Đảng viên làm kinh tế trong kỷ nguyên phát triển mới - tiên phong làm giàu chính đáng, đổi mới sáng tạo và phụng sự xã hội
Chủ trương đảng viên làm kinh tế tư nhân là kết quả của quá trình đổi mới tư duy và tổng kết thực tiễn của Đảng. Trong kỷ nguyên phát triển mới, đảng viên làm kinh tế không chỉ làm giàu chính đáng mà cần tiên phong đổi mới sáng tạo, tạo việc làm, nâng cao năng suất và phụng sự xã hội; đồng thời gương mẫu, liêm chính, không để quyền lực, vị trí công tác trở thành lợi thế trong kinh doanh.

Đổi mới nhận thức và yêu cầu phát huy nguồn lực đảng viên làm kinh tế
Nhìn lại quá trình đổi mới cho thấy, nhận thức của Đảng ta về kinh tế tư nhân và đảng viên làm kinh tế tư nhân đã có những bước phát triển quan trọng, gắn với quá trình hoàn thiện nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ chỗ kinh tế tư nhân được nhìn nhận chủ yếu trong giới hạn của một thành phần kinh tế, thực tiễn từng bước khẳng định đây là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, có vai trò ngày càng lớn trong huy động nguồn lực xã hội, phát triển sản xuất, tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng.
Cùng với quá trình đó, nhận thức về đảng viên tham gia hoạt động kinh tế tư nhân cũng từng bước đổi mới. Đại hội X của Đảng đánh dấu bước phát triển quan trọng khi xác định đảng viên làm kinh tế tư nhân phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, Điều lệ Đảng và quy định của Trung ương.
Trên cơ sở đó, Quy định số 15-QĐ/TW, ngày 28-8-2006, của Ban Chấp hành Trung ương khóa X, “Về đảng viên làm kinh tế tư nhân” đã tạo cơ sở để đảng viên phát huy năng lực sản xuất, kinh doanh, làm giàu chính đáng và đóng góp cho đất nước.
Kết luận số 29-KL/TW, ngày 31-1-2018, của Bộ Chính trị “Về tổng kết 10 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đảng viên làm kinh tế tư nhân” tiếp tục khẳng định chủ trương này.
Ý nghĩa của bước đổi mới đó không chỉ nằm ở việc giải quyết câu hỏi đảng viên “được hay không được” làm kinh tế tư nhân, mà sâu xa hơn là giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích chính đáng của cá nhân với lợi ích xã hội; giữa tư cách đảng viên với quyền lao động, đầu tư, sản xuất, kinh doanh hợp pháp của công dân; giữa phát huy năng lực mỗi con người với phát triển lực lượng sản xuất.
Một đảng viên có vốn, tri thức, kinh nghiệm, năng lực quản trị và khát vọng khởi nghiệp, nếu tổ chức sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật, tạo ra sản phẩm, việc làm, thu nhập và đóng góp cho xã hội, năng lực ấy cần được khuyến khích phát huy.
Làm giàu bằng lao động, trí tuệ, tài năng và sáng tạo không đối lập với mục tiêu phụng sự xã hội nếu lợi ích chính đáng của cá nhân, doanh nghiệp được tạo dựng đồng thời với lợi ích của người lao động, cộng đồng và đất nước.
Bối cảnh hiện nay đặt vấn đề này ở một tầm mức mới. Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị “Về phát triển kinh tế tư nhân” xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Khu vực này hiện có hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 50% GDP và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động. Đến năm 2030, mục tiêu đặt ra là có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, kinh tế tư nhân tăng trưởng bình quân khoảng 10% - 12%/năm và đóng góp khoảng 55% - 58% GDP.
Khi vị trí của kinh tế tư nhân thay đổi, yêu cầu đối với đảng viên hoạt động trong khu vực này cũng cần được nâng lên. Nếu trước đây trọng tâm là tháo gỡ những vướng mắc về nhận thức để đảng viên được làm kinh tế tư nhân, thì hiện nay câu hỏi quan trọng hơn là: đảng viên làm kinh tế như thế nào để vừa làm giàu chính đáng, vừa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu và trách nhiệm đối với xã hội?
Đó là bước chuyển từ quyền được làm kinh tế sang trách nhiệm tiên phong trong làm kinh tế.

Từ chủ trương đến thực tiễn - dấu ấn tiên phong của đảng viên trên mặt trận kinh tế
Hai mươi năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW đã tạo ra những chuyển biến đáng ghi nhận. Mặc dù chưa có hệ thống thống kê đầy đủ ở phạm vi toàn quốc về quy mô sản xuất, doanh thu, việc làm hay đóng góp ngân sách của riêng nhóm đảng viên làm kinh tế tư nhân, kết quả tổng kết tại một số địa phương cho thấy số lượng đảng viên tham gia hoạt động kinh tế ngày càng tăng, hình thức và lĩnh vực hoạt động ngày càng đa dạng.
Nghệ An là địa phương có chuỗi số liệu tương đối đầy đủ. Theo kết quả tổng kết 20 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW của tỉnh, năm 2006 có 2.003 đảng viên làm kinh tế tư nhân; năm 2016 tăng lên 7.182 người; đến tháng 7-2026 đạt 22.871 người, chiếm 11,22% tổng số đảng viên toàn tỉnh và tăng 218,4% so với năm 2016.
Trong số này có 9.790 hộ kinh doanh cá thể, 7.528 tiểu chủ, 5.553 đảng viên làm việc trong doanh nghiệp tư nhân và 233 đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân. Đội ngũ này hoạt động khá rộng, từ nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp đến công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
Hoạt động kinh tế tư nhân cũng ngày càng gắn rõ hơn với công tác xây dựng Đảng. Giai đoạn 2014 - 2025, Nghệ An thành lập 110 tổ chức đảng và kết nạp 1.564 đảng viên trong doanh nghiệp, trong đó có 58 đảng viên là chủ doanh nghiệp; hiện có 192 tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước với 5.553 đảng viên.
Ở cấp cơ sở, kết quả tổng kết tại xã Tứ Kỳ, thành phố Hải Phòng cho thấy địa phương hiện có 244 đảng viên làm kinh tế tư nhân, gấp 11 lần so với năm 2006; trong đó có 36 doanh nghiệp do đảng viên làm chủ hoặc tham gia điều hành.
Đây chỉ là những lát cắt địa phương, không thể suy rộng thành bức tranh của cả nước, nhưng phần nào phản ánh sự chuyển biến từ tâm lý còn e ngại trong những năm đầu sang chủ động phát huy năng lực sản xuất, kinh doanh của đảng viên.
Vai trò tiên phong của đảng viên còn được thể hiện trong các phong trào thi đua lao động, sản xuất, kinh doanh ở cơ sở. Từ phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi, xây dựng nông thôn mới đến khởi nghiệp, ứng dụng khoa học - kỹ thuật, chuyển đổi số, sản xuất xanh; nhiều đảng viên trở thành hạt nhân trong chuyển đổi phương thức sản xuất, xây dựng mô hình kinh tế mới, liên kết và hỗ trợ người dân cùng phát triển.
Ở chiều ngược lại, thực tiễn lao động, sản xuất, kinh doanh cũng là môi trường để phát hiện những doanh nhân, công nhân, kỹ sư, nhà khoa học và người lao động ưu tú để bồi dưỡng, bổ sung lực lượng cho Đảng.
Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 19-8-2026, của Ban Bí thư “Về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân” tiếp tục đặt trọng tâm vào chất lượng, phẩm chất, năng lực, uy tín và khả năng cống hiến của đảng viên; đồng thời yêu cầu phát hiện, biểu dương, tôn vinh và nhân rộng những tấm gương đảng viên tiêu biểu trong lao động, sản xuất, kinh doanh.
Thực tiễn đó cho thấy, “đảng viên làm kinh tế” trong điều kiện mới không nên chỉ được nhận diện bằng thu nhập hay quy mô tài sản, mà quan trọng hơn là năng lực tạo ra giá trị, việc làm, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, chăm lo người lao động và khả năng dẫn dắt, lan tỏa tinh thần làm giàu chính đáng trong cộng đồng.
Tiên phong làm giàu chính đáng, đổi mới sáng tạo và tạo giá trị mới
Làm giàu chính đáng là nhu cầu hợp pháp và là động lực tích cực của phát triển. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lợi ích chính đáng của cá nhân, doanh nghiệp và xã hội không đối lập nhau nếu của cải được tạo ra thông qua lao động, trí tuệ, đầu tư, quản trị và sáng tạo, trên cơ sở tuân thủ pháp luật và cạnh tranh lành mạnh.
Đối với đảng viên, yêu cầu phải cao hơn: làm giàu bằng năng lực thực chất chứ không dựa vào đặc quyền, đặc lợi; bằng đổi mới sáng tạo chứ không phải khai thác kẽ hở của cơ chế; bằng cạnh tranh bình đẳng chứ không phải quan hệ thân hữu hay khả năng tác động đến các quyết định công.
Trong kỷ nguyên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nội hàm “làm kinh tế giỏi” cũng cần thay đổi. Thước đo không chỉ là doanh thu, lợi nhuận hay tài sản, mà còn là khả năng đổi mới mô hình kinh doanh, ứng dụng công nghệ, nâng cao năng suất lao động, phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Điều này phù hợp với yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển của đất nước từ dựa nhiều vào vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên sang dựa ngày càng nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của khu vực kinh tế tư nhân thuộc nhóm 3 nước đứng đầu ASEAN; năng suất lao động của khu vực này tăng bình quân khoảng 8,5% - 9,5%/năm.
Trong quá trình đó, đảng viên hoạt động trong doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, trang trại hay cơ sở sản xuất có thể trở thành những “hạt nhân đổi mới” ngay từ cơ sở: chủ động đầu tư công nghệ; chuyển từ sản xuất truyền thống sang sản xuất thông minh; thực hiện chuyển đổi số; thương mại hóa kết quả nghiên cứu; xây dựng thương hiệu và đưa sản phẩm Việt Nam tham gia thị trường quốc tế.
Vấn đề cốt lõi là chuyển từ tư duy “kinh doanh để có thu nhập cao” sang “kinh doanh để tạo giá trị cao”. Giá trị ấy không chỉ thuộc về chủ doanh nghiệp mà được lan tỏa thông qua việc làm, tiền lương, thuế, sản phẩm tốt hơn, năng suất cao hơn, công nghệ mới và đóng góp cho cộng đồng.
Định hướng này cũng đang được thể hiện trong quá trình tổng kết 20 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW và xây dựng quy định mới về đảng viên làm kinh tế tư nhân. Kết luận tại cuộc làm việc về đề án xây dựng quy định mới tháng 9-2026 đặt ra yêu cầu khẳng định quyền tham gia hoạt động kinh tế hợp pháp của đảng viên, đồng thời khuyến khích người có năng lực đi đầu trong đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, xây dựng thương hiệu Việt Nam và phát triển doanh nghiệp bền vững.
Như vậy, yêu cầu đối với đảng viên làm kinh tế đang chuyển từ “được làm và làm đúng” sang “làm tốt, làm gương mẫu và tiên phong”.
Phụng sự xã hội, giữ gìn phẩm chất đảng viên và hoàn thiện chuẩn mực làm kinh tế trong giai đoạn mới
“Phụng sự xã hội” trong hoạt động kinh tế không nên chỉ được hiểu là làm từ thiện hay đóng góp cho các chương trình an sinh. Trách nhiệm xã hội căn bản trước hết phải được thể hiện ngay trong cách thức tạo ra của cải.
Một doanh nghiệp tạo việc làm ổn định, trả lương tương xứng, bảo đảm quyền lợi người lao động, nộp thuế đầy đủ, không gian lận thương mại, không gây ô nhiễm môi trường và tạo ra sản phẩm có ích chính là đang thực hiện trách nhiệm với xã hội.
Nếu doanh nghiệp còn đổi mới công nghệ, nâng cao kỹ năng người lao động, xây dựng thương hiệu Việt Nam và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu thì giá trị xã hội của hoạt động kinh doanh càng được mở rộng.
Với đảng viên, chuẩn mực ấy phải cao hơn. Tư cách đảng viên không đem lại quyền lợi kinh doanh cao hơn, mà đặt ra trách nhiệm cao hơn về tính liêm chính và sự gương mẫu.
Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng khi các nguồn lực đất đai, tài chính, đầu tư công, quy hoạch, dữ liệu, thông tin chính sách và quyết định quản lý nhà nước có thể tạo ra lợi ích kinh tế lớn. Khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng vì thế không đồng nghĩa với xóa nhòa ranh giới giữa quyền lực công và lợi ích kinh tế.
Càng mở rộng không gian để đảng viên phát huy năng lực kinh doanh và sáng tạo, càng cần những giới hạn minh bạch để phòng ngừa xung đột lợi ích, lợi ích nhóm và việc sử dụng chức vụ, thông tin hay ảnh hưởng chính trị để tạo lợi thế kinh doanh.
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện quy định về đảng viên tham gia hoạt động kinh tế theo hướng rõ quyền, rõ trách nhiệm, rõ giới hạn, phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Quyền tham gia hoạt động kinh tế của đảng viên không giữ chức vụ trong khu vực nhà nước cần được phân định với cán bộ, công chức, viên chức, người quản lý doanh nghiệp nhà nước hoặc người trực tiếp tham gia phân bổ nguồn lực công.
Cùng với đó, cần tăng cường kiểm soát xung đột lợi ích từ sớm, từ xa; minh bạch lợi ích liên quan; kiểm soát việc sử dụng thông tin có được từ vị trí công tác; ngăn chặn việc chuyển cơ hội kinh doanh, tài sản công hay lợi ích công sang doanh nghiệp có quan hệ lợi ích với người có thẩm quyền.
Quá trình xây dựng quy định mới cũng đang đặt vấn đề nhận diện rõ người sở hữu, người chi phối, người hưởng lợi và khả năng quyền lực tác động tới lợi ích kinh tế.
Quan trọng hơn, cần hình thành chuẩn mực của đảng viên làm kinh tế trong kỷ nguyên phát triển mới, với những giá trị cốt lõi: liêm chính trong kinh doanh; tiên phong trong sáng tạo; hiệu quả trong sử dụng nguồn lực; trách nhiệm với người lao động; nhân văn với cộng đồng; khát vọng cống hiến và phụng sự đất nước.
Đồng thời, cần tiếp tục đổi mới hoạt động của tổ chức đảng trong khu vực kinh tế tư nhân. Tổ chức đảng không làm thay hoạt động quản trị doanh nghiệp, nhưng cần phát huy vai trò hạt nhân chính trị, góp phần xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh, quan hệ lao động hài hòa; giáo dục, quản lý, giám sát đảng viên và phát hiện những nhân tố ưu tú để bồi dưỡng cho Đảng.
Sau 20 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW, việc Trung ương tổng kết thực tiễn và xây dựng quy định mới về đảng viên làm kinh tế tư nhân là cần thiết trước những thay đổi sâu sắc của nền kinh tế. Vấn đề không đơn thuần là mở rộng hay thu hẹp phạm vi đảng viên được làm kinh tế, mà là xây dựng một khuôn khổ đủ rộng để giải phóng năng lực sản xuất, kinh doanh, sáng tạo nhưng đủ chặt để bảo vệ tính liêm chính của quyền lực và phẩm chất người đảng viên.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, làm giàu chính đáng không đối lập với lý tưởng phụng sự. Khi của cải được tạo ra bằng lao động, trí tuệ và sáng tạo; khi doanh nghiệp tạo việc làm tốt, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, chăm lo người lao động, bảo vệ môi trường và có trách nhiệm với cộng đồng, thành công của người kinh doanh đồng thời trở thành đóng góp cho sự phát triển chung.
Đối với đảng viên, yêu cầu cần cao hơn một bước: không chỉ làm kinh tế đúng pháp luật mà phải làm kinh tế gương mẫu; không chỉ làm giàu cho mình mà góp phần làm giàu cho xã hội; không chỉ tạo lợi nhuận mà tạo giá trị; không chỉ thích ứng với đổi mới mà phải có khát vọng đi đầu trong đổi mới.
Đó cũng là cách để tính tiên phong của người đảng viên được thể hiện sinh động trên mặt trận kinh tế, góp phần khơi thông nguồn lực xã hội và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.