Chính trị - Thời sự

Xây dựng văn hóa trong Đảng để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh trong kỷ nguyên mớiKỳ cuối: Bồi đắp văn hóa trong Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước của kỷ nguyên mới

TS Dương Thị Hà - ThS Bùi Ngọc Trang, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Đảng ủy các cơ quan Đảng tỉnh Hưng Yên • 18/09/2026 08:37

Bước vào kỷ nguyên mới, những biến đổi sâu sắc của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và mô hình tăng trưởng mới đang đặt ra những yêu cầu mới đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Điều đó đòi hỏi văn hóa Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển, vừa kế thừa những giá trị đã được hun đúc trong thực tiễn cách mạng, vừa thích ứng với những điều kiện phát triển mới.

dai-hoi-14.jpg
Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự tin tưởng và tín nhiệm của toàn thể Đại hội, đây là vinh dự và trách nhiệm lớn trước Đảng, trước nhân dân; khẳng định sẽ nỗ lực hết mình, toàn tâm, toàn lực để phục vụ sự nghiệp cao cả của Đảng, của cách mạng, của nhân dân_Ảnh: daihoidangtoanquoc.vn

Văn hóa lãnh đạo, cầm quyền trước những yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới

Bước vào kỷ nguyên mới, đất nước đứng trước những chuyển biến có tính cấu trúc của môi trường phát triển. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức sản xuất, quản trị và tương tác xã hội; trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và các nền tảng số ngày càng trở thành những yếu tố quan trọng của năng lực cạnh tranh; yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và phát triển bền vững ngày càng rõ nét.

Cùng với đó, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, sự biến động nhanh của môi trường chiến lược và những vấn đề mới nảy sinh trong quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực hoạch định đường lối, tổ chức thực hiện và thích ứng của hệ thống chính trị[1].

Trong bối cảnh đó, xây dựng văn hóa trong Đảng trước hết là tiếp tục kế thừa, bồi đắp và phát huy những giá trị đã được hun đúc qua thực tiễn cách mạng, đồng thời phát triển những giá trị ấy phù hợp với yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nền tảng của văn hóa trong Đảng vẫn là bản lĩnh chính trị, lý tưởng, đạo đức, kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, gắn bó với nhân dân và những chuẩn mực tốt đẹp đã được hình thành, tôi luyện qua các chặng đường cách mạng.

Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển mới, những giá trị nền tảng đó cần được biểu hiện ngày càng rõ hơn trong năng lực tư duy, phương thức lãnh đạo, chất lượng quản trị, tinh thần đổi mới, khả năng tiếp nhận và vận dụng tri thức, khoa học, công nghệ, trách nhiệm thực thi quyền lực và năng lực phục vụ nhân dân.

Trong lịch sử lãnh đạo cách mạng, văn hóa lãnh đạo của Đảng trước hết được thể hiện ở bản lĩnh chính trị, khả năng xác định mục tiêu, tập hợp lực lượng và tổ chức thực hiện đường lối.

Tuy nhiên, khi đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đối với năng lực lãnh đạo có sự thay đổi về chất. Đảng cần đề ra chủ trương đúng, đồng thời phải nâng cao năng lực dự báo, nhận diện sớm những biến động, kiến tạo môi trường phát triển và biến chủ trương thành kết quả cụ thể trong thực tiễn.

Điều đó đặt ra yêu cầu chuyển từ tư duy chủ yếu xử lý những vấn đề đã phát sinh sang tư duy chủ động kiến tạo và dẫn dắt phát triển. Văn hóa lãnh đạo trong điều kiện mới phải khuyến khích khả năng nhìn xa, nhìn rộng, nhận diện xu hướng và chuẩn bị trước các phương án ứng phó.

Một quyết định lãnh đạo có chất lượng được đánh giá ở việc giải quyết một vấn đề trước mắt, quan trọng hơn là tạo ra không gian phát triển, mở đường cho nguồn lực xã hội và hạn chế những rủi ro có thể phát sinh trong tương lai.

Sự chuyển biến đó đồng thời đòi hỏi thay đổi quan niệm về hiệu lực, hiệu quả của lãnh đạo, quản lý. Trong điều kiện nền kinh tế, xã hội và công nghệ vận động ngày càng nhanh, khoảng cách giữa một chủ trương đúng và khả năng tổ chức thực hiện có thể quyết định trực tiếp kết quả phát triển.

Vì vậy, văn hóa lãnh đạo phải gắn chặt hơn với năng lực thực thi: xác định rõ mục tiêu, trách nhiệm, thời hạn, nguồn lực, phương thức kiểm tra và tiêu chí đánh giá.

Lãnh đạo không dừng ở việc ban hành quyết định, mà phải tạo ra cơ chế để quyết định được thực hiện thông suốt, có kiểm tra, có phản hồi và có khả năng điều chỉnh khi thực tiễn thay đổi.

Đây cũng là yêu cầu ngày càng rõ nét đối với văn hóa cầm quyền. Khi Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, văn hóa cầm quyền được thể hiện không chỉ ở việc xác định đúng định hướng chính trị, mà còn ở năng lực thể chế hóa chủ trương, tổ chức thực hiện, nâng cao hiệu lực quản trị và giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra từ thực tiễn phát triển đất nước và đời sống nhân dân.

Quyền lực phải gắn với trách nhiệm, thẩm quyền phải đi đôi với nghĩa vụ giải trình, quyết định phải hướng tới kết quả và vị trí lãnh đạo phải được thể hiện bằng tinh thần trách nhiệm, nêu gương và phục vụ.

Vì vậy, xây dựng văn hóa cầm quyền trong điều kiện mới đòi hỏi sự chuyển biến từ tư duy lãnh đạo chủ yếu bằng chủ trương sang năng lực kiến tạo phát triển, từ quyết định đúng sang tổ chức thực hiện hiệu quả, qua đó đưa định hướng chính trị và các giá trị của Đảng vào thể chế, chính sách và những kết quả cụ thể trong đời sống xã hội.

Một trong những biến đổi sâu sắc của kỷ nguyên mới là tri thức, dữ liệu và công nghệ ngày càng tham gia trực tiếp vào quá trình hoạch định chính sách và tổ chức quản trị.

Trong điều kiện đó, kinh nghiệm thực tiễn vẫn có ý nghĩa quan trọng, nhưng kinh nghiệm không thể thay thế tri thức mới, dữ liệu và các phương pháp phân tích hiện đại.

Văn hóa lãnh đạo cần chuyển mạnh theo hướng coi trọng học tập, nghiên cứu, phản biện, dự báo và sử dụng bằng chứng trong quá trình ra quyết định.

Yêu cầu này trước hết xuất phát từ tính phức tạp ngày càng cao của các vấn đề phát triển. Một chính sách kinh tế có thể đồng thời tác động đến xã hội, môi trường, thị trường lao động, công nghệ và quan hệ quốc tế; một quyết định về chuyển đổi số có thể liên quan đến dữ liệu, an ninh, quyền riêng tư, năng lực con người và thể chế.

Nếu chỉ tiếp cận vấn đề từ một ngành, một lĩnh vực hoặc một kinh nghiệm riêng lẻ, nguy cơ bỏ sót các tác động liên thông sẽ gia tăng. Do đó, văn hóa lãnh đạo trong kỷ nguyên mới cần hình thành tư duy hệ thống, khả năng kết nối tri thức liên ngành và năng lực đánh giá chính sách trên cơ sở nhiều chiều.

Điều này cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về văn hóa học tập của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tốc độ thay đổi của tri thức khiến những gì phù hợp ở một thời điểm có thể nhanh chóng trở nên không đầy đủ ở thời điểm khác.

Vì vậy, học tập phải trở thành một nhu cầu thường xuyên của hoạt động lãnh đạo. Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có khả năng tiếp nhận tri thức mới, đặt câu hỏi đối với những giả định cũ, cập nhật công nghệ và biết sử dụng chuyên gia, dữ liệu, nghiên cứu khoa học để nâng cao chất lượng quyết định.

Văn hóa coi trọng tri thức cũng đòi hỏi thay đổi cách nhìn về năng lực cán bộ. Chức vụ, kinh nghiệm công tác và bằng cấp là những yếu tố cần thiết nhưng không đồng nghĩa với năng lực giải quyết những vấn đề mới.

Trong mô hình phát triển dựa ngày càng nhiều vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất, năng lực tư duy, khả năng học hỏi, thích ứng và giải quyết vấn đề phải trở thành những thành tố quan trọng của phẩm chất lãnh đạo.

Chủ trương xác lập mô hình tăng trưởng mới cũng nhấn mạnh sự chuyển dịch từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng cao, với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng[2].

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quá trình tinh gọn tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý theo hướng quản trị hiện đại, hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả. Đây không đơn thuần là thay đổi kỹ thuật quản lý, mà sâu xa hơn là sự chuyển biến trong văn hóa thực thi quyền lực.

Văn hóa quản trị hiện đại trước hết đòi hỏi tư duy dựa trên mục tiêu và kết quả. Nếu quản lý chủ yếu chú trọng việc thực hiện đúng quy trình, thì quản trị phải đồng thời quan tâm đến việc quy trình đó tạo ra kết quả gì, nguồn lực được sử dụng như thế nào và tác động thực tế đối với xã hội ra sao.

Điều đó đặt ra yêu cầu khắc phục bệnh hình thức, tình trạng nặng về hội họp, báo cáo nhưng nhẹ về sản phẩm và hiệu quả; đồng thời, hình thành cách thức đánh giá công việc dựa nhiều hơn vào kết quả và tác động thực tế.

Phân cấp, phân quyền cũng đòi hỏi một nền văn hóa trách nhiệm tương ứng. Khi quyền quyết định được phân định rõ hơn, trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cá nhân phải được xác lập minh bạch hơn.

Nếu quyền lực được phân cấp nhưng trách nhiệm không rõ, dễ phát sinh tình trạng đùn đẩy hoặc né tránh; ngược lại, nếu trách nhiệm được xác định mà không đi cùng thẩm quyền và nguồn lực cần thiết, việc thực thi cũng khó đạt hiệu quả. Bởi vậy, văn hóa cầm quyền trong điều kiện mới phải coi trọng sự thống nhất giữa thẩm quyền, trách nhiệm, nguồn lực và kết quả.

Đây cũng là cơ sở để nâng cao trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực. Quyền lực càng được trao để giải quyết công việc nhanh hơn thì yêu cầu kiểm soát quyền lực, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình càng phải được bảo đảm.

Vì thế, xây dựng văn hóa cầm quyền trong bối cảnh mới không chỉ là xây dựng tinh thần trách nhiệm của người có quyền, mà còn phải tạo dựng môi trường thể chế trong đó quyền lực được sử dụng đúng mục đích, đúng thẩm quyền và hướng tới lợi ích chung.

Kỷ nguyên số đang tạo ra một không gian hoạt động mới của Đảng, Nhà nước, cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chuyển đổi số không chỉ thay đổi phương thức xử lý công việc, mà còn tác động đến cách thức tiếp nhận thông tin, tương tác xã hội, hoạch định chính sách và cung cấp dịch vụ công.

Việc đẩy mạnh số hóa hồ sơ, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đang được đặt trong yêu cầu nâng cao năng suất, hiệu quả xử lý công việc và đổi mới phương thức quản trị trong hệ thống chính trị.

Trong môi trường đó, năng lực số trở thành một bộ phận ngày càng quan trọng của năng lực lãnh đạo. Người cán bộ cần biết sử dụng công cụ số, phải hiểu những giới hạn của dữ liệu, khả năng sai lệch của thuật toán, nguy cơ mất an toàn thông tin và những vấn đề đạo đức phát sinh khi sử dụng trí tuệ nhân tạo.

Công nghệ có thể hỗ trợ phân tích, dự báo và xử lý thông tin, nhưng không thể thay thế trách nhiệm chính trị, pháp lý và đạo đức của người ra quyết định.

Do đó, văn hóa lãnh đạo trong môi trường số phải đồng thời là văn hóa của năng lực công nghệ và trách nhiệm con người. Đó là khả năng sử dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả nhưng không phụ thuộc máy móc vào công nghệ; tiếp nhận lượng thông tin lớn nhưng phải biết kiểm chứng; sử dụng dữ liệu nhưng phải tôn trọng an toàn, bảo mật và quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân.

Điều đáng chú ý là những yêu cầu mới đối với văn hóa trong Đảng không làm giảm vai trò của bản lĩnh chính trị, đạo đức, kỷ luật và trách nhiệm; trái lại, càng làm cho những giá trị đó trở nên quan trọng hơn.

Công nghệ có thể thay đổi phương thức làm việc, dữ liệu có thể hỗ trợ quyết định, mô hình quản trị có thể nâng cao hiệu quả, nhưng mục tiêu, nguyên tắc và trách nhiệm của người lãnh đạo vẫn thuộc về con người.

Vì vậy, văn hóa trong Đảng trong kỷ nguyên mới phải tạo dựng được sự thống nhất giữa kiên định về mục tiêu nhưng linh hoạt trong phương thức; đổi mới trên cơ sở nguyên tắc; quyết đoán nhưng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm nhưng không tùy tiện; phát huy sáng tạo nhưng luôn đặt trong khuôn khổ pháp luật, kỷ luật; làm chủ công nghệ nhưng không tách rời đạo đức và trách nhiệm.

Chính sự thống nhất đó tạo nên bản lĩnh của văn hóa lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, giữ vững những giá trị nền tảng trong khi không ngừng thích ứng với cái mới; phát huy quyền chủ động nhưng luôn gắn với trách nhiệm; đề cao hiệu quả trước mắt nhưng đặt trong tầm nhìn phát triển lâu dài, bền vững.

trach-nhiem-cua-dang.jpg
Đồ họa: qdnd.vn

Xây dựng và phát huy văn hóa trong Đảng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Những yêu cầu mới đối với văn hóa trong Đảng chỉ có thể trở thành hiện thực khi được cụ thể hóa bằng hệ thống giải pháp đồng bộ, gắn giữa xây dựng con người với hoàn thiện tổ chức, giữa nâng cao nhận thức với đổi mới phương thức lãnh đạo, giữa phát huy tinh thần đổi mới với tăng cường kỷ luật, kỷ cương.

Đây không phải là việc bổ sung thêm một số chuẩn mực ứng xử, mà là quá trình tiếp tục làm sâu sắc các giá trị đã được hình thành trong thực tiễn cách mạng, đồng thời phát triển những phẩm chất và phương thức hoạt động phù hợp với điều kiện mới.

Thứ nhất, đổi mới nhận thức về văn hóa trong Đảng, nhất là văn hóa lãnh đạo, cầm quyền trong điều kiện mới. Văn hóa trong Đảng cần được nhìn nhận không chỉ ở phương diện đạo đức, lối sống, tác phong, quan hệ công tác của cán bộ, đảng viên, mà còn ở cách thức Đảng xác định mục tiêu, lựa chọn phương thức lãnh đạo, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả.

Khi đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển với yêu cầu cao hơn về tốc độ, chất lượng, năng suất, đổi mới sáng tạo và hội nhập, văn hóa lãnh đạo, cầm quyền càng phải được thể hiện qua năng lực nhận diện đúng vấn đề, quyết định đúng thời điểm, tổ chức thực hiện hiệu quả và kịp thời điều chỉnh những chủ trương không còn phù hợp.

Đổi mới nhận thức cũng đòi hỏi khắc phục những biểu hiện đồng nhất văn hóa trong Đảng với các quy tắc ứng xử mang tính hình thức. Một tổ chức có văn hóa là tổ chức có kỷ luật, biết học hỏi, biết lắng nghe, biết tự chỉnh đốn, biết chịu trách nhiệm và biết biến chủ trương thành kết quả thực tế.

Một cán bộ có văn hóa lãnh đạo không chỉ thể hiện ở phẩm chất, tác phong, mà còn ở năng lực làm việc khoa học, khả năng sử dụng tri thức, công nghệ, dữ liệu và khả năng tập hợp, phát huy trí tuệ của tập thể.

Vì vậy, xây dựng văn hóa trong Đảng cần được gắn chặt với xây dựng năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và năng lực tổ chức thực hiện.

Trên cơ sở đó, cần đưa các yêu cầu về văn hóa lãnh đạo, cầm quyền vào công tác xây dựng Đảng một cách thực chất, từ giáo dục chính trị, tư tưởng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đến đánh giá, quy hoạch, bố trí và sử dụng cán bộ.

Những giá trị như bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm, tư duy đổi mới, tôn trọng thực tiễn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, liêm chính, kỷ luật và phục vụ nhân dân cần được cụ thể hóa thành những yêu cầu có thể nhận diện trong thực tiễn công tác, thay vì chỉ dừng ở những khẩu hiệu chung.

Thứ hai, xây dựng văn hóa nêu gương và văn hóa trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu. Trong tổ chức đảng, văn hóa được hình thành bằng quy định, lan tỏa qua hành vi của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Người đứng đầu nói đi đôi với làm, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, tôn trọng tập thể, lắng nghe ý kiến khác biệt, quyết đoán trong phạm vi trách nhiệm và chịu trách nhiệm về quyết định của mình sẽ tạo ra những chuẩn mực có sức thuyết phục trực tiếp đối với tổ chức.

Trước những yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới, văn hóa trách nhiệm cần được chuyển từ tinh thần chung thành cơ chế vận hành cụ thể. Mỗi nhiệm vụ phải gắn với chủ thể chịu trách nhiệm, thời hạn, sản phẩm và tiêu chí đánh giá rõ ràng.

Quyền hạn được giao phải đi liền với trách nhiệm; quyền quyết định phải gắn với nghĩa vụ giải trình; thành tích phải được đánh giá trên cơ sở kết quả thực tế, còn hạn chế, sai sót phải được xem xét trên cơ sở nguyên nhân và mức độ trách nhiệm. Cách tiếp cận này vừa góp phần nâng cao tính chủ động của cán bộ, vừa hạn chế tâm lý né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm.

Đặc biệt, cần tạo sự phân biệt rõ giữa sai sót trong quá trình thử nghiệm, đổi mới vì lợi ích chung với hành vi cố ý vi phạm, vụ lợi hoặc thiếu trách nhiệm[3].

Nếu mọi sáng kiến đều bị nhìn nhận chủ yếu từ khả năng rủi ro, cán bộ dễ hình thành tâm lý an toàn, làm theo lối cũ, từ đó làm giảm động lực đổi mới.

Ngược lại, khuyến khích đổi mới phải đi cùng với nguyên tắc, pháp luật, quy trình và cơ chế kiểm soát phù hợp. Văn hóa dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung chỉ có thể phát huy đầy đủ khi cán bộ vừa có không gian hành động, vừa hiểu rõ giới hạn quyền lực và trách nhiệm của mình.

Thứ ba, xây dựng văn hóa học tập, tri thức và đổi mới sáng tạo trong Đảng. Trong môi trường mà tri thức và công nghệ thay đổi nhanh, năng lực của tổ chức không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm tích lũy, mà phải được bổ sung bằng khả năng cập nhật tri thức, phân tích thông tin, tiếp nhận thành tựu khoa học và học hỏi từ thực tiễn trong nước, quốc tế. Vì vậy, xây dựng tổ chức đảng học tập cần trở thành một bộ phận thường xuyên của văn hóa lãnh đạo.

Cần chuyển mạnh từ học tập mang tính tiếp nhận sang học tập gắn với giải quyết vấn đề thực tiễn. Mỗi chủ trương, chính sách, chương trình công tác cần trở thành cơ hội để tổ chức và cán bộ tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh phương pháp.

Khuyến khích cán bộ đọc, nghiên cứu, trao đổi chuyên môn, tiếp cận các phương pháp quản trị hiện đại, nâng cao năng lực ngoại ngữ, kỹ năng số và khả năng phân tích dữ liệu.

Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan nghiên cứu, cơ sở đào tạo, đội ngũ chuyên gia và thực tiễn cơ sở trong cung cấp tri thức cho quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách.

Cùng với đó, cần hình thành môi trường khuyến khích sáng kiến và thử nghiệm có kiểm soát. Đổi mới sáng tạo không thể phát triển trong môi trường mà mọi cách làm mới đều bị ràng buộc bởi tâm lý sợ sai, nhưng cũng không thể dựa trên sự tùy tiện.

Do đó, cần có cơ chế xác định rõ mục tiêu thử nghiệm, phạm vi, thời hạn, nguồn lực, tiêu chí đánh giá và phương án xử lý khi kết quả không đạt yêu cầu.

Những mô hình hiệu quả cần được tổng kết, hoàn thiện và nhân rộng; những cách làm không phù hợp cần được điều chỉnh hoặc dừng lại trên cơ sở đánh giá khách quan. Qua đó, hình thành văn hóa đổi mới dựa trên thực tiễn và kết quả thay vì đổi mới theo phong trào.

Thứ tư, xây dựng văn hóa số và năng lực làm chủ công nghệ. Chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức tiếp nhận thông tin, phối hợp công việc, ra quyết định và cung cấp dịch vụ công. Vì vậy, năng lực số của cán bộ phải được xem xét như một thành tố của năng lực lãnh đạo, quản lý trong điều kiện mới.

Cần nâng cao khả năng sử dụng các nền tảng số, khai thác dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công cụ phân tích trong công việc, đồng thời trang bị kiến thức cần thiết về an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu, xác thực nguồn tin và nhận diện thông tin sai lệch.

Tuy nhiên, công nghệ chỉ là công cụ hỗ trợ, không thay thế trách nhiệm chính trị, pháp lý và đạo đức của con người. Những quyết định liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của tổ chức, người dân và doanh nghiệp vẫn phải được xem xét trên cơ sở pháp luật, chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm của chủ thể có thẩm quyền. Vì vậy, văn hóa số trong Đảng phải đồng thời là văn hóa sử dụng công nghệ có trách nhiệm.

Thứ năm, đổi mới cơ chế đánh giá cán bộ, tổ chức đảng và kết quả thực hiện nhiệm vụ theo hướng thực chất, lấy hiệu quả và tác động làm thước đo quan trọng. Văn hóa lãnh đạo chỉ có thể chuyển biến bền vững nếu những giá trị mà tổ chức đề cao được phản ánh trong cơ chế đánh giá.

Nếu đánh giá vẫn thiên về hồ sơ, quy trình, hình thức hoặc thành tích bề nổi, khó tạo động lực cho tư duy dài hạn, tinh thần đổi mới và trách nhiệm đến cùng.

Do đó, cần chú trọng đánh giá bằng sản phẩm, tiến độ, chất lượng và tác động của công việc; đồng thời, xem xét cả khả năng phối hợp, sử dụng nguồn lực, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp và khả năng xử lý những vấn đề phát sinh.

Đối với những nhiệm vụ phức tạp, cần tránh đánh giá máy móc chỉ bằng một chỉ tiêu đơn lẻ mà phải đặt kết quả trong tổng thể mục tiêu phát triển, điều kiện thực hiện và những tác động ngoài dự kiến.

Đi liền với đánh giá là tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Văn hóa trách nhiệm không thể tách rời kỷ luật và kỷ cương. Những biểu hiện lợi dụng quyền lực, vụ lợi, che giấu thông tin, né tránh trách nhiệm hoặc cố ý làm sai phải được nhận diện và xử lý theo quy định.

Đồng thời, kiểm tra, giám sát cần góp phần phòng ngừa, cảnh báo và giúp tổ chức nhận diện sớm những điểm nghẽn trong thực hiện nhiệm vụ, thay vì chỉ tập trung xử lý khi sai phạm đã xảy ra.

Sự kết hợp giữa khuyến khích đổi mới và kiểm soát quyền lực sẽ tạo nên môi trường trong đó cán bộ có động lực hành động nhưng không tùy tiện sử dụng quyền lực.

Thứ sáu, gắn chặt xây dựng văn hóa trong Đảng với văn hóa phục vụ nhân dân và mục tiêu phát triển con người. Trong điều kiện mới, phục vụ nhân dân thể hiện ở thái độ gần dân, trọng dân, lắng nghe dân, đặc biệt phải được cụ thể hóa bằng chất lượng thể chế, chất lượng dịch vụ công, khả năng giải quyết vấn đề và mức độ đáp ứng nhu cầu chính đáng của người dân.

Điều đó đòi hỏi các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ phải tăng cường đối thoại, tiếp nhận phản hồi, coi thực tiễn đời sống là nguồn thông tin quan trọng để điều chỉnh chủ trương và phương thức lãnh đạo.

Trong môi trường số, việc lắng nghe nhân dân cũng cần được mở rộng thông qua các nền tảng số, dữ liệu xã hội và các kênh tương tác trực tuyến, nhưng phải bảo đảm tính xác thực, bảo mật và trách nhiệm trong sử dụng thông tin. Văn hóa phục vụ cần chuyển từ tinh thần sang cơ chế, từ khẩu hiệu sang chất lượng và kết quả phục vụ cụ thể.

Xây dựng văn hóa trong Đảng đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kết hợp giữa kế thừa và phát triển. Cốt lõi không phải thay thế những giá trị đã được hun đúc trong lịch sử bằng những chuẩn mực hoàn toàn mới, mà làm cho những giá trị đó được biểu hiện phù hợp hơn trong điều kiện phát triển mới.

Bản lĩnh chính trị cần được kết hợp với tư duy khoa học; tinh thần trách nhiệm với năng lực thực thi; kỷ luật với sáng tạo; kinh nghiệm với tri thức và dữ liệu; quyền hạn với trách nhiệm giải trình; ứng dụng công nghệ với đạo đức và phục vụ nhân dân.

Khi những yêu cầu ấy được thể chế hóa thành quy định, chuẩn mực và cơ chế vận hành; được cụ thể hóa trong công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát, đào tạo, đánh giá và tổ chức thực hiện; đồng thời, được nuôi dưỡng bằng tinh thần nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, văn hóa trong Đảng sẽ trở thành một nguồn lực nội sinh quan trọng của năng lực lãnh đạo, cầm quyền.

Qua đó, những giá trị văn hóa được hình thành trong quá trình cách mạng tiếp tục được bồi đắp, phát triển và chuyển hóa thành năng lực kiến tạo, tổ chức và dẫn dắt sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.

______

[1] Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 77 - 81

[2] Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 82

[3] Xem: Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 22-8-2026, của Bộ Chính trị, “Về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới”.

TS Dương Thị Hà - ThS Bùi Ngọc Trang, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Đảng ủy các cơ quan Đảng tỉnh Hưng Yên