Kinh tế và Hội nhập

Khuyến khích và bảo vệ đảng viên tham gia phát triển kinh tế tư nhân

TS Nguyễn Minh Phong, Thành viên Hội đồng tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam • 09/10/2026 08:44

Cùng với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, chủ trương, chính sách đối với đảng viên tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh từng bước được hoàn thiện, mở rộng không gian để đảng viên phát huy năng lực, làm giàu chính đáng và đóng góp cho phát triển đất nước. Trong bối cảnh mới, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện cơ chế vừa khuyến khích tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, vừa phân định rõ trách nhiệm, kiểm soát xung đột lợi ích và ngăn ngừa việc lợi dụng quyền lực công để phục vụ lợi ích kinh doanh.

d01.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cùng các cơ quan liên quan về Đề án xây dựng Quy định mới về đảng viên làm kinh tế tư nhân, ngày 14-9-2026_Ảnh: TTXVN

Từng bước hoàn thiện chủ trương, chính sách đối với đảng viên làm kinh tế tư nhân

Để khuyến khích đảng viên tham gia phát triển kinh tế tư nhân, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 18-3-2002, “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”; trong đó, nhấn mạnh: những đảng viên đang làm chủ doanh nghiệp tư nhân, chấp hành tốt Điều lệ Đảng, pháp luật và chính sách của Nhà nước thì vẫn là đảng viên của Đảng.

Đặc biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã sửa đổi Điều lệ Đảng, chuyển cụm từ “không bóc lột” ra khỏi điểm 1, Điều 1 về tiêu chuẩn đảng viên. Quy định số 15-QĐ/TW, ngày 28-8-2006, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đảng viên làm kinh tế tư nhân lần đầu tiên chính thức khẳng định đảng viên được trực tiếp tham gia phát triển kinh tế tư nhân theo những điều kiện và giới hạn được quy định.

Văn kiện Đại hội XI nhấn mạnh: sau hơn 2 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW, đã có nhiều đảng viên trước đây công tác trong cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp nhà nước tham gia phát triển kinh tế tư nhân và làm giàu chính đáng.

Cũng từ Đại hội XI, Đảng cho phép thực hiện thí điểm việc kết nạp vào Đảng những người là chủ doanh nghiệp tư nhân, theo Hướng dẫn số 17-HD/BTCTW, ngày 30-1-2013, của Ban Tổ chức Trung ương và sau đó được thay thế bằng Hướng dẫn số 08-HD/BTCTW, ngày 27-9-2021.

Cùng với việc cho phép đảng viên trực tiếp làm kinh tế tư nhân và kết nạp chủ doanh nghiệp tư nhân vào Đảng, Trung ương Đảng cũng nhấn mạnh yêu cầu củng cố tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân, coi tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân là hạt nhân chính trị, lãnh đạo đảng viên và các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp, đồng thời tuyên truyền, vận động chủ sở hữu, người quản lý và người lao động chấp hành đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Kết luận số 29-KL/TW, ngày 31-1-2018, của Bộ Chính trị, “Về tổng kết 10 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đảng viên làm kinh tế tư nhân”, nhấn mạnh: sau hơn 10 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW, nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về đảng viên làm kinh tế tư nhân đã chuyển biến tích cực.

Nhiều đảng viên phát huy nguồn lực, năng lực làm giàu chính đáng và đóng góp phát triển kinh tế - xã hội. Số đảng viên làm kinh tế tư nhân năm 2017 tăng 3,57 lần so với năm 2006, chiếm 2,72% tổng số đảng viên toàn Đảng.

Kết luận số 29-KL/TW cũng yêu cầu tiếp tục khuyến khích và phát huy vai trò của đảng viên làm kinh tế tư nhân. Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải chấp hành Điều lệ Đảng, quy định của Đảng; gương mẫu thực hiện pháp luật; đi đầu trong đổi mới, sáng tạo, khởi nghiệp; tiếp thu, ứng dụng công nghệ; thực hiện trách nhiệm xã hội; tham gia đóng góp xây dựng chính sách phát triển kinh tế tư nhân.

Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, “Về phát triển kinh tế tư nhân” xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” và đặt mục tiêu phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, đổi mới sáng tạo, công nghệ, chuyển đổi số, doanh nghiệp dân tộc...

Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 19-8-2026, của Ban Bí thư, “Về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân”, thay thế Chỉ thị số 33-CT/TW, ngày 18-3-2019, ghi nhận: sau hơn 7 năm thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW, khu vực kinh tế tư nhân có 15.221 tổ chức đảng và 187.034 đảng viên tại thời điểm đánh giá.

Đồng thời, Chỉ thị yêu cầu không chạy theo số lượng, không hạ thấp tiêu chuẩn kết nạp Đảng; đổi mới công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân, trong đó có doanh nhân tiêu biểu, doanh nhân trẻ, chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học, cán bộ quản lý...

Để bảo vệ đảng viên tham gia phát triển kinh tế tư nhân, Trung ương cũng đã ban hành nhiều quy định liên quan đến “những điều đảng viên không được làm”.

Ngoài Quy định số 15-QĐ/TW và pháp luật của Nhà nước, Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9-5-2024, “Về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” xác lập nhiều nội dung có liên quan trực tiếp tới đảng viên kinh doanh, gắn với các chuẩn mực về liêm chính, không vụ lợi, không tham nhũng, tiêu cực, không để lợi ích cá nhân chi phối và trách nhiệm nêu gương.

Quy định số 207-QĐ/TW, ngày 26-7-2026, “Về những điều đảng viên không được làm” có điểm mới quan trọng: một mặt, Điều 1 của Quy định yêu cầu đảng viên không được làm trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc làm những việc mà pháp luật không cho phép; mặt khác, Quy định khẳng định “không hạn chế tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, lợi ích quốc gia - dân tộc”.

Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 22-8-2026, “Về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới” cũng thẳng thắn chỉ ra rằng cơ chế bảo vệ cán bộ còn chưa cụ thể; chưa tạo đủ niềm tin để cán bộ mạnh dạn hành động; còn tình trạng sợ sai, né tránh, đùn đẩy; đặc biệt khó khăn ở những lĩnh vực mới, khó và rủi ro cao.

Theo Thông báo số 175-TB/VPTW, ngày 18-9-2026, “Về kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc ngày 14-9-2026 với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và một số cơ quan về Đề án “Xây dựng quy định mới về đảng viên làm kinh tế tư nhân””, Quy định số 15-QĐ/TW, ngày 28-8-2006, và Kết luận số 29-KL/TW, ngày 31-1-2018, vẫn là những cơ sở quan trọng hiện nay.

Tuy nhiên, Quy định số 15-QĐ/TW đã bộc lộ một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới, do đó cần nghiên cứu xây dựng quy định mới về đảng viên làm kinh tế tư nhân theo hướng khẳng định quyền tham gia hoạt động kinh tế hợp pháp của đảng viên; phân định rõ quyền và giới hạn theo từng nhóm đảng viên, gắn với địa vị pháp lý, chức trách, nghĩa vụ và vị trí cụ thể; kiểm soát xung đột lợi ích và bao quát nền kinh tế tư nhân hiện đại.

 Ảnh: Thanh Thuỷ - TTXVN
Cần xây dựng một cơ chế giám sát vừa khuyến khích tinh thần doanh nhân, vừa kiểm soát quyền lực công, nhất là với đảng viên có quyền tiếp cận, sử dụng và quản lý nguồn lực công_Ảnh minh họa/TTXVN

“

Theo Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 19-8-2026, của Ban Bí thư, khu vực kinh tế tư nhân có 15.221 tổ chức đảng, tăng 25,92% so với năm 2019; có 187.034 đảng viên, tăng 2,21% so với năm 2019.

Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn

Thực tế cho thấy, vẫn còn khoảng trống thể chế về khuyến khích và bảo vệ đảng viên tham gia phát triển kinh tế tư nhân:

Thứ nhất, chưa quy định cụ thể về cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích, phân biệt rủi ro và thất bại kinh doanh với hành vi cố tình vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong phát triển kinh tế tư nhân.

Thực tế đòi hỏi cần xây dựng một cơ chế giám sát vừa khuyến khích tinh thần doanh nhân, vừa kiểm soát quyền lực công, nhất là với đảng viên có quyền tiếp cận, sử dụng và quản lý nguồn lực công; nghiên cứu xây dựng các tiêu chí nhằm phân định rõ giữa đổi mới, sáng tạo và vi phạm; giữa lợi ích kinh tế hợp pháp và vụ lợi; giữa rủi ro kinh doanh và vi phạm; giữa vận động chính sách hợp pháp và lợi ích nhóm; giữa quan hệ kinh doanh của người thân và việc lợi dụng ảnh hưởng.

Đối với việc miễn, giảm trách nhiệm do rủi ro khách quan hoặc sai sót không cố ý, cần tiếp tục nghiên cứu cơ chế phù hợp với đặc thù hoạt động kinh doanh tư nhân trên cơ sở các nguyên tắc chung về khuyến khích, bảo vệ đổi mới, sáng tạo.

Đồng thời, cần có các quy định liên quan đến công khai lợi ích, tách quyền quyết định và kiểm soát giao dịch liên quan, cũng như có cơ chế rút khỏi quyết định có xung đột.

Thứ hai, cần sớm khắc phục các biến tướng của cơ chế “xin - cho” làm triệt tiêu tinh thần doanh nhân, gia tăng tiêu cực, nhũng nhiễu và lợi ích nhóm.

Thực tế cho thấy hoạt động quản lý và điều hành phát triển kinh tế tư nhân đòi hỏi sự linh hoạt trong phản ứng chính sách và phản ứng thị trường trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế diễn biến nhanh, khó lường.

Việc kéo dài các quy định xin ý kiến, chờ xác nhận, phê duyệt của cấp ủy và cơ quan quản lý có thể làm lỡ thời điểm ra quyết định tối ưu, đồng thời có thể xảy ra nghịch lý: đảng viên càng muốn làm đúng thì càng mất nhiều thời gian; người không muốn minh bạch lại tìm cách đi vòng.

Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng quy tắc rõ, công khai, tăng hậu kiểm phù hợp với mức độ rủi ro, đề cao trách nhiệm giải trình và xử lý sai phạm thực chất.

Thứ ba, bổ sung quy định đột phá nhằm khuyến khích, bảo vệ đảng viên làm kinh tế tư nhân, làm giàu chính đáng, nhất là đối với hoạt động kinh doanh gắn với rủi ro cao.

Đây là vấn đề cần được quan tâm để đảng viên “dám nghĩ, dám làm”. Vì vậy, cần tạo đột phá trong hệ sinh thái quản lý theo hướng bảo đảm quyền tham gia hoạt động kinh tế hợp pháp của đảng viên, trừ những lĩnh vực, vị trí hoặc hành vi bị hạn chế vì yêu cầu phòng ngừa xung đột lợi ích, kiểm soát quyền lực và bảo vệ lợi ích công.

Đồng thời, cần bảo đảm đảng viên không được ưu đãi cũng không bị bất lợi chỉ vì là đảng viên, nhưng phải chịu yêu cầu cao hơn về liêm chính, minh bạch và nêu gương; có cơ chế bảo vệ phù hợp đối với trường hợp làm đúng, không vụ lợi, tuân thủ quy định nhưng gặp rủi ro khách quan.

Bên cạnh đó, có thể nghiên cứu áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) ở những lĩnh vực phù hợp, cùng với việc tách bạch “quyền lực công” khỏi “lợi ích kinh doanh” trên thị trường.

Thách thức của giai đoạn từ năm 2026 trở đi là tìm lời giải phù hợp: làm sao để đảng viên có đủ không gian để kinh doanh, đổi mới, dám đầu tư, dám thử nghiệm và chấp nhận rủi ro kinh doanh mà không bị đồng nhất thất bại với sai phạm, đồng thời không để quyền lực của Đảng và Nhà nước bị chuyển hóa thành lợi thế kinh doanh cá nhân./.

TS Nguyễn Minh Phong, Thành viên Hội đồng tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam