Xây dựng văn hóa trong Đảng để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh trong kỷ nguyên mới
Trong kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng đặt ra nhiệm vụ cấp thiết xây dựng, phát triển văn hóa trong Đảng. Trên nền tảng những giá trị cách mạng được hun đúc qua sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, công cuộc đổi mới đất nước sau 40 năm, Đảng cần tiếp tục bồi đắp bản lĩnh chính trị, đạo đức, tinh thần tiên phong, trách nhiệm, đoàn kết và phụng sự nhân dân; đồng thời, đổi mới phương thức lãnh đạo, tác phong công tác và tổ chức thực hiện, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Kỳ 1: Văn hóa Đảng - nền tảng tinh thần và cội nguồn sức mạnh lãnh đạo cách mạng
Văn hóa Đảng được hình thành, tôi luyện và phát triển cùng tiến trình cách mạng Việt Nam, kết tinh trong lý tưởng, bản lĩnh chính trị, đạo đức, tinh thần tiên phong, sự gắn bó với nhân dân và ý thức tổ chức, kỷ luật. Những giá trị đó được khẳng định qua thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc đầy gian khổ, hy sinh, trở thành nền tảng tinh thần và cội nguồn sức mạnh lãnh đạo cuộc cách mạng của dân tộc.

Văn hóa Đảng - hệ giá trị làm nên bản sắc, bản lĩnh và sức mạnh lãnh đạo của Đảng
Văn hóa là một hiện tượng xã hội đặc biệt, được hình thành trong quá trình con người sáng tạo, gìn giữ, trao truyền và phát triển các giá trị vật chất, tinh thần nhằm đáp ứng nhu cầu sống, hoàn thiện nhân cách và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.
Với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa không chỉ phản ánh trình độ phát triển của con người mà còn tạo nên sức mạnh nội sinh, định hướng hành động và điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[1].
Vì vậy, văn hóa không đứng ngoài đời sống chính trị, mà thâm nhập vào quá trình hình thành tư tưởng, xác lập mục tiêu, lựa chọn phương thức lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị.
Trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, văn hóa Đảng có vị trí đặc biệt trong đời sống văn hóa, chính trị và tinh thần của dân tộc.
Văn hóa Đảng không phải là một lĩnh vực tách biệt với văn hóa dân tộc, càng không chỉ giới hạn ở hoạt động văn hóa, văn nghệ trong các tổ chức đảng.
Đó là tổng thể những giá trị, chuẩn mực, phương thức ứng xử và phương thức hoạt động được hình thành, bồi đắp trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng; được thể hiện trong tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức, phong cách lãnh đạo, quan hệ với nhân dân và hành động của mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.
Từ cách tiếp cận đó, có thể hiểu văn hóa Đảng là văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; là nền văn hóa chính trị được kết tinh từ lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và thực tiễn lãnh đạo cách mạng.
Văn hóa Đảng vừa là một bộ phận của văn hóa dân tộc, vừa là biểu hiện tập trung của những giá trị tiên tiến, tiến bộ, nhân văn trong đời sống chính trị Việt Nam[2].
Nếu văn hóa dân tộc phản ánh những giá trị được cộng đồng sáng tạo, gìn giữ và trao truyền qua lịch sử, văn hóa Đảng là sự tiếp nối, nâng cao và tổ chức hóa những giá trị đó trong hoạt động lãnh đạo cách mạng.
Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, đạo lý “thương người như thể thương thân”, truyền thống trọng nghĩa tình, cần cù, dũng cảm, kiên cường và sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn được Đảng kế thừa, phát triển thành lý tưởng cách mạng, đạo đức cách mạng, tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân và ý thức tổ chức, kỷ luật. Do đó, văn hóa Đảng vừa mang tính dân tộc sâu sắc, vừa mang tính cách mạng, khoa học và nhân văn rõ nét.
Nội hàm của văn hóa Đảng trước hết được thể hiện ở hệ giá trị tư tưởng và chính trị. Đây là phương diện giữ vai trò định hướng, bảo đảm tính thống nhất về mục tiêu, lý tưởng và hành động của Đảng.
Văn hóa Đảng đòi hỏi sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới[3]; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đồng thời, vận dụng, phát triển sáng tạo những nguyên lý đó phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam.
Sự kiên định không đồng nghĩa với bảo thủ, giáo điều, mà phải gắn với tư duy khoa học, năng lực tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy và giải quyết đúng đắn những vấn đề mới nảy sinh.
Tính văn hóa trong lĩnh vực tư tưởng, chính trị được thể hiện ở bản lĩnh, trí tuệ, tính nhất quán và khả năng kết hợp giữa kiên định nguyên tắc với sáng tạo trong hành động.
Văn hóa Đảng còn thể hiện tập trung trong văn hóa hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối. Đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng phải phản ánh quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn đất nước, tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, đồng thời hướng tới mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Tính cách mạng, khoa học và nhân văn của đường lối là thước đo quan trọng trình độ trưởng thành và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Trong quá trình đó, dân chủ phải được phát huy để tập hợp trí tuệ, kinh nghiệm và nguyện vọng chính đáng của cán bộ, đảng viên, nhân dân và toàn hệ thống chính trị; việc ban hành nghị quyết phải đi đôi với tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, nói đi đôi với làm.
Quan điểm “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”[4] chính là một chuẩn mực quan trọng của văn hóa lãnh đạo.
Một nội dung cốt lõi khác của văn hóa Đảng là đạo đức cách mạng và văn hóa nêu gương. Văn hóa của một tổ chức trước hết được biểu hiện qua phẩm chất và hành vi của những con người cấu thành tổ chức đó.
Đối với Đảng, cán bộ, đảng viên là những người trực tiếp chuyển hóa đường lối, chủ trương thành hành động thực tiễn; vì vậy, phẩm chất, đạo đức, lối sống và tinh thần trách nhiệm của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Văn hóa Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tận tụy với công việc; đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên hết, trước hết; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện suy thoái.
Nêu gương là phương thức lãnh đạo có sức thuyết phục sâu sắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[5]. Vì vậy, văn hóa nêu gương không chỉ dừng ở việc chấp hành quy định, mà còn thể hiện ở sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa chức vụ và trách nhiệm, giữa quyền hạn và nghĩa vụ.
Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải “làm mực thước” trong công tác, sinh hoạt và quan hệ với nhân dân. Sự gương mẫu đó tạo nên niềm tin, sức lan tỏa và khả năng quy tụ quần chúng, đồng thời là cơ sở để củng cố tính chính danh và uy tín chính trị của Đảng.
Văn hóa Đảng cũng bao hàm văn hóa tổ chức, văn hóa dân chủ và văn hóa kỷ luật. Đảng là một tổ chức chính trị có hệ thống nguyên tắc, cơ cấu, phương thức lãnh đạo và quy trình hoạt động chặt chẽ.
Vì vậy, văn hóa Đảng được thể hiện trong việc tôn trọng và thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; giữ gìn đoàn kết, thống nhất; thực hiện tự phê bình và phê bình; bảo đảm kỷ luật, kỷ cương; đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu.
Dân chủ trong Đảng phải đi đôi với kỷ luật, tự do thảo luận phải gắn với thống nhất hành động, còn phê bình phải được tiến hành trên tinh thần xây dựng, chân thành, vì sự tiến bộ của tổ chức và đồng chí. Đây là sự khác biệt căn bản giữa văn hóa chính trị cách mạng với lối ứng xử vụ lợi, cục bộ, bè phái hoặc phục tùng một chiều.
Một phương diện quan trọng khác là văn hóa ứng xử. Đối với bản thân, cán bộ, đảng viên phải biết tự rèn luyện, tự soi, tự sửa, không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực và ý thức trách nhiệm.
Trong quan hệ với đồng chí, phải giữ gìn tình đồng chí, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, đồng thời kiên quyết đấu tranh với sai lầm, khuyết điểm. Trong quan hệ với công việc, phải tận tâm, tận lực, khoa học, trách nhiệm, không né tránh, đùn đẩy.
Trong quan hệ với nhân dân, phải gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân, lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của nhân dân. Như vậy, văn hóa ứng xử chính là sự biểu hiện cụ thể của đạo đức, trách nhiệm và phương thức thực thi quyền lực.
Về bản chất, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là tiêu chí quan trọng để nhận diện văn hóa Đảng. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân; mọi đường lối, chủ trương phải xuất phát từ lợi ích của đất nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Văn hóa Đảng được khẳng định khi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên thực sự tôn trọng nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và lấy sự hài lòng, niềm tin, sự đồng thuận của nhân dân làm thước đo hiệu quả lãnh đạo.
Ngược lại, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn của nhân dân, lạm dụng quyền lực, tham nhũng, lãng phí và vô trách nhiệm đều là những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, làm suy giảm uy tín và sức mạnh nội sinh của Đảng.

Thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc - nơi tôi luyện và khẳng định văn hóa Đảng
Văn hóa Đảng không hình thành một cách trừu tượng, tách rời thực tiễn, mà được tôi luyện, kiểm nghiệm và bồi đắp trong quá trình lãnh đạo cách mạng.
Đặc biệt, qua cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đầy gian khổ, hy sinh, những giá trị cốt lõi của văn hóa Đảng được thể hiện rõ nét trong sự thống nhất giữa lý tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức và hành động cách mạng của các thế hệ cán bộ, đảng viên.
Đó là lòng trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; bản lĩnh kiên định trước thử thách; tinh thần dấn thân, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân; sự gắn bó mật thiết với quần chúng; ý thức tổ chức, kỷ luật và năng lực tập hợp, tổ chức, dẫn dắt toàn dân tộc.
Thứ nhất, văn hóa lý tưởng, niềm tin và bản lĩnh cách mạng.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời gắn liền với yêu cầu lịch sử của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh đất nước bị thực dân áp bức, nhân dân mất độc lập, tự do và phải chịu nhiều tầng áp bức, bóc lột.
Sự ra đời của Đảng là bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc, đánh dấu sự trưởng thành của phong trào cách mạng Việt Nam. Từ đây, khát vọng độc lập, tự do của dân tộc được kết hợp với lý tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, từng bước phát triển thành mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Lý tưởng đó trở thành nền tảng tinh thần, định hướng chính trị và cơ sở hình thành văn hóa trong Đảng. Trong điều kiện đất nước chưa giành được độc lập, lý tưởng cách mạng không chỉ được thể hiện trong Cương lĩnh, đường lối hay tuyên ngôn chính trị, mà còn được chuyển hóa thành niềm tin, ý chí và lựa chọn hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.
Đó là sự xác định rõ mục tiêu phấn đấu, nhận thức sâu sắc về trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc và sẵn sàng đặt lợi ích của cách mạng lên trên lợi ích riêng tư.
Trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, các thế hệ cán bộ, đảng viên phải đối mặt với những thử thách khắc nghiệt: sự truy lùng, bắt bớ, tù đày, tra tấn; điều kiện hoạt động thiếu thốn, hiểm nguy; những tổn thất về lực lượng và sự phức tạp của tình hình trong nước, quốc tế.
Trong hoàn cảnh đó, bản lĩnh cách mạng được thể hiện trước hết ở khả năng giữ vững mục tiêu, không dao động trước khó khăn, không từ bỏ lý tưởng khi phải đối diện với mất mát và hy sinh.
Niềm tin cách mạng của Đảng đồng thời là niềm tin vào sức mạnh của nhân dân. Đảng không coi sự nghiệp giải phóng dân tộc là công việc của một nhóm người, mà xác định đó là sự nghiệp của toàn dân tộc, do nhân dân và vì nhân dân.
Niềm tin ấy tạo cơ sở để cán bộ, đảng viên kiên trì tuyên truyền, vận động, giác ngộ và tổ chức quần chúng; đồng thời, giúp cách mạng vượt qua những thời điểm khó khăn, khi tương quan lực lượng có sự chênh lệch lớn và triển vọng thắng lợi chưa thể nhìn thấy ngay trước mắt.
Thứ hai, văn hóa hy sinh, dấn thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Một trong những biểu hiện nổi bật của văn hóa Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là tinh thần hy sinh, dấn thân và tận tụy của các thế hệ cán bộ, đảng viên.
Trong điều kiện cách mạng hoạt động bí mật, bị kẻ thù đàn áp, sự lựa chọn đi theo Đảng đồng nghĩa với việc chấp nhận nhiều gian khổ, hiểm nguy, thậm chí phải đánh đổi tính mạng, hạnh phúc gia đình và những điều kiện sống bình thường.
Sự hy sinh đó bắt nguồn từ nhận thức về mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích dân tộc. Đối với người cách mạng, độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân và tương lai của đất nước được đặt ở vị trí cao nhất.
Cán bộ, đảng viên sẵn sàng rời quê hương, gia đình, dấn thân vào những địa bàn khó khăn, nguy hiểm; bám dân, xây dựng cơ sở, gây dựng phong trào, tổ chức lực lượng và truyền bá tư tưởng cách mạng. Nhiều người phải sống trong điều kiện thiếu thốn, thường xuyên đối mặt với sự truy bắt, nhưng vẫn kiên trì thực hiện nhiệm vụ được giao.
Tinh thần hy sinh còn thể hiện ở việc giữ vững khí tiết trong những hoàn cảnh đặc biệt khắc nghiệt. Trước nhà tù, đòn roi, tra tấn và những thủ đoạn mua chuộc, khuất phục của kẻ thù, nhiều cán bộ, đảng viên vẫn bảo vệ tổ chức, giữ gìn bí mật, bảo vệ đồng chí và không từ bỏ lý tưởng.
Những tấm gương đó cho thấy văn hóa Đảng không chỉ là hệ thống nhận thức hay chuẩn mực được tuyên truyền, mà còn là phẩm chất đã được thử thách trong thực tiễn và được chứng minh bằng hành động.
Cần nhìn nhận sự hy sinh trong đấu tranh giải phóng dân tộc như một chuẩn mực văn hóa, một phẩm chất chính trị và truyền thống hành động của Đảng.
Tinh thần ấy tạo nên sức mạnh tinh thần đặc biệt, giúp tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên vượt qua sự khắc nghiệt của chiến tranh, duy trì phong trào và củng cố niềm tin của quần chúng.
Quan trọng hơn, sự hy sinh đã làm cho lý tưởng cách mạng trở nên cụ thể, có sức thuyết phục, bởi lý tưởng được thể hiện bằng trách nhiệm, sự tận tụy và những việc làm thiết thực.
Thứ ba, văn hóa gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân.
Văn hóa Đảng trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc còn được thể hiện sâu sắc ở mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân. Đảng ra đời từ phong trào cách mạng của quần chúng, đồng thời xác định mục tiêu hoạt động là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, đem lại độc lập, tự do và cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân. Vì vậy, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mối quan hệ gắn bó về mục tiêu, lợi ích, trách nhiệm và niềm tin.
Trong thực tiễn hoạt động, cán bộ, đảng viên phải hòa mình vào đời sống của nhân dân, sâu sát cơ sở, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những yêu cầu bức thiết của quần chúng.
Từ thực tiễn đó, Đảng từng bước tuyên truyền, giác ngộ, tổ chức và phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Công tác vận động quần chúng không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt chủ trương, mà còn đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải bằng hành động cụ thể chứng minh tính đúng đắn của đường lối, thể hiện sự gần gũi, tin cậy và trách nhiệm đối với nhân dân.
Dựa vào nhân dân là phương thức để xây dựng lực lượng, tạo dựng phong trào và bảo đảm sức sống của cách mạng. Trong điều kiện bị kẻ thù đàn áp, sự che chở, đùm bọc, nuôi dưỡng và giúp đỡ của nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức cách mạng.
Mối quan hệ ấy được hình thành, củng cố trên cơ sở sự thống nhất về lợi ích và sự kiểm chứng bằng thực tiễn: cán bộ, đảng viên sống trong nhân dân, chiến đấu vì nhân dân, chia sẻ gian khổ với nhân dân và đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân.
Từ đó, văn hóa Đảng được biểu hiện ở tinh thần tôn trọng nhân dân, tin dân, học dân và dựa vào dân; đồng thời, ở trách nhiệm phục vụ nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đây là một trong những cơ sở quan trọng tạo nên sự bền chặt giữa Đảng với nhân dân, giúp cách mạng hình thành lực lượng rộng lớn và vượt qua những thử thách kéo dài.
Thứ tư, văn hóa tiên phong, tổ chức và dẫn dắt dân tộc.
Văn hóa Đảng thể hiện ở vai trò tiên phong trong nhận thức, tổ chức và hành động cách mạng. Đi trước không chỉ có nghĩa là sẵn sàng nhận phần khó khăn, gian khổ, mà còn là khả năng nhận diện đúng yêu cầu lịch sử, xác định đúng nhiệm vụ chủ yếu, lựa chọn phương pháp phù hợp và tổ chức lực lượng để biến mục tiêu chính trị thành phong trào hành động của quần chúng.
Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng từng bước xác định đường lối cách mạng phù hợp với đặc điểm cụ thể của Việt Nam, kết hợp nhiệm vụ giải phóng dân tộc với những mục tiêu lâu dài của cách mạng.
Đảng đồng thời chú trọng xây dựng tổ chức, phát triển lực lượng, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân và tranh thủ những điều kiện thuận lợi của tình hình quốc tế.
Năng lực lãnh đạo còn được thể hiện ở khả năng kết hợp giữa kiên định về nguyên tắc với linh hoạt về sách lược; giữa ý chí chủ động với khả năng nắm bắt thời cơ; giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Tính tiên phong ấy được thể hiện trong sự thống nhất giữa đường lối và tổ chức thực hiện. Đảng đề ra chủ trương, đồng thời trực tiếp xây dựng lực lượng, đào tạo cán bộ, tổ chức phong trào, phát huy vai trò của các tầng lớp nhân dân và chịu trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc.
Qua đó, văn hóa tiên phong của Đảng gắn liền với tinh thần trách nhiệm, năng lực tổ chức và khả năng biến nhận thức chính trị thành hành động thực tiễn.
Thứ năm, văn hóa đoàn kết, kỷ luật và giữ gìn sự thống nhất trong Đảng.
Trong hoàn cảnh đấu tranh lâu dài, phức tạp và đầy nguy hiểm, đoàn kết, kỷ luật và thống nhất có ý nghĩa sống còn đối với tổ chức cách mạng.
Đoàn kết trong Đảng được xây dựng trên nền tảng mục tiêu, lý tưởng, nguyên tắc tổ chức và lợi ích chung của dân tộc. Sự thống nhất đó tạo nên sức mạnh để tổ chức đảng vượt qua những khác biệt, khắc phục khó khăn và bảo đảm sự thống nhất trong hành động.
Văn hóa đoàn kết trong Đảng được thể hiện ở tinh thần đồng chí, đồng đội; sự tương trợ, chia sẻ và bảo vệ lẫn nhau; ý thức đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.
Trong điều kiện hoạt động bí mật, kỷ luật tổ chức là yêu cầu đặc biệt nghiêm ngặt, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải có ý thức tự giác, chấp hành sự phân công, giữ gìn bí mật và đặt mình trong sự lãnh đạo của tổ chức.
Cùng với đó, Đảng từng bước phát huy dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình, nhận diện và sửa chữa khuyết điểm, củng cố sự thống nhất về tư tưởng và hành động.
Sự kết hợp giữa dân chủ và kỷ luật, giữa trách nhiệm tập thể và trách nhiệm cá nhân, đã góp phần hình thành phương thức tổ chức phù hợp với yêu cầu lãnh đạo cách mạng trong những điều kiện đặc biệt./.
Kỳ 2: Văn hóa đổi mới trong Đảng - từ bước ngoặt tư duy đến những thành tựu phát triển đất nước
_________
[1] Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 458
[2] Xem: Nguyễn Quang Ngọc: “Nhận diện văn hóa Đảng”, Trang thông tin điện tử tổng hợp Ban Nội chính Trung ương, ngày 6-2-2019
[3] Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 81
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 51
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 84