Văn hóa - Xã hội

Mô hình “Làng hạnh phúc” kiến tạo hệ sinh thái chăm sóc và phát triển năng lực cống hiến của người cao tuổi

Hiếu Giang • 24/09/2026 11:15

Già hóa dân số đang đặt ra yêu cầu đổi mới cách tổ chức đời sống và hệ thống an sinh dành cho người cao tuổi. “Làng hạnh phúc” gợi mở một cách tiếp cận mới: từ chăm sóc bị động sang kiến tạo hệ sinh thái an sinh đa tầng, tạo điều kiện để người cao tuổi được già hóa tại chỗ, sống an toàn, kết nối, có quyền lựa chọn và tiếp tục đóng góp cho cộng đồng.

tuoi-gia.jpg
Goodwin Allied Health (Australia) - mô hình kết hợp nhà ở độc lập, chăm sóc tại nhà, hỗ trợ sức khỏe và chăm sóc nội trú, tạo điều kiện để người cao tuổi duy trì cuộc sống tự chủ, an toàn và gắn kết cộng đồng.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tiếp cận “già hóa khỏe mạnh” (Healthy Ageing) theo hướng tạo điều kiện để người cao tuổi duy trì năng lực chức năng, sống tự chủ và tiếp tục tham gia đời sống xã hội.

Theo đó, chất lượng tuổi già không chỉ được quyết định bởi tình trạng sức khỏe, mà còn gắn với môi trường sống, các mối quan hệ xã hội, cơ hội học tập và khả năng tiếp tục đóng góp cho cộng đồng.

Từ cách tiếp cận này, nhiều quốc gia đã phát triển các mô hình cộng đồng sống dành cho người cao tuổi, như Retirement Living Community, Retirement Village ở Australia và một số quốc gia phát triển.

Tiêu biểu là Goodwin tại Australia, với mô hình kết hợp nhà ở độc lập, chăm sóc tại nhà, hỗ trợ sức khỏe và chăm sóc nội trú, tạo điều kiện để người cao tuổi duy trì cuộc sống tự chủ, an toàn và gắn kết cộng đồng[1].

Từ kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam đang nghiên cứu phát triển mô hình “Làng Hạnh phúc” dành cho người cao tuổi theo hướng không đơn thuần là cơ sở dưỡng lão, mà là một cộng đồng sống chủ động, an toàn, thân thiện và gắn kết.

Đáng chú ý, năm 2026, Chính phủ đã giao Bộ Y tế chủ trì xây dựng Nghị quyết thí điểm về các cơ sở y tế phức hợp, chăm sóc người cao tuổi và “Làng Hạnh phúc” theo chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm[2].

Theo định hướng này, “Làng Hạnh phúc” có thể tích hợp nhà ở, chăm sóc sức khỏe, sinh hoạt cộng đồng, văn hóa, thể thao và không gian xanh; đồng thời tạo điều kiện để người cao tuổi học tập, giao lưu, truyền nghề, tư vấn, nghiên cứu, tình nguyện và tham gia các hoạt động kinh tế phù hợp.

Qua đó, người cao tuổi không chỉ là đối tượng được chăm sóc mà còn là chủ thể tiếp tục phát huy tri thức, kinh nghiệm, sống có ích, giảm sự cô đơn và đóng góp cho cộng đồng, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế bạc trong bối cảnh già hóa dân số.

Cần tiếp sức khi “già cậy con”

Trong truyền thống của người Việt Nam, việc chăm sóc cha mẹ khi tuổi cao là trách nhiệm gia đình, biểu hiện của chữ hiếu và sự gắn kết giữa các thế hệ. “Trẻ cậy cha, già cậy con” không chỉ là quan niệm sống, mà còn phản ánh một mô hình an sinh tồn tại bền bỉ trong xã hội Việt Nam.

Cấu trúc dân số, gia đình và đời sống xã hội đang thay đổi nhanh chóng với tuổi thọ tăng, số người cao tuổi ngày càng lớn, quy mô gia đình thu nhỏ, lao động trẻ di cư, nhịp độ công việc ngày càng cao...

Bởi vậy, bài toán của một xã hội già hóa không chỉ là có thêm bao nhiêu cơ sở dưỡng lão, giường bệnh hay mức trợ cấp được nâng lên thế nào.

Câu hỏi lớn hơn là: làm thế nào để người cao tuổi không chỉ sống lâu hơn, mà còn sống khỏe mạnh, an toàn, ít cô đơn và tiếp tục cảm nhận được giá trị của mình trong gia đình và xã hội? Đây cũng là điểm xuất phát để ra đời mô hình “Làng hạnh phúc dành cho người cao tuổi”.

“Làng hạnh phúc” không nên được hiểu như một khu dân cư khép kín dành riêng cho tuổi già, càng không phải tên gọi khác của viện dưỡng lão. Điều cần hướng tới là một hệ sinh thái chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi, trong đó gia đình là điểm tựa, cộng đồng là nền tảng, hệ thống dịch vụ là công cụ hỗ trợ và người cao tuổi là chủ thể.

Cách tiếp cận này giải quyết một vấn đề có ý nghĩa văn hóa - xã hội sâu sắc: vừa giữ gìn đạo lý kính già, hiếu nghĩa và sự gắn kết gia đình, vừa phát triển hệ thống dịch vụ chuyên nghiệp phù hợp với xã hội hiện đại.

Phát triển dịch vụ chăm sóc không nhằm thay thế trách nhiệm của con cháu, mà để tiếp sức cho gia đình thực hiện tốt hơn trách nhiệm ấy.

Điều cần thay đổi vì thế không chỉ là số lượng cơ sở chăm sóc, mà trước hết là tư duy về an sinh tuổi già: từ chăm sóc khi con người đã suy giảm sức khỏe sang chủ động chuẩn bị môi trường để họ duy trì khả năng sống độc lập; từ coi người cao tuổi chủ yếu là đối tượng thụ hưởng sang nhìn nhận họ là một chủ thể của đời sống xã hội.

doan-cong-tac-tap-chi.jpg
Đoàn nghiên cứu của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đến thăm làng Goodwin, Australia, cuối năm 2024_Ảnh: H.G

“Già hóa tại chỗ” - cốt lõi của “Làng hạnh phúc”

Nhắc đến “làng dành cho người cao tuổi”, người ta dễ hình dung một khuôn viên riêng biệt với nhà ở, phòng y tế, khu sinh hoạt chung và người cao tuổi sống tập trung.

Nhưng nếu chỉ như vậy, “Làng hạnh phúc” rất dễ trở thành một phiên bản khác của cơ sở dưỡng lão. Điểm mới của mô hình nằm ở triết lý “già hóa tại chỗ” - tạo điều kiện để người cao tuổi được sống lâu nhất có thể trong ngôi nhà, khu dân cư và những quan hệ xã hội vốn quen thuộc.

Theo cách tiếp cận đó, “làng” không nhất thiết phải có cổng hay hàng rào, cũng không nhất thiết nằm trên một khu đất riêng biệt. Đó có thể là khu dân cư hiện hữu, nhưng được tổ chức theo hướng thân thiện hơn với tuổi già: nhà ở an toàn hơn; đường đi và không gian công cộng thuận tiện; y tế cơ sở quản lý sức khỏe; câu lạc bộ duy trì hoạt động thể chất, văn hóa và giao tiếp; tình nguyện viên hỗ trợ người sống một mình; dịch vụ tại nhà dành cho người suy giảm chức năng…

Khi nhu cầu chăm sóc tăng lên, mạng lưới ấy kết nối với chăm sóc ban ngày, phục hồi chức năng, chăm sóc ngắn hạn, nội trú hoặc chăm sóc giảm nhẹ.

Nhờ đó, thay vì chỉ có 2 lựa chọn “ở nhà” hoặc “viện dưỡng lão”, người cao tuổi và gia đình có nhiều tầng dịch vụ phù hợp với sức khỏe, khả năng tự chăm sóc, hoàn cảnh và điều kiện kinh tế.

Chẳng hạn, với chăm sóc ban ngày, người cao tuổi được kiểm tra sức khỏe, vận động, phục hồi chức năng, giao lưu và tham gia hoạt động văn hóa vào ban ngày, sau đó trở về gia đình.

Cách làm này vừa giúp giảm cô đơn, duy trì sức khỏe, vừa giảm áp lực cho con cháu trong thời gian ban ngày mà không tách người cao tuổi khỏi môi trường gia đình.

Xã hội phải nhận thức người cao tuổi không phải một nhóm người đồng nhất. Người còn khỏe, vẫn lao động có nhu cầu khác người suy giảm chức năng; người sống cùng con cháu khác người sống một mình; người có nguồn thu nhập ổn định khác người phụ thuộc.

Có người chỉ cần không gian giao lưu, có người cần theo dõi sức khỏe, có người cần hỗ trợ vài giờ mỗi ngày, cũng có người cần chăm sóc chuyên nghiệp thường xuyên hay có người cần hỗ trợ tài chính để bảo đảm nhu cầu ăn ở hằng ngày... Vì thế, một mô hình lấy người cao tuổi làm trung tâm phải tôn trọng nhu cầu, hoàn cảnh và quyền lựa chọn cách sống của mỗi người.

Đặc biệt, chăm sóc tuổi già không chỉ là chăm sóc sức khỏe. Một nguy cơ âm thầm nhưng ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng cuộc sống là sự cô đơn và thu hẹp các mối quan hệ xã hội.

Có người sống một mình nhưng vẫn có đời sống xã hội phong phú; ngược lại, có người sống giữa đại gia đình nhưng cả ngày khó có một cuộc trò chuyện thăm hỏi.

Do đó, chống cô đơn không chỉ dừng ở thăm hỏi hay các hoạt động phong trào. Điều quan trọng hơn là duy trì các mối quan hệ và khôi phục vai trò xã hội của người cao tuổi.

Một câu lạc bộ sở thích, nhóm tập thể dục, lớp kỹ năng số, công việc phù hợp hay cơ hội truyền nghề cho lớp trẻ có thể mang lại ý nghĩa lớn. Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau cũng có thể trở thành “hạt nhân xã hội” của “Làng hạnh phúc”: người còn khỏe hỗ trợ người yếu; người trẻ giúp người cao tuổi tiếp cận công nghệ và dịch vụ; người cao tuổi truyền kinh nghiệm, kỹ năng và vốn sống cho thế hệ trẻ.

Khi đó, người cao tuổi không còn chỉ là “đối tượng nhận hỗ trợ”, mà trở thành chủ thể tham gia giải quyết các vấn đề của cộng đồng. Đây chính là bước chuyển từ “chăm sóc tuổi già” sang “già hóa khỏe mạnh”.

Công nghệ có thể hỗ trợ theo dõi sức khỏe, cảnh báo té ngã, nhắc uống thuốc và kết nối với gia đình. Nhưng công nghệ không thể thay thế quan hệ giữa con người với con người.

Một thiết bị có thể cảnh báo bất thường về sức khỏe, nhưng không thể thay một người ngồi xuống trò chuyện. Bởi vậy, công nghệ trong “Làng hạnh phúc” phải phục vụ kết nối mọi người.

cham-soc(1).webp
Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội Đinh Hồng Phong phát biểu tại lễ ra mắt Cơ sở "Chăm sóc người cao tuổi ban ngày" phường Bồ Đề, thành phố Hà Nội, ngày 16-9-2026_Ảnh: nguoiduatin.vn

Để mỗi cộng đồng trở thành nơi đáng sống

Tên gọi “Làng hạnh phúc” giàu tính nhân văn, nhưng nếu không có tiêu chí cụ thể, “hạnh phúc” rất dễ trở thành khái niệm chung chung. Một mô hình thành công không chỉ bởi cơ sở vật chất khang trang hay số lượng hoạt động được tổ chức.

Điều cần đo lường là những thay đổi thực tế trong cuộc sống người cao tuổi: sức khỏe và khả năng tự chăm sóc có được duy trì không; mức độ cô đơn có giảm không; họ có được tham gia vào đời sống xã hội, cảm thấy an toàn và được tôn trọng không; gia đình có giảm áp lực chăm sóc không; dịch vụ có phù hợp khả năng chi trả không; người cao tuổi có được lựa chọn và tham gia quyết định những vấn đề liên quan đến họ không?

Từ đó, cần xây dựng bộ tiêu chí gồm các nhóm về sức khỏe và khả năng hoạt động; an toàn nhà ở và môi trường sống; an sinh kinh tế; tiếp cận y tế và dịch vụ xã hội; quan hệ gia đình và xã hội; đời sống văn hóa, tinh thần; mức độ tham gia cộng đồng; quyền lựa chọn và mức độ hài lòng.

Bộ tiêu chí không nhằm “chấm điểm hạnh phúc” của từng cá nhân, mà để xác định một cộng đồng đã thực sự thân thiện với người cao tuổi hay chưa, qua đó tránh tình trạng xây dựng mô hình theo phong trào.

Muốn mô hình tồn tại bền vững, có khả năng nhân rộng cần hành lang pháp lý, nguồn tài chính, nhân lực chăm sóc chuyên nghiệp, cơ chế phối hợp liên ngành và kiểm soát chất lượng dịch vụ.

Việt Nam có lợi thế từ truyền thống gia đình, làng xã, tinh thần tương thân tương ái và mạng lưới tổ chức người cao tuổi rộng khắp. Vì vậy, “Làng hạnh phúc” có thể hình thành từ chính các nguồn lực đang có trong cộng đồng: trạm y tế, nhà văn hóa, thiết chế cộng đồng, Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau, Hội Người cao tuổi, mạng lưới tình nguyện viên, gia đình và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ...

Một số cơ sở, trụ sở hành chính dôi dư có thể nghiên cứu chuyển đổi thành điểm sinh hoạt, chăm sóc ban ngày hoặc phục hồi chức năng.

Trong cấu trúc đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo: hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng tiêu chuẩn, phát triển nhân lực, kiểm soát chất lượng và bảo vệ người sử dụng; đồng thời tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội.

Chính sách cũng bảo đảm người nghèo, người sống một mình, người khuyết tật và các nhóm dễ bị tổn thương không ai bị bỏ lại phía sau.

Quan trọng hơn, người cao tuổi phải được tham gia ngay từ đầu trong các khâu: xây dựng, quản lý, giám sát và đánh giá mô hình. Không thể xây dựng một “Làng hạnh phúc” cho người cao tuổi mà tiếng nói của họ lại đứng ngoài quá trình đó.

Giá trị lớn nhất của “Làng hạnh phúc” là mỗi khu dân cư, mỗi phường, xã từng bước trở thành một cộng đồng đáng sống - nơi tuổi già không rời khỏi đời sống xã hội; gia đình không đơn độc gánh trách nhiệm chăm sóc; người suy giảm sức khỏe được hỗ trợ kịp thời, người khỏe mạnh tiếp tục được học tập, lao động, truyền nghề và đóng góp.

“Làng hạnh phúc” phải là một hệ sinh thái an sinh để sống thọ thực sự trở thành thành quả của phát triển, những năm tháng tuổi già được bồi đắp bằng sức khỏe, sự kết nối, phẩm giá và ý nghĩa./.

______

(1) Goodwin là tổ chức phi lợi nhuận hoạt động trong lĩnh vực người cao tuổi tại Australia từ năm 1954, cung cấp hệ thống dịch vụ từ cộng đồng hưu trí, chăm sóc tại nhà, hỗ trợ sức khỏe đến chăm sóc nội trú, với định hướng giúp người cao tuổi sống độc lập, gắn kết và tiếp tục phát triển.

(2) Xem: Luân Dũng, “Chính phủ sẽ có nghị quyết thí điểm về cơ sở y tế phức hợp, chăm sóc người cao tuổi”, Báo Tiền phong online, ngày 11-3-2026, https://tienphong.vn/chinh-phu-se-co-nghi-quyet-thi-diem-ve-co-so-y-te-phuc-hop-cham-soc-nguoi-cao-tuoi-post1826548.tpo

Hiếu Giang