, bố trí công trình ngoài ranh giới hoặc liên kết xử lý; đồng thời tăng cường kiểm soát hoạt động của các hệ thống xử lý riêng tại từng cơ sở thứ cấp.

Cách tiếp cận này cho thấy việc hoàn thiện hạ tầng môi trường không chỉ được nhìn dưới góc độ đầu tư xây dựng mới. Trong điều kiện không gian phát triển đã định hình, đặc biệt tại các cụm công nghiệp cũ, giải pháp cần kết hợp giữa bổ sung hạ tầng, liên kết xử lý và nâng cao hiệu quả quản lý.

Đây cũng là hướng xử lý thực tế hơn so với yêu cầu áp dụng cứng một mô hình xử lý tập trung trong những nơi không còn đủ điều kiện về mặt bằng.

Đối với làng nghề, thành phố định hướng tổ chức thu gom, xử lý nước thải tại các khu vực sản xuất giấy, kim loại, tái chế; xây dựng mô hình xử lý nước thải quy mô cụm hộ phù hợp với đặc điểm sản xuất nhỏ lẻ.

Cùng với đầu tư giải pháp kỹ thuật là yêu cầu siết chặt kỷ cương môi trường: các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng phải bị đình chỉ; chỉ những cơ sở đáp ứng đầy đủ yêu cầu về đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường và phòng cháy, chữa cháy mới được phép hoạt động.

Đây là hướng đi cần thiết để từng bước giải quyết mối quan hệ lâu nay giữa duy trì sinh kế, bảo tồn giá trị làng nghề với yêu cầu bảo vệ môi trường.

Không thể phủ nhận những đóng góp của làng nghề đối với việc làm, thu nhập và đời sống cộng đồng, nhưng cũng không thể để chi phí môi trường tiếp tục chuyển sang cộng đồng dân cư và các thế hệ sau.

Bài toán, vì vậy, không chỉ là xử lý nước thải, mà rộng hơn là tổ chức lại không gian và phương thức sản xuất phù hợp với những yêu cầu phát triển mới.

Đối với khu vực đô thị và khu dân cư, Bắc Ninh xác định tiếp tục duy trì hoạt động, từng bước mở rộng và nâng công suất các nhà máy xử lý nước thải tập trung theo quy hoạch.

Đặc biệt, các dự án khu đô thị, khu dân cư mới được yêu cầu đầu tư đồng bộ hệ thống thoát nước, tách riêng nước mưa với nước thải, đồng thời có hệ thống thu gom, xử lý nước thải trước khi đưa dân cư vào sinh sống.

Tại những khu vực không thể thu gom về nhà máy tập trung hoặc khó tách riêng nước mưa và nước thải, thành phố định hướng nghiên cứu ứng dụng các công nghệ sinh học để xử lý cục bộ tại nguồn.

Đây là điểm có ý nghĩa lâu dài. Nếu những tồn tại hiện nay phần lớn bắt nguồn từ việc sản xuất và đô thị phát triển trước, hạ tầng môi trường bổ sung sau, thì với các không gian phát triển mới, nguyên tắc cần được đảo lại: hạ tầng xử lý nước thải phải trở thành một cấu phần bắt buộc ngay từ khi lập quy hoạch, lựa chọn nhà đầu tư và triển khai dự án.

Làm được như vậy sẽ hạn chế việc phải dành nguồn lực rất lớn để khắc phục những khoảng trống hạ tầng trong tương lai.

Cùng với giải pháp kỹ thuật, một vấn đề quan trọng khác là nguồn lực. Thành phố xác định cần quan tâm bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và dự toán ngân sách hằng năm cho các công trình bảo vệ môi trường cấp bách tại cụm công nghiệp, làng nghề và khu dân cư; ưu tiên hệ thống thu gom, xử lý nước thải, quan trắc môi trường, xử lý các điểm ô nhiễm nghiêm trọng và hỗ trợ di dời, chuyển đổi nghề.

Trong tiến trình hướng tới mô hình tăng trưởng xanh, đầu tư cho hạ tầng môi trường cần được nhìn nhận không chỉ như một khoản chi để xử lý hậu quả của phát triển, mà là đầu tư trực tiếp cho chất lượng phát triển.

Một hệ thống thu gom, xử lý nước thải đồng bộ giúp giảm áp lực lên sông, hồ và môi trường sống; đồng thời tạo điều kiện để các khu, cụm công nghiệp nâng cao tiêu chuẩn hạ tầng, doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn những yêu cầu ngày càng cao về môi trường trong sản xuất và chuỗi cung ứng.

Bắc Ninh vẫn còn không ít việc phải làm để khắc phục những tồn tại kéo dài qua nhiều giai đoạn phát triển. Khoảng trống về hạ tầng xử lý tại một số cụm công nghiệp, làng nghề và khu dân cư không thể giải quyết trong thời gian ngắn, nhất là ở những nơi không còn quỹ đất hoặc sản xuất đã xen sâu vào khu dân cư.

Tuy nhiên, việc chỉ rõ từng nhóm vấn đề, nguyên nhân và xây dựng giải pháp theo từng loại hình cho thấy hướng tiếp cận đang dần chuyển từ xử lý tình huống sang chủ động hoàn thiện hạ tầng môi trường.

Để những giải pháp này phát huy hiệu quả, cùng với nguồn lực đầu tư cần tiếp tục gắn trách nhiệm của chủ đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và chính quyền địa phương với các mốc tiến độ cụ thể; tăng cường kiểm tra việc vận hành các công trình sau đầu tư; đồng thời coi khả năng thu gom, xử lý nước thải là một tiêu chí quan trọng trong xem xét chất lượng của các không gian công nghiệp và đô thị mới.

Khi tăng trưởng kinh tế được đặt trong giới hạn của năng lực môi trường và hạ tầng xử lý được chuẩn bị đồng bộ ngay từ đầu, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mới có điều kiện phát triển bền vững hơn.

Xử lý nước thải, vì thế, không phải câu chuyện nằm bên ngoài phát triển kinh tế. Với một thành phố có tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa cao như Bắc Ninh, giải quyết tốt bài toán này chính là một bước quan trọng để nâng chất lượng tăng trưởng, cải thiện môi trường sống và tạo thêm nền tảng cho mục tiêu phát triển xanh trong những năm tới./.

Nguyễn Thị Bích Hạnh, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững