Công nghiệp chế biến, chế tạo: Gia tăng giá trị nội địa cho tăng trưởng 2 con số
Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò lớn trong sản xuất công nghiệp và xuất khẩu. Nhưng trước yêu cầu tăng trưởng 2 con số, chỉ tăng sản lượng hoặc kim ngạch là chưa đủ. Phần giá trị được tạo ra trong nước phải tăng lên cùng với tốc độ mở rộng sản xuất. Đó là lý do công nghiệp hỗ trợ, năng lực doanh nghiệp nội địa và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất cần được đặt đúng vị trí trong mô hình tăng trưởng mới.

Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực
Trong các động lực của tăng trưởng, công nghiệp chế biến, chế tạo có vị trí trực tiếp. Đây là khu vực tạo ra sản phẩm công nghiệp, đơn hàng xuất khẩu, việc làm và năng lực tham gia chuỗi cung ứng. Một nền kinh tế muốn tăng tốc cần một khu vực sản xuất đủ mạnh, đủ rộng và đủ sức đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Số liệu 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng khá. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4%, đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp.
Ở góc độ giá trị tăng thêm, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,23%, đóng góp 33,07% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế.
Kết quả khảo sát doanh nghiệp cũng cho thấy hoạt động sản xuất khả quan hơn. Cục Thống kê cho biết, công suất bình quân của doanh nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II-2026 đạt 75,5%; có 75,0% số doanh nghiệp sử dụng công suất từ 70% trở lên.
Công suất được khai thác ở mức cao hơn thường gắn với đơn hàng, khả năng duy trì sản xuất và mức độ vận hành dây chuyền của doanh nghiệp.
Ở chiều xuất khẩu, vai trò của khu vực chế biến, chế tạo thể hiện rõ. Theo Bộ Công Thương, 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hàng hóa đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước; riêng nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 239,8 tỷ USD, chiếm 90,0% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đây là những tín hiệu tích cực.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào tốc độ tăng của sản xuất và kim ngạch xuất khẩu, bức tranh công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn chưa đủ toàn diện.
Xuất khẩu tăng là cần thiết, nhưng doanh nghiệp trong nước tham gia được vào khâu nào của chuỗi sản xuất, làm chủ được bao nhiêu về công nghệ, tiêu chuẩn, chất lượng và nguồn cung mới là câu hỏi quan trọng.
Một nền công nghiệp có quy mô xuất khẩu lớn nhưng chủ yếu đứng ở khâu gia công, lắp ráp, phụ thuộc nhiều vào nguyên phụ liệu, linh kiện và thiết bị nhập khẩu sẽ khó tạo ra sức bật tương xứng.
Công nghiệp chế biến, chế tạo, vì thế, không thể chỉ lớn lên ở khâu cuối của chuỗi sản xuất. Muốn nâng đỡ mục tiêu tăng trưởng 2 con số, khu vực này phải chuyển mạnh hơn từ tăng sản lượng sang tăng hàm lượng nội địa.
Phụ thuộc đầu vào và điểm nghẽn công nghiệp hỗ trợ
Ở chiều nhập khẩu, các số liệu cho thấy một vấn đề khác của sản xuất công nghiệp. Theo Bộ Công Thương, 6 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm trước; nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 266,4 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu.
Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 56,0%; nhóm nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 38,1%. Bộ Công Thương nhận định, nhập khẩu tăng chủ yếu ở nhóm máy móc, thiết bị, linh kiện và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, phản ánh xu hướng mở rộng năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Không nên nhìn nhập khẩu tư liệu sản xuất như một tín hiệu tiêu cực đơn thuần. Với một nền kinh tế mở, doanh nghiệp nhập máy móc, thiết bị, linh kiện, nguyên vật liệu để mở rộng sản xuất, chuẩn bị đơn hàng và tham gia thị trường thế giới là điều bình thường.
Vấn đề là năng lực cung ứng trong nước đã theo kịp đến đâu. Khi sản xuất tăng, xuất khẩu tăng, nhưng nhiều đầu vào quan trọng vẫn phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, phần giá trị giữ lại trong nước sẽ bị giới hạn.
Kim ngạch lớn chưa chắc đồng nghĩa với năng lực công nghiệp mạnh, nếu doanh nghiệp trong nước chủ yếu tham gia ở những khâu có giá trị thấp, còn các khâu vật liệu, linh kiện, thiết kế, kiểm định, dịch vụ kỹ thuật, thương hiệu và phân phối vẫn còn mỏng.
Điểm nghẽn này khó giải quyết hơn tăng sản lượng. Một số ngành xuất khẩu lớn cần khối lượng đầu vào rất lớn, từ nguyên phụ liệu, linh kiện đến thiết bị và công nghệ.
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa thể trở thành nhà cung ứng ổn định cho doanh nghiệp đầu chuỗi.
Rào cản không chỉ là quy mô vốn hay máy móc, mà còn là công nghệ, quản trị chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm, kỷ luật giao hàng và khả năng cải tiến liên tục.
Chuỗi sản xuất hiện đại đòi hỏi sự ổn định. Chất lượng không đều, giao hàng chậm, chi phí cao, thiếu khả năng truy xuất nguồn gốc hoặc chưa đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật đều có thể khiến doanh nghiệp khó đi xa hơn vai trò gia công đơn giản.
Vì vậy, nâng hàm lượng nội địa không phải là khép kín sản xuất hay thay thế nhập khẩu bằng mọi giá. Đúng hơn, đó là quá trình đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn và ở vị trí có giá trị hơn trong chuỗi sản xuất.
Từ chỗ chủ yếu cung cấp lao động, mặt bằng hoặc dịch vụ đơn giản, doanh nghiệp trong nước cần từng bước tham gia vào cung ứng vật liệu, linh kiện, phụ tùng, thiết kế, kiểm định, bảo trì, dữ liệu sản xuất và thương hiệu. Chất lượng tăng trưởng công nghiệp sẽ được quyết định nhiều ở những khâu này.

Đưa công nghiệp hỗ trợ vào sâu hơn trong chuỗi giá trị
Công nghiệp hỗ trợ chỉ phát triển được khi gắn với sản phẩm cụ thể, doanh nghiệp cụ thể, tiêu chuẩn cụ thể và đơn hàng cụ thể. Không có đơn hàng và tiêu chuẩn, hỗ trợ dễ dừng ở đào tạo, hội thảo hoặc kết nối hình thức.
Ngày 25-5-2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035.
Quyết định này xác định công nghiệp hỗ trợ là nền tảng phát triển công nghiệp quốc gia bền vững, tự chủ và hiện đại; phát triển công nghiệp hỗ trợ để hình thành năng lực sản xuất trong nước, nâng cao khả năng tự chủ về công nghiệp, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng, thiết bị đầu vào, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Điểm đáng chú ý là chương trình đặt yêu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ theo chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực; lấy yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và tỷ lệ nội địa hóa của doanh nghiệp dẫn dắt làm định hướng cho hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.
Cách tiếp cận này sát với sản xuất hơn. Hỗ trợ doanh nghiệp phải bắt đầu từ nhu cầu thật của chuỗi: doanh nghiệp đầu chuỗi cần gì, sản phẩm nào trong nước có thể làm được, tiêu chuẩn nào còn thiếu, khâu nào cần thử nghiệm, doanh nghiệp nào có khả năng nâng cấp thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2.
Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030, một số ngành công nghiệp chủ lực đạt tỷ lệ nội địa hóa bình quân 40% - 45%, chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN. Các chỉ tiêu cụ thể theo ngành, gồm: điện tử đạt 25% - 30%, cơ khí chế tạo đạt 40%, ô tô đạt 22% - 30%, dệt may đạt 60%, da giày đạt 60% - 65%, công nghiệp công nghệ cao đạt 15%.
Những mục tiêu này không tự chuyển thành kết quả. Với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, điểm yếu thường nằm ở những khâu rất cụ thể: quản trị sản xuất, kiểm soát chất lượng, thử nghiệm sản phẩm, đào tạo nhân lực kỹ thuật, đổi mới công nghệ và kết nối nhà mua hàng.
Một doanh nghiệp muốn trở thành nhà cung ứng không chỉ cần thêm máy móc; họ cần một hệ thống vận hành đủ tin cậy để doanh nghiệp đầu chuỗi có thể đặt hàng lâu dài.
Liên kết giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước, vì vậy, cần được nhìn từ góc độ sản xuất, không chỉ từ góc độ thu hút vốn.
Doanh nghiệp đầu chuỗi có thể đặt hàng, chuyển giao tiêu chuẩn, hướng dẫn cải tiến quy trình, tạo cơ hội thử nghiệm sản phẩm. Doanh nghiệp trong nước phải chủ động nâng cấp công nghệ, nhân lực, kỷ luật sản xuất và khả năng đáp ứng đơn hàng.
Không gian liên kết cũng cần được tổ chức tốt hơn. Công nghiệp hỗ trợ khó phát triển nếu doanh nghiệp nằm rời rạc, thiếu trung tâm kiểm định, thiếu cơ sở đào tạo, thiếu thông tin về nhu cầu của doanh nghiệp đầu chuỗi.
Cụm liên kết ngành, khu công nghiệp chuyên sâu, trung tâm logistics, cơ sở đào tạo nghề, viện nghiên cứu, phòng thử nghiệm và hệ thống dữ liệu nhà cung ứng cần được kết nối chặt hơn với nhu cầu sản xuất.
Chuyển đổi số có thể hỗ trợ trực tiếp cho quá trình này. Với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, số hóa quy trình sản xuất, quản lý kho, quản lý đơn hàng, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và kết nối khách hàng giúp giảm sai lỗi, rút ngắn thời gian, tăng độ tin cậy. Đây không phải là câu chuyện xa vời, mà là điều kiện để doanh nghiệp bước vào chuỗi cung ứng hiện đại.
Từ góc độ tăng trưởng, cần chuyển mạnh cách nhìn từ “tăng kim ngạch” sang “tăng giá trị tạo ra trong nước”. Xuất khẩu vẫn là động lực lớn, nhưng xuất khẩu chỉ thật sự tạo nền tảng bền vững cho tăng trưởng cao khi đi cùng tỷ lệ nội địa hóa cao hơn, năng lực công nghệ tốt hơn, nhiều nhà cung ứng trong nước hơn và vị trí tốt hơn của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị.
Tăng trưởng 2 con số không thể chỉ dựa vào việc sản xuất nhiều hơn. Công nghiệp chế biến, chế tạo cần tạo ra nhiều giá trị hơn trong nước. Khi công nghiệp hỗ trợ đi vào từng chuỗi sản xuất, từng sản phẩm và từng đơn hàng cụ thể, phần giá trị được giữ lại trong nền kinh tế sẽ lớn hơn.
Đây là điều kiện quan trọng để tăng trưởng cao đi cùng với nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam./.