Chính trị - Thời sự

Xây dựng văn hóa trong Đảng để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh trong kỷ nguyên mớiKỳ 2: Văn hóa đổi mới trong Đảng - từ bước ngoặt tư duy đến những thành tựu phát triển đất nước

TS Dương Thị Hà - ThS Bùi Ngọc Trang, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Đảng ủy các cơ quan Đảng tỉnh Hưng Yên • 10/09/2026 08:55

Đổi mới là bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử, đồng thời là quá trình phát triển sâu sắc tư duy, bản lĩnh và phương thức lãnh đạo của Đảng. Qua 40 năm đổi mới, văn hóa đổi mới trong Đảng từng bước được hình thành, bồi đắp và khẳng định qua thực tiễn phát triển đất nước. Đó là sự kết hợp giữa kiên định mục tiêu, tôn trọng thực tiễn, phát huy dân chủ, khuyến khích sáng tạo, đề cao trách nhiệm và lấy nhân dân làm trung tâm. Những giá trị ấy trở thành động lực tinh thần quan trọng, góp phần tạo nên những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, đồng thời đặt nền tảng để đất nước tiếp tục phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

dai-hoi-6.jpg
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng_Ảnh tư liệu

Đại hội VI - bước ngoặt hình thành văn hóa đổi mới trong Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng.

Sau một thời gian dài khắc phục hậu quả chiến tranh và tổ chức xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, nền kinh tế bộc lộ nhiều hạn chế: sản xuất tăng chậm, hiệu quả đầu tư thấp, phân phối lưu thông rối ren, lạm phát tăng cao, ngân sách thiếu hụt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.

Nhiều chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm 1981 - 1985 không đạt; những mất cân đối của nền kinh tế chậm được khắc phục, thậm chí có mặt trở nên gay gắt hơn[1].

Trong xã hội, các hiện tượng tiêu cực phát triển, công bằng xã hội bị vi phạm, pháp luật và kỷ cương chưa nghiêm, làm suy giảm niềm tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.

Trong hoàn cảnh đó, đổi mới trở thành đòi hỏi cấp thiết, có ý nghĩa sống còn đối với đất nước và dân tộc. Đại hội VI đã đáp ứng yêu cầu lịch sử ấy, với dấu ấn nằm ở sự chuyển biến quan trọng trong tư duy, bản lĩnh và phương thức lãnh đạo của Đảng.

Dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, tự phê bình và sửa chữa sai lầm

Một trong những biểu hiện nổi bật của văn hóa lãnh đạo tại Đại hội VI là tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”[2].

Trên cơ sở đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội V, Đảng khẳng định những thành tựu đã đạt được, đồng thời thẳng thắn chỉ ra những khó khăn, yếu kém và nguyên nhân chủ quan của tình hình khủng hoảng.

Đại hội xác định những hạn chế không chỉ bắt nguồn từ điều kiện khách quan, mà còn do Đảng mắc phải “những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”[3].

Đặc biệt, Đại hội chỉ rõ khuynh hướng tư tưởng chủ yếu dẫn đến sai lầm là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan; sự lạc hậu trong nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội[4].

Những biểu hiện đó thể hiện qua việc đề ra các mục tiêu quá cao khi chưa đủ tiền đề cần thiết; chưa coi trọng đúng mức nhiệm vụ khôi phục kinh tế, ổn định đời sống; xem nhẹ sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; chậm nhận thức đầy đủ về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Việc dám thừa nhận sai lầm và xác định đúng nguyên nhân là biểu hiện quan trọng của văn hóa đổi mới trong Đảng. Đó không chỉ là hoạt động kiểm điểm về mặt chính trị, mà còn thể hiện bản lĩnh tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tinh thần cầu thị và trách nhiệm trước nhân dân.

Đảng không né tránh thực tế, không tô hồng thành tích, cũng không đổ lỗi cho hoàn cảnh; trái lại, chủ động nhận diện những bất cập trong tư duy và tổ chức thực hiện để tìm ra phương hướng khắc phục.

Từ thực tiễn cách mạng, Đại hội VI tổng kết 4 bài học lớn: 1- Đảng phải quát triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động; 2- Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luận khách quan; 3- Phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới; 4- Xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa[5].

Những bài học đó vừa có giá trị chỉ đạo đối với công cuộc đổi mới, vừa đặt nền móng cho những giá trị cốt lõi của văn hóa đổi mới trong Đảng.

Đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo để tìm ra lối thoát cho đất nước

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội VI xác định nhiệm vụ bao trùm trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo[6].

Những mục tiêu trước mắt tập trung vào bảo đảm sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; từng bước hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý; ưu tiên phát triển nông nghiệp, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; cải thiện đời sống nhân dân; mở rộng dân chủ, giữ vững kỷ cương; củng cố quốc phòng, an ninh.

Để thực hiện các mục tiêu đó, Đại hội đề ra đường lối đổi mới trên nhiều phương diện: đổi mới cơ cấu kinh tế; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách xã hội; đổi mới chính sách đối ngoại, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại; đổi mới nội dung và phong cách lãnh đạo của Đảng, tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của Đảng.

Điểm mới có ý nghĩa nền tảng là Đảng từng bước thừa nhận sản xuất hàng hóa, vận dụng các quan hệ thị trường, đổi mới cơ chế quản lý và sử dụng các thành phần kinh tế nhằm giải phóng lực lượng sản xuất.

Cùng với đổi mới kinh tế, Đại hội đặt vấn đề đổi mới chính sách xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và công tác xây dựng Đảng. Điều đó cho thấy, đổi mới ngay từ đầu đã được xác định là quá trình toàn diện, không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế.

Từ góc độ văn hóa Đảng, đường lối đổi mới của Đại hội VI thể hiện sự kết hợp giữa kiên định mục tiêu và sáng tạo trong phương thức thực hiện; giữa bản lĩnh chính trị và tinh thần tôn trọng thực tiễn; giữa trách nhiệm trước lịch sử với trách nhiệm trước nhân dân.

Đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, mà là đổi mới tư duy, cơ chế, chính sách và cách thức tổ chức thực hiện để hiện thực hóa mục tiêu đó phù hợp hơn với điều kiện cụ thể của đất nước.

tong-bi-thu-nguyen-van-linh.jpg
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với các đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng_Ảnh: TTXVN

Những giá trị cốt lõi của văn hóa đổi mới trong Đảng

Đổi mới là bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử, đồng thời là quá trình phát triển tư duy, phương thức lãnh đạo và văn hóa chính trị của Đảng. Văn hóa đổi mới không phải là sự thay đổi mục tiêu, lý tưởng cách mạng, mà là sự đổi mới cách nhận thức và tổ chức thực hiện, nhằm đưa đường lối của Đảng phù hợp hơn với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Thứ nhất, kiên định mục tiêu, sáng tạo trong tư duy và hành động

Giá trị nền tảng của văn hóa đổi mới là sự thống nhất giữa kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với tinh thần sáng tạo, chủ động thích ứng trước những biến đổi của thực tiễn.

Đổi mới không phủ định quá khứ, mà kế thừa những thành quả đúng đắn, đồng thời mạnh dạn điều chỉnh những nhận thức, cơ chế và phương thức không còn phù hợp.

Tinh thần đổi mới trước hết thể hiện ở yêu cầu “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, dám nhận diện hạn chế, yếu kém và nguyên nhân để khắc phục.

Đây là biểu hiện của văn hóa tự phê bình, tự điều chỉnh và tự hoàn thiện trong Đảng. Kiên định về mục tiêu phải đi đôi với linh hoạt về phương pháp; giữ vững nguyên tắc nhưng không giáo điều, bảo thủ, máy móc.

Thứ hai, tôn trọng thực tiễn, lấy hiệu quả làm thước đo

Văn hóa đổi mới coi thực tiễn là điểm xuất phát, đồng thời là cơ sở kiểm nghiệm đường lối, chủ trương và phương thức lãnh đạo. Đổi mới phải bắt đầu từ việc nhận diện đúng những vấn đề của đất nước, lắng nghe đời sống nhân dân, tổng kết kinh nghiệm từ cơ sở và khái quát thành nhận thức, chính sách phù hợp.

Tôn trọng thực tiễn đòi hỏi chống bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí; đồng thời, tránh tùy tiện, chạy theo lợi ích trước mắt hoặc nhân danh đổi mới để xa rời nguyên tắc. Một chủ trương chỉ thực sự có ý nghĩa khi được tổ chức thực hiện nghiêm túc và tạo chuyển biến cụ thể trong đời sống xã hội.

Vì vậy, văn hóa đổi mới gắn với yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý nặng về mệnh lệnh, thủ tục sang tư duy kiến tạo phát triển, phục vụ người dân và doanh nghiệp; coi kết quả công việc, sự hài lòng và lợi ích chính đáng của nhân dân là những thước đo quan trọng của chất lượng lãnh đạo.

Thứ ba, phát huy dân chủ, trí tuệ và sức sáng tạo

Đổi mới là sự nghiệp rộng lớn, phức tạp, không thể chỉ dựa vào ý chí của một cá nhân hay một cơ quan. Vì thế, văn hóa đổi mới đề cao dân chủ, trí tuệ tập thể và khả năng huy động các nguồn lực sáng tạo trong toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội.

Dân chủ phải gắn với tập trung, thống nhất và kỷ luật. Trong thảo luận cần khuyến khích nhiều ý kiến, nhưng khi đã có quyết định thì phải nghiêm túc tổ chức thực hiện. Cùng với đó là yêu cầu dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Khuyến khích sáng tạo phải đi đôi với giữ vững nguyên tắc, tuân thủ pháp luật, tăng cường kiểm tra, giám sát và phân định rõ giữa đổi mới vì lợi ích chung với hành vi lợi dụng đổi mới để vụ lợi. Bảo vệ người dám nghĩ, dám làm phải đồng thời gắn với trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực tế.

Thứ tư, lấy nhân dân làm trung tâm

Một giá trị xuyên suốt của văn hóa đổi mới là lấy nhân dân làm trung tâm, phát triển vì con người và dựa vào sức mạnh của nhân dân.

Đổi mới không chỉ nhằm tạo ra tăng trưởng kinh tế, mà còn hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm an sinh xã hội, mở rộng cơ hội phát triển và củng cố quyền làm chủ của nhân dân.

Nhân dân là đối tượng thụ hưởng chính sách, đồng thời là chủ thể tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, mọi quyết sách phải xuất phát từ thực tiễn, nguyện vọng chính đáng và lợi ích lâu dài của nhân dân.

Điều đó đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, lắng nghe dân, nói đi đôi với làm; khắc phục bệnh quan liêu, xa dân, hình thức và thiếu trách nhiệm. Khi đổi mới được đặt trên nền tảng niềm tin của nhân dân, nó sẽ tạo ra động lực xã hội rộng lớn và bền vững.

Thứ năm, đề cao liêm chính, kỷ luật và trách nhiệm nêu gương

Văn hóa đổi mới không thể tách rời văn hóa liêm chính, kỷ luật và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đổi mới càng sâu rộng, yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực càng trở nên cấp thiết. Nếu thiếu liêm chính, đổi mới có thể bị lợi dụng để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc lợi ích cục bộ.

Do đó, cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ, ý thức thượng tôn pháp luật và trách nhiệm trước nhân dân. Người đứng đầu phải tiên phong trong tư duy, hành động, kỷ luật, tự phê bình và đấu tranh với biểu hiện trì trệ, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

Như vậy, văn hóa đổi mới trong Đảng được kết tinh giữa kiên định và sáng tạo, nguyên tắc và linh hoạt, dân chủ và kỷ luật, ý chí chính trị và tôn trọng thực tiễn, đổi mới và phụng sự nhân dân.

Những giá trị đó vừa được hình thành trong quá trình đổi mới, vừa tiếp tục được bổ sung qua thực tiễn phát triển đất nước; trở thành nền tảng tinh thần quan trọng để Đảng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển trong kỷ nguyên mới.

40-nam-doi-moi.jpg
Qua 40 năm đổi mới, Việt Nam đã có bước phát triển toàn diện, bứt phá thành quốc gia số_Đồ họa: hanoimoi.vn

Văn hóa đổi mới - động lực tạo nên những thành tựu phát triển đất nước

Những giá trị của văn hóa đổi mới trong Đảng được thể hiện trong sự chuyển biến về tư duy, đường lối và phương thức lãnh đạo, được kiểm nghiệm bằng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước.

Qua 40 năm đổi mới, Việt Nam đã có bước phát triển toàn diện, làm thay đổi căn bản cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế. Từ một quốc gia nghèo, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, trình độ phát triển thấp, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Những thành tựu đó trước hết phản ánh tính đúng đắn của đường lối đổi mới, đồng thời cho thấy năng lực vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Quan trọng hơn, thực tiễn phát triển đất nước đã làm rõ những giá trị cốt lõi của văn hóa đổi mới: tôn trọng thực tiễn, phát huy dân chủ, khơi dậy sức sáng tạo, lấy nhân dân làm trung tâm, kết hợp phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và mở rộng đối ngoại.

Thứ nhất, từ nền kinh tế nghèo nàn đến nền kinh tế có quy mô và năng lực cạnh tranh ngày càng lớn.

Một trong những thành tựu nổi bật nhất của công cuộc đổi mới là sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đây là bước đột phá về tư duy phát triển, tạo điều kiện giải phóng lực lượng sản xuất, phát huy các thành phần kinh tế và huy động hiệu quả các nguồn lực trong nước, quốc tế.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ, du lịch, kinh tế số và kinh tế biển từng bước phát triển; nông nghiệp chuyển dần sang hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao.

Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là đường bộ cao tốc, cảng biển, sân bay, hạ tầng số và các công trình trọng điểm quốc gia, được đầu tư mạnh, mở rộng không gian phát triển và kết nối các vùng kinh tế.

Tăng trưởng kinh tế của nước ta giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới, đặc biệt tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02%, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên từ năm 2026 và các năm tiếp theo.

Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao[7]. Những con số này cho thấy sức chống chịu và khả năng duy trì tăng trưởng của nền kinh tế trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động.

Cùng với tăng trưởng, yêu cầu phát triển bền vững ngày càng được chú trọng. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai được gắn kết chặt chẽ hơn với hoạch định chính sách phát triển.

Quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng từng bước trở thành nguyên tắc trong tổ chức phát triển, thể hiện sự chuyển biến từ tư duy tăng trưởng đơn thuần sang tư duy phát triển hài hòa, lâu dài.

Thứ hai, phát triển văn hóa, nâng cao chất lượng sống và phát triển con người.

Văn hóa đổi mới của Đảng còn được thể hiện rõ trong sự thay đổi nhận thức về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội và con người.

Văn hóa ngày càng được xác định không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là mục tiêu, động lực và nguồn lực nội sinh của phát triển.

Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị, “Về phát triển văn hóa Việt Nam”, nhấn mạnh: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới”.

Các hoạt động bảo tồn, phát huy di sản, phát triển công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa và giao lưu quốc tế được quan tâm hơn. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa và tinh thần cống hiến của mỗi người Việt Nam để tạo động lực phát triển[8].

Quan điểm này được cụ thể hóa trong Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, trong đó khẳng định văn hóa phải được đặt ngang hàng và phát triển hài hòa với kinh tế, chính trị, xã hội; trở thành sức mạnh nội sinh, góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện[9].

Những chuyển biến về đời sống nhân dân là minh chứng rõ nét cho định hướng phát triển lấy con người làm trung tâm. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao.

Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 95,2% năm 2025.

Tuổi thọ và chỉ số sức khoẻ người dân bình quân của cả nước được cải thiện, năm 2025 tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh là 74,8 năm, số năm sống khoẻ khoảng 67 năm[10].

Giáo dục, y tế, an sinh xã hội, nhà ở xã hội, xóa nhà tạm, nhà dột nát và chăm lo các đối tượng chính sách tiếp tục được triển khai, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội.

Thứ ba, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển mới.

Một biểu hiện quan trọng của văn hóa đổi mới trong Đảng là khả năng nhận diện sớm những động lực phát triển mới và từng bước thể chế hóa thành chủ trương, chính sách.

Trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng được xác định là động lực then chốt của mô hình tăng trưởng mới.

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo từng bước được hình thành với các trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm và các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

Ứng dụng công nghệ cao được mở rộng trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, năng lượng, y tế và quản lý nhà nước. Chuyển đổi số quốc gia được thúc đẩy thông qua số hóa dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử, phát triển trung tâm dữ liệu, dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng số.

Những kết quả này cho thấy sự chuyển dịch từ mô hình phát triển dựa nhiều vào lao động, tài nguyên và vốn sang mô hình coi tri thức, công nghệ và năng lực sáng tạo là yếu tố ngày càng quan trọng.

Đây cũng là yêu cầu trực tiếp đối với văn hóa lãnh đạo của Đảng: phải khuyến khích tư duy mới, chấp nhận thử nghiệm có kiểm soát, coi trọng nhân lực chất lượng cao và tạo môi trường để các chủ thể phát huy năng lực sáng tạo.

Thứ tư, giữ vững quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại và nâng cao vị thế đất nước.

Công cuộc đổi mới đạt được thành tựu toàn diện trong điều kiện đất nước giữ vững ổn định chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân và thế trận lòng dân được củng cố. Các lực lượng vũ trang được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; năng lực dự báo, phòng ngừa và xử lý các nguy cơ từ sớm, từ xa được nâng lên.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa đã tạo bước chuyển quan trọng về vị thế quốc tế của Việt Nam. Việc gia nhập Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007, tham gia tích cực các cơ chế đa phương và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã mở rộng không gian hợp tác và phát triển.

Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều nước quan trọng, đồng thời tham gia ngày càng chủ động, trách nhiệm vào các tổ chức và diễn đàn quốc tế[11].

Nhìn tổng thể, những thành tựu qua 40 năm đổi mới là kết quả của sự kết hợp giữa kiên định mục tiêu và sáng tạo trong phương pháp; giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, con người; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữa phát huy nội lực với chủ động hội nhập quốc tế.

Thực tiễn đó khẳng định văn hóa đổi mới đã trở thành một nguồn lực tinh thần quan trọng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng và tạo nền tảng để đất nước tiếp tục phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới./.

Kỳ cuối: Bồi đắp văn hóa trong Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước của kỷ nguyên mới

______

[1] Xem: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, p. I, tr. 143

[2] Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, p. I, tr. 15

[3] Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, p. I, tr. 28

[4] Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, p. I, tr. 28

[5] Xem: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, p. I, tr. 30 - 33

[6] Xem: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, p. I, tr. 43

[7] Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 47

[8] Xem: Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 24-11-2021, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tiep-tuc-xay-dung-giu-gin-chan-hung-va-phat-trien-nen-van-hoa-cua-dan-toc

[9] Xem: Quyết định số 1909/QĐ-TTg, ngày 12-11-2021, của Thủ tướng Chính phủ, “Về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030”.

[10] Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 52 - 53

[11] Xem: Lương Cường: “Ngoại giao Việt Nam - 80 năm xây dựng, trưởng thành cùng đất nước”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 24-8-2025, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ngoai-giao-viet-nam-80-nam-xay-dung-truong-thanh-cung-dat-nuoc

TS Dương Thị Hà - ThS Bùi Ngọc Trang, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Đảng ủy các cơ quan Đảng tỉnh Hưng Yên